Judah có xe lăn mới. Đó là một chiếc xe lăn điện, chỉ cần bấm nút là xe tự chạy.
“Có người giấu tên quyên tặng nó cho trung tâm.” Cậu nói trong khi quay xe không ngừng khiến tôi chóng cả mặt. “Tôi không thích đâu, nhưng trông bà giám đốc như muốn khóc đến nơi lúc cho tôi xem cái xe ấy nên mới đành nhận. Chỉ việc ngồi lên xe bấm nút là chạy thì có khác gì đứa lười chảy thây đâu chứ.” Tôi liếc nhìn chiếc xe cũ của cậu như đang ngơ ngác, buồn rầu vì bị bỏ lại trên thảm cỏ.
“Có lẽ cậu nên tập tạ. Hai cái móng giò của cậu là của quý, không thể để mất.” Tôi đề xuất.
“Hai bắp tay!” Judah giả vờ khó chịu, nhưng tôi có thể thấy là cậu cũng vui. “Cậu coi tôi như miếng thịt béo bở thế hả?” Cậu phàn nàn.
“Để xem nó có chở được cả hai chúng ta không nào.” Tôi mặc kệ Judah và cứ thế ngồi lên đùi cậu dù không hề được mời.
“Tôi gãy xương vì cậu mất.” Judah rên lên thảm thiết. Trong một khắc, đột nhiên những lời trêu chọc của đám bạn ở trường về ngoại hình béo ú của tôi cùng cảm giác xấu hổ vì chính bản thân mình bỗng chốc ùa về trong tâm trí tôi. Cũng là trêu đùa mà lời đùa của Judah nghe dễ chịu biết bao.
Tôi xoay vòng và nhìn cậu. “Làm sao cậu biết được? Chân cậu có cảm giác gì đâu.”
“Ồ phải.” Cậu tinh nghịch nói. “Thử thì biết.”
“Cứ việc!” Tôi vung nắm tay lên không trung, rồi chúng tôi cùng tiến ra vỉa hè. Chỉ khi bạn là người đẩy xe lăn hoặc là người ngồi trên xe lăn, bạn mới hiểu được vỉa hè lồi lõm thế nào. Dù đang di chuyển với tốc độ sên bò, nhưng tôi vẫn cố sống cố chết bám chặt vào chiếc xe vì sợ sẽ bị văng ra ngoài nếu lỡ có vấp vào vết lồi lõm nào đó trên vỉa hè. Có một cặp đôi đang ngồi trên ghế đá ngoài thảm cỏ nhà của đám lưu manh. Họ giơ chai lên reo hò khi thấy chúng tôi lướt qua. Suốt cả chuyến thám hiểm đường phố đầy thót tim ấy, tôi đã cảm nhận được tất cả - từ cảm giác ấm áp khi hai cánh tay Judah vòng qua eo tôi, khi cậu nghiêng đầu quanh cánh tay tôi để nhìn đường đến ánh nắng dịu dàng khẽ ve vuốt trên da thịt hai đứa. Chúng tôi dừng lại khi đến “hố đen sự sống”. Tôi chợt thấy bồn chồn khi nhìn căn nhà ở khoảng cách gần thế này trong khi vẫn đang ngồi trong lòng Judah. Cậu ấy nhìn ngôi nhà hoang tàn, lụp xụp. Ánh mắt cậu nấn ná mãi trên tờ báo che phủ cái lỗ trên cửa sổ phòng tôi.
“Trông ghê quá.” Cậu nói. “Cảm tưởng như ngôi nhà đang nhìn tôi chứ không phải tôi nhìn nó vậy.” Judah lơ đãng cho xe di chuyển lên xuống trong khi tôi đứng bên cạnh cậu, cùng chiêm ngưỡng ngôi nhà quỷ quái. Tôi rất ghét “hố đen sự sống”, nhưng lại hơi khó chịu khi nghe lời nhận xét của Judah. Đột nhiên tôi lại thấy cần nói gì đó để bào chữa cho căn nhà này.
“Nó... không tệ vậy đâu.” Dù ngoài miệng nói vậy, nhưng tôi vẫn cảm nhận được mùi ẩm mốc cùng cảm giác lạnh lẽo ghê rợn truyền qua những bức tường vào ban đêm. “Thực ra nó rất tệ.” Tôi thừa nhận. “Đêm nào tôi cũng cảm thấy như có ai đó đang theo dõi mình, còn sàn gỗ thì lởm chởm đầy dằm và rác rưởi.”
“Ồ, rác rưởi.” Judah nói. “Được rồi! Lên nào, chúng ta quay lại thôi!”
Dù Judah có bảo tôi ngồi lên, nhưng tôi vẫn quyết định đi bộ bên cạnh cậu. Tiếng chiếc xe lăn kêu rền làm tôi liên tưởng đến tiếng cánh quạt máy bay trực thăng từ xa. Khi đi qua căn nhà của đám người lưu manh, Judah chợt chỉ tôi thấy một tờ hai mươi đô la rơi trên vỉa hè. Tôi cúi xuống nhặt tờ tiền lên, ánh mắt liếc về phía ngôi nhà như thể có người đang chạy ra đòi tiền lại.
“Ai nhặt được thì người đó giữ.” Judah nói. Tờ tiền có hơi ướt. Có người đã vẽ một cặp sừng lên phần đầu của ngài Andrew Jackson kèm theo dòng chữ Quỷ tha ma bắt nước Mỹ đi ngay phía dưới bằng mực đỏ. Bỗng nhiên, ký ức về lần gặp cuối cùng với Nevaeh chợt dồn về trong tâm trí tôi.
