Đại Tần Đế Quốc 1: Hắc Sắc Liệt Biến

Lượt đọc: 459 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết 5
Bia Quốc Sỉ Máu Lệ Nhuốm Đầy

❊ ❊ ❊

Đất trời mịt mùng, mưa phùn lất phất, thành Lịch Dương buổi sớm mai lạnh lẽo tựa như tiết thu sang.

Trong thành Lịch Dương có một con phố nhỏ hẹp không tên. Nơi đây ở một người Tần có tuổi nổi tiếng, đó chính là Bạch Đà, người đã làm nghề thợ đá bốn mươi năm. Sáng sớm thức dậy, lão ngẩng đầu nhìn những đám mây đen kịt dày đặc, cúi đầu nhìn nền đất nện trong sân vẫn chưa lộ chút ánh sáng, thành kính quỳ dưới mái hiên nông của căn nhà đá cầu nguyện với trời: "Ông trời có đức hiếu sinh, cứ mưa cho tử tế đi, suốt mùa xuân qua chẳng có lấy giọt mưa nào. Bao giờ sân bãi này sáng lên, ông trời hãy hẵng nắng." Đúng lúc đó, lão nghe thấy tiếng gõ cửa "pạch, pạch, pạch", không nhẹ không nặng, rất có nhịp điệu. Lão cẩn trọng bước về phía cửa, cố hết sức không để mình bị trượt ngã. Dân gian người Tần có câu: "Nam té trời nắng, nữ té trời âm". Đàn ông mà ngã trong mưa thì trời sắp hửng nắng, thế thì làm sao được? Đợi lão từng bước cẩn thận đi tới cửa, kéo cánh cửa đá ra, lão sững sờ đứng đó ngẩn ngơ không thốt nên lời.

Một chiếc xe bò kéo theo một tảng đá lớn bọc trong vải đen, người dắt bò đánh xe là một lão giả tóc bạc trắng giống hệt lão. Phía sau xe đứng một chàng trai mặc áo vải thô màu đen. Lão giả đánh xe chắp tay hành lễ: "Dám hỏi ngài, có phải là lão nhân Bạch Đà?"

Trong thành Lịch Dương, người có xe bò tuyệt đối không phải nhà tầm thường. Lão vội vàng chắp tay: "Thợ đá Bạch Đà, bái kiến đại nhân."

"Ta muốn nhờ ngài khắc một tảng đá lớn, tiền công là một trăm đồng đao tệ cũ, không biết có được không?"

Khắc đá? Lão thợ đá cảm thấy kinh ngạc. Chinh chiến liên miên, người chết không đếm xuể, thây phơi hoang dã là chuyện thường tình, nào có ai lập bia khắc đá cho người chết bao giờ? Lão đã hai mươi năm rồi chưa từng khắc bia đá cho ai. Hôm nay người này muốn khắc đá, chẳng lẽ trong quốc phủ có nhân vật lớn nào băng hà? Hơn nữa tiền công cao gấp ba lần bình thường, dân thường nào có khí phách như thế? Lại thấy không đúng, việc khắc đá cho công thất, xưa nay đều là Lịch Dương lệnh phái lý trưởng truyền lệnh bắt lão vào cung phục dịch, nào có chuyện tự tìm đến tận cửa nhờ vả? Lão thợ đá trong lúc bàng hoàng không kịp nghĩ nhiều, cúi người thật sâu: "Việc tay chân thô kệch, sao dám nhận chữ 'nhờ'? Xin đại nhân đứng sang bên, để tôi gọi hàng xóm tới khiêng đá."

"Không phiền, không phiền, ta tự khiêng vào là được." Lão giả thong dong chắp tay, xoay người một cái, từ trên xe bò chuyển tảng đá lớn nằm ngang, hơi hạ thấp người, dựa lưng vào tảng đá, khẽ "hự" một tiếng, đã vác tảng đá lên vai. Lão Bạch Đà hoảng hốt vội vàng tránh đường, kinh ngạc trước việc lão giả trước mặt lại có sức mạnh kinh người như vậy, sơ ý một cái, chân dưới trượt, đã ngã sóng soài giữa sân. Lão Bạch Đà sợ hãi cuống cuồng quỳ trong bùn lạy trời, cao giọng cầu nguyện: "Ông trời ơi, tiểu dân vô ý trượt ngã, ngài không được vì thế mà không mưa đâu đấy!" Chàng trai áo đen đứng sau xe bò nãy giờ chưa nói câu nào bước nhanh tới đỡ lão: "Lão nhân gia, nam té trời nắng, nữ té trời âm, lão nhân gia té xuống thì trời mưa dầm. Cụ sợ ông trời không mưa ư?" Lão Bạch Đà không nhịn được cười khà khà: "Chàng trai à, ta thấy cậu tướng mạo quý nhân. Cậu giải lời nguyền này hay lắm, hay lắm! Người già té thì mưa dầm? Cậu cũng nghĩ ra được! Nước Tần ta không thể không có mưa." Chàng trai áo đen cười: "Lòng dân chính là lòng trời mà, ông trời còn có thể làm khác được sao? Lão nhân gia, vào nhà thôi, trong sân đang mưa đó." Lúc này, lão giả vác tảng đá đã bước những bước vững chãi tới gian xưởng khắc đá không cửa ở chính giữa, trong sân nhỏ lưu lại một hàng dấu chân sâu tới nửa thước! Lão giả dường như rất quen thuộc nơi này, chỉ cần hạ thấp người đã đặt tảng đá lên bệ gỗ thích hợp nhất để đục đẽo. Chàng trai áo đen đỡ lão Bạch Đà vào, lão giả áo đen đã đứng đó với vẻ khí định thần nhàn. Lão thợ đá nhìn từ đầu đến chân, ngạc nhiên không khép được miệng, cúi người thật sâu: "Lão ca, đúng là thiên nhân thần lực."

Lão giả áo đen cười nói: "Bạch đại ca, không dám nhận. Hãy xem tảng đá này đi."

Lão thợ đá đi tới trước giá đá liếc nhìn, đã thấy từ góc vải đen chưa bọc kín rằng tảng đá này không phải đá núi mới khai thác, mà là một phiến đá xanh cổ rất khó đục đẽo, không khỏi chắp tay hỏi: "Lão ca bao giờ quay lại lấy?"

"Xin Bạch đại ca làm ngay bây giờ, bọn ta ở đây chờ, khắc xong sẽ khiêng đi."

"Lão hủ đã nhiều năm không động đến búa đục dao khắc..." Lão Bạch Đà hơi bất an, thực sự sợ phụ lòng hai vị quý nhân trước mặt.

"Lão nhân gia, người trong nước nói cụ là quỷ phủ thần công, sẽ không sai sót đâu."

Nhìn ánh mắt tin tưởng của chàng trai trẻ, lão Bạch Đà lập tức tinh thần phấn chấn: "Được, mời hai vị ngồi nghỉ lát, để tôi xem văn tự." Nói xong lão thành thục tháo nút vải, liếc mắt nhìn qua, sắc mặt bỗng chốc biến đổi. Lão thợ đá tuy không thể gọi là người đọc sách, nhưng nghề thợ đá lâu năm tiếp xúc với bia văn, chữ nghĩa vẫn nhận biết được đôi chút. Hai chữ to bằng đấu trên phiến đá xanh rõ ràng là "Quốc sỉ"! Nhất thời lão thợ đá kinh tâm động phách - ai dám khắc loại bia văn này? Khắc "Quốc sỉ" lên bia đá để lưu truyền? Trong chớp mắt, lão thợ đá dường như đã hiểu ra điều gì, quay đầu quan sát một già một trẻ, thì thấy chàng trai áo đen cúi chào lão thật sâu, lặng lẽ nhìn lão.

Lão Bạch Đà cũng lặng lẽ xoay người, cởi bỏ bộ quần áo dính bùn nước, thay bằng chiếc quần da cừu cũ nát vẫn mặc khi làm thợ đá, cầm lấy búa sắt, đục và rìu đi tới trước phiến đá xanh. Khi ngồi xổm vắt chân lên phiến đá, hai tay lão run rẩy, đưa đục sắt lại gần chữ lớn, nhưng chần chừ mãi không dám hạ búa. Chàng trai áo đen đứng bên cạnh lão, trầm giọng hỏi: "Lão nhân gia, người Tần già đều nghĩ như vậy phải không?" Lão Bạch Đà đẫm lệ, lặng lẽ gật đầu.

"Vậy thì hạ búa đi, lão nhân gia."

"Keng——!" Nhát búa khai mở này chấn động cả nhà, dư âm vang vọng hồi lâu. Những giọt nước mắt lớn của lão thợ đá rơi xuống theo tiếng búa sắt văng tung tóe trên phiến đá, trên tấm lưng trần rịn ra những giọt mồ hôi, đôi cánh tay gân xanh nổi cuồn cuộn, mái tóc bạc trắng run rẩy. Lão cảm thấy đây không phải là khắc chữ, mà là từng búa từng búa khảm linh hồn của con trai, vợ, con gái và những người trong tộc tử trận vào tấm bia đá vĩnh viễn không hư hoại này. Khi búa đục chạm đến dòng chữ nhỏ bên cạnh bia, lão đã không còn nhận ra nữa, chỉ bản năng cảm thấy đây là máu lệ và thù hận của bao thế hệ người Tần, là lời nguyền của trời cao về binh đao huyết hỏa diệt vong. Từng búa từng búa, lão dù mắt đẫm lệ mờ sương, nhưng thực sự là quỷ phủ thần công, không sai một ly khắc ra văn tự trên bia, đá xanh chữ trắng, lực đạo cực kỳ xuất sắc.