Cô bé Nevaeh mất tích cùng với chiếc ba lô Hello Kitty của mình. Trong ba lô có một chú gấu bông để sâu dưới đáy cùng một chiếc ví hồng có mười tờ một đô la được gấp nếp cẩn thận. Nevaeh không có cơ hội dùng đến mười đô này vì chỉ chưa đầy một tuần sau khi có được số tiền ấy, cô bé đã không còn tồn tại trên cõi đời này nữa. Tôi vẫn nhớ lúc cô bé lục hộp bút lấy ra một chiếc bút dạ màu tía và vẽ trái tim lên góc từng tờ tiền được bà thưởng cho. Tôi cũng vẫn nhớ lúc ấy đã cho rằng hành động đó của cô bé là kỳ quặc mà cũng rất đỗi đáng yêu. Trước khi xe buýt đến trạm dừng của Nevaeh, cô bé còn vuốt phẳng xấp tiền lại rồi cẩn thận bỏ vào ví. Tôi chia tay Nevaeh ở trạm dừng và còn tự hỏi cô bé sẽ sắm gì cho mình với mười đô la ấy, và cũng tưởng tượng nếu hồi bằng tuổi cô bé tôi có từng ấy tiền thì sẽ dùng để làm gì. Món tiền mười đô la quả là cả một gia tài lớn đối với một bé gái.
Có phải cô bé đã mất vào đúng ngày mất tích không? Gần như ngày nào tôi cũng nghĩ đến điều đó. Tôi đã hy vọng như thế. Tôi mong rằng kẻ cướp đi mạng sống của Nevaeh đã để cô bé được ra đi nhẹ nhàng. Cứ nghĩ đến cảnh cô bé tội nghiệp phải chịu đựng đau đớn là trái tim tôi như thắt lại. Tôi mong cô bé đã ra đi thật nhanh chóng mà không nhận thức được cái chết đến với mình. Thỉnh thoảng tôi lại mơ màng viển vông rằng mình tìm được Nevaeh trước khi kẻ khốn bệnh hoạn kia giết cô bé. Trong mơ, tôi thấy mình siết cổ kẻ ác đến chết rồi ẵm Nevaeh dậy và chạy đến nhà Judah. Sau đó chúng tôi sẽ cùng lên kế hoạch đưa cô bé rời khỏi khu Xương mãi mãi. Chúng tôi sẽ tới một nơi tươi sáng hơn, nơi vầng dương không bao giờ lặn. Nhưng giấc mơ chỉ là giấc mơ, sau khi giật mình tỉnh giấc, tôi thấy mình đang nằm dài trên đệm trừng mắt nhìn lên trần nhà. Lý trí tôi tự đánh động con tim rằng tất cả đã quá muộn, Nevaeh đáng yêu đã chết rồi.
Cảnh sát đang thẩm vấn vài kẻ tình nghi. Đó là tất cả những gì họ nói với chúng tôi: những đối tượng trong vòng nghi vấn. Trong tâm trí tôi, những kẻ tình nghi ấy hiện lên như những bóng đen vô diện. Không ai biết về quá trình cảnh sát khoanh vùng đối tượng tình nghi cũng như những cái tên bị đưa vào danh sách thẩm vấn. Nhưng tin tức về Nevaeh vẫn tràn ngập trên các trang tin quốc gia và tất cả mọi người đều đang hướng về khu Xương, do đó cần phải có tin tức tích cực về vụ án được tung ra. Chỉ thị... các thanh tra lúc nào cũng làm theo chỉ thị. Thậm chí có khá nhiều phóng viên nằm vùng ở khu Xương, họ mặc những bộ đồ kaki bó sát cùng áo sơ mi Oxford và đeo những chiếc túi xách lạ mắt. Trên mặt họ luôn hiện lên nét quyết tâm đầy cẩn trọng, như thể chính họ sẽ là người lật tẩy bộ mặt kẻ đã giết cô bé Nevaeh. Đôi khi tôi thấy họ trò chuyện với dân địa phương, cố gắng cóp nhặt mỗi nơi một ít để góp thành câu chuyện. Tôi luôn lẩn tránh họ. Trên gương mặt họ không hề thể hiện chút đau buồn, tuyệt vọng nào. Vậy nên tôi không tin được những con người ấy.
Một ngày tháng Một, trên đường đi làm, tôi có đi qua chỗ một người đàn ông đang đọc báo. Ngay trên trang nhất tờ báo là hình ảnh những gì còn sót lại từ chiếc ba lô Hello Kitty của Nevaeh. Ánh mắt tôi chạm rất nhanh vào bức ảnh nhỏ xíu ấy trước khi quay đi, trống ngực đập liên hồi. Lần cuối cùng tôi gặp Nevaeh đeo chiếc ba lô ấy, nó còn sạch sẽ sáng bóng, vậy mà giờ lớp nhựa trên ba lô đã bong hết ra và chuyển sang màu đen.
Tôi nhớ đến bím tóc xinh xắn của cô bé, liệu chúng có còn nguyên vẹn khi cảnh sát tìm thấy thi thể không? Tôi đã từng tết tóc cho cô bé, vậy mà sau đó không lâu cô bé đã chết.
Một tuần sau đó, tôi bắt gặp Lyndee Anthony đang đếm năm tờ giấy bạc một đô la và đưa cho nhân viên thu ngân tại siêu thị Wal-Mart, bình sữa mới mua kẹp dưới cánh tay. Dưới góc mỗi tờ tiền đều có hình trái tim màu đỏ tía. Tôi khẽ chạm vào sợi dây buộc tóc màu hồng trên cổ tay. Chính từ khoảng khắc ấy, tôi đã biết mình phải xử lý cô ta.