Vứt búa đục xuống, lão Bạch Đà đột nhiên lao vào bia đá, nước mắt già chảy ròng ròng, khóc không thành tiếng.

Lão giả áo đen lặng lẽ cúi người đỡ lão thợ đá dậy. Chàng trai áo đen thì xoay người, ngước nhìn màn mưa vô tận.

"Bạch đại ca, đây là một trăm đồng đao tệ cũ của nước Ngụy, xin hãy cất kỹ." Lão giả áo đen lấy từ trong ngực ra một túi da đưa cho lão thợ đá. Thời đó, thiên hạ gọi đao tệ cũ của nước Ngụy là "tiền Ngụy cũ", đó là loại tiền sắt hình dao được đúc vào thời Ngụy Văn Hầu. Vì cồng kềnh bất tiện khi mang theo nên nước Ngụy đã không còn đúc nữa. Nhưng chính vì thế, loại đao tệ này lại trở thành thứ tiền danh giá vừa có ý nghĩa cổ vật, đi khắp thiên hạ đều được coi là trân phẩm. Lão thợ đá Bạch Đà là "quốc nhân" cư trú trong thành Lịch Dương, cũng thuộc vào hàng "bách công" dưới sự quản lý của quan phủ, so với những nông phu nơi thâm sơn cùng cốc thì tuy có khá hơn chút nhưng cũng nghèo đến mức túng thiếu. Một trăm đồng đao tệ cũ này đối với một thợ thủ công Lịch Dương mà nói, không nghi ngờ gì là một khoản tiền lớn. Huống chi lão thợ đá Bạch Đà cả đời chưa từng nhìn thấy loại đao tệ quý giá này.

Ai ngờ lão thợ đá lại trợn mắt lên, giọng khàn khàn nói: "Lão ca nói gì vậy? Hai chữ lớn này có thể do lão Bạch Đà này đục đẽo ra, có chết cũng an lòng. Đưa tiền, chẳng phải là coi rẻ lão Bạch Đà này sao. Lão ca, có biết một câu cổ ngữ không?"

"Cửu cửu lão Tần, cộng phó quốc nạn." Lão giả áo đen nghiêm nghị trả lời.

"Chuẩn đấy! Tiền là vật gì? Cần nó làm chi?"

Trong lúc nói chuyện, chàng trai áo đen bước ra cửa, lấy từ trên xe bò về một cái túi vải, nghiêm trang cúi người với lão: "Lão nhân gia nghĩa cao đức trọng, không biết lấy gì đáp lễ, xin nhận cho hai dải thịt khô này, xem như chút lòng thành kính của hậu bối."

Lão thợ đá nước mắt lưng tròng: "Chàng trai à, cậu là người đại quý, nhờ phúc của cậu. Lão Bạch Đà ta xin nhận hai dải thịt khô này." Lão đột nhiên quỳ xuống, dập đầu liên hồi trước chàng trai áo đen.

"Lão nhân gia..." Đột nhiên chàng trai áo đen giọng nghẹn ngào, quỳ trên mặt đất đỡ lão dậy: "Bách công nước Tần, đến thịt còn khó mà ăn nổi, đây cũng là quốc sỉ."

Lão chảy nước mắt cười lớn: "Có hai chữ trên bia của quý nhân, ngày người Tần được ăn thịt không còn xa nữa rồi!"

"Lão nhân gia, nói hay lắm. Người Tần cuối cùng sẽ có ngày được ăn thịt."

Khi chiếc xe bò cọc cạch cọc cạch lăn bánh ra khỏi con phố đá nhỏ hẹp, mưa phùn vẫn không ngừng rơi. Xe bò rẽ vài vòng, liền từ một lối cửa phụ tiến vào đại viện quốc phủ, trực tiếp đi vào sân nhỏ trước Chính sự đường.

Tần Hiếu Công cởi bỏ chiếc áo vải lót đã ướt sũng, thay bằng một chiếc áo vải khô ráo, lại uống một đỉnh canh thịt cừu nóng hổi, rồi mới tới Đông sảnh Chính sự đường. Trong đại sảnh trống trải hơi tối tăm, Hắc Bá đã đặt tấm bia đá cao lớn lên chiếc bệ rùa làm sẵn từ trước. Tần Hiếu Công ngắm nghía suy tư một hồi, thấp giọng dặn dò: "Hắc Bá, trong vòng một canh giờ, không cho phép bất cứ ai vào Chính sự đường."

Hắc Bá đáp một tiếng, liền đi ra thủ tại chiếc cửa đá duy nhất của sân, nhưng trong lòng luôn bất an. Nghĩ ngợi một lúc, ông vẫy tay gọi một võ sĩ dẫn đầu đội hộ vệ lại dặn dò vài câu, rồi vội vàng đi về phía hậu viện cuối cùng.

Còn một canh giờ nữa mới đến lúc mặt trời lặn, đại sảnh viện thứ sáu của quốc phủ đã tối om. Thế nhưng, bóng dáng màu đỏ lay động trong sảnh cùng ánh sáng kiếm khí lại tô điểm cho đại sảnh thâm trầm thêm một mảng sáng. Dáng người mảnh mai cao ráo của người luyện kiếm, mái tóc dài bay bổng, cùng với bộ kình trang màu đỏ như ngọn lửa, đều đang cho thấy đây là một thiếu nữ tràn đầy hơi thở thanh xuân.

Đây là một đại sảnh bày đủ loại binh khí, phía sau hai viện là hậu cung nước Tần, phía trước năm viện là các phòng chính vụ của quốc quân. Đại sảnh bày đủ loại binh khí này nằm ngăn cách giữa quốc quân và hậu cung, gọi là Đoản binh sảnh. Trên giá binh khí trong sảnh là đủ loại binh khí ngắn. Không chỉ có đoản đao lưng dày và đoản kiếm thân rộng của kỵ sĩ đang thịnh hành ở các nước Trung Nguyên, mà còn có cong kiếm của nước Ngô đã diệt vong - Ngô Câu, những loại khác như chiến phủ của nước Hàn, chiến đao của Nhung Địch, đả đao của Đông Doanh, tế kiếm của nước Việt, thiết thuẫn của nước Ngụy, ngưu bì thuẫn của nước Triệu v.v., hầu như bao hàm tất cả các loại binh khí ngắn thông dụng trong thiên hạ thời bấy giờ. Thiếu nữ luyện kiếm trong sảnh không ngừng chọn các loại binh khí ngắn khác nhau để luyện tập, dù nhanh hay chậm, nhưng đều là những động tác cơ bản, thực dụng, không hề hoa mỹ. Khi nàng lấy một thanh Ngô Câu cong từ trên giá kiếm xuống luyện tập, vung kiếm chém xiên, nhưng thế nào cũng không có tiếng rít của kiếm phong sắc bén. Nàng không khỏi nhíu mày chém liên tiếp mấy lần, vẫn không được. Dừng lại suy nghĩ một chút, nàng rút khăn tay ra lau, xách Ngô Câu vội vã đi về phía tiền viện, bước chân nhẹ nhàng, dáng đi mềm mại, như cơn gió lướt qua từng bậc cửa.

Trong sân Chính sự đường yên tĩnh, chỉ có tiếng mưa rơi xào xạc. Thiếu nữ rón rén đi vào sân, tới cửa thư phòng, khẽ gọi: "Hắc Bá." Thấy không có ai trả lời, nàng cười tinh nghịch, vươn dài cổ nhìn vào trong thư phòng, cũng không có ai. Nàng vỗ đầu mình, chợt mỉm cười, rồi từ dưới hành lang nhẹ nhàng đi về phía đại sảnh Chính sự đường. Đến cửa, nàng lại vươn cổ cười nghịch ngợm nhìn vào trong. Đột nhiên, nàng nín thở, khuôn mặt xinh đẹp tràn đầy kinh ngạc và sợ hãi, vội vàng bịt miệng mình đang há hốc lại, khẽ lùi lại vài bước, xoay người chạy vội về phía hậu viện.

Trong chốc lát, thiếu nữ áo đỏ đỡ thái hậu tóc bạc tới ngoài cửa Chính sự đường. Hắc Bá bước nhanh tới trước mở cánh cửa sảnh đang khép hờ của Chính sự đường. Thái hậu tóc bạc phơ không nói lời nào, chỉ lắc tay với Hắc Bá, rồi tự mình đi vào Chính sự đường.

Trong Chính sự đường tối tăm, Doanh Cừ Lương nằm trên mặt đất, trên người dính đầy những vệt máu lốm đốm. Cách thân mình năm bước là một tấm bia đá cao lớn, vết máu trên bia trong đại sảnh u tối phát ra ánh sáng đỏ u ám.

"Đại ca——!" Một tiếng khóc thét lên, thiếu nữ lao vào người Doanh Cừ Lương, thái hậu đứng trước tấm bia đá bất động. Ở giữa tấm bia là hai chữ lớn chấn động lòng người——Quốc sỉ! Máu tươi trong rãnh chữ vẫn chưa đông lại, những dòng máu mảnh vẫn đang uốn lượn chảy xuống. Phía trên bên phải tấm bia là một hàng chữ to bằng nắm tay——"Quốc nhân vĩnh chí, lục quốc phân Tần là vì quốc sỉ, thiên hạ ti Tần, xú mạc đại yên." (Người nước Tần hãy ghi nhớ mãi: sáu nước chia Tần là nỗi nhục của quốc gia, thiên hạ coi thường nước Tần, nỗi nhục này không gì lớn bằng). Phía dưới bên trái là năm chữ "Doanh Cừ Lương nguyên niên". Trên bia đá vết máu loang lổ, những dòng máu rỉ ra, thật không nỡ nhìn.

Ngoảnh đầu lại, thái hậu thấy con trai vẫn hôn mê trong lòng em gái, hai ngón tay bị đứt vẫn còn rỉ máu! Trong chớp mắt, thái hậu chân bước lảo đảo, suýt nữa ngất đi. Bà cắn chặt răng, vịn lấy cây cột lớn cuối cùng cũng đứng vững, khản giọng ra lệnh: "Hắc Bá, cõng Cừ Lương vào hậu cung, mau!"

Hắc Bá lao tới như một mũi tên, hai tay vươn ra luồn dưới người quốc quân, nâng bổng quốc quân lên, sải bước chạy về phía tẩm cung của thái hậu ở hậu viện.

Khi Doanh Cừ Lương lờ đờ tỉnh lại, trời đã tối đen. Màn mưa vô tận rơi lả tả, tiếng chuông gió phong linh leng keng vang lên. Dưới ánh nến, khuôn mặt chàng tái nhợt không chút huyết sắc, nhưng đôi mắt lại sáng rực, không có chút hơi hướng suy sụp nào. Chàng ngửi thấy mùi thuốc nồng nặc, cũng nhìn thấy khuôn mặt đẫm lệ của thiếu nữ được phản chiếu bởi ánh lửa than trước lò đất.

"Huỳnh Ngọc?" Chàng ngạc nhiên khẽ gọi.

"Đại ca! Huynh tỉnh rồi?" Thiếu nữ mừng rỡ khôn xiết chạy tới, ngồi xuống bên sập vừa lau nước mắt vừa cười: "Có đau không? Có đói không? Có ăn không? Tay đừng cử động đó."

Doanh Cừ Lương cười ha hả: "Không đau. Không đói. Không ăn."

"Đúng! Huynh cứ ngủ đi. Mẹ nói rồi, đêm nay không cho phép huynh bước ra khỏi đây nửa bước, nếu có kháng lệnh, mẹ sẽ hỏi tội muội."

"Ồ? Mẹ đâu?"

"Mẹ, mẹ ra ngoài rồi. Không cho muội nói với huynh."

"Ra ngoài? Đi đâu? Trời mưa âm u, tối thế này." Vị quốc quân trẻ tuổi lập tức ngồi bật dậy, đẩy em gái ra định bước ra cửa.

"Đi đâu đó? Ta về rồi đây." Thái hậu nghiêm mặt bước tới cửa, rõ ràng là vừa bỏ áo mưa ra, bên mai còn đọng giọt nước, trên áo còn vết nước.

"Mẹ, mẹ ra ngoài sao?" Tần Hiếu Công vội hỏi.

"Con ngồi xuống đó cho ta." Huỳnh Ngọc vừa thấy mẫu hậu, lập tức lên mặt, đẩy đại ca lên sập.

Thái hậu cười cười: "Không sao. Ta ra ngoài dạo một chút. Cừ Lương à, ngồi đi, nói chuyện với mẹ. Làm quốc quân rồi, gặp con một lần cũng khó." Lão nhân thở dài một tiếng, nhưng trên mặt lại nở nụ cười từ ái, như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra.

"Mẹ, Cừ Lương bất hiếu." Trong mắt Tần Hiếu Công rơm rớm lệ.

"Nói gì vậy?" Thái hậu ngồi xuống ghế thêu: "Cừ Lương à, mẹ biết tâm chí con cao xa, có đảm đương. Nhưng mẹ vẫn phải nói, con quá gấp gáp, lại tự trách quá mức. Ưu quốc ưu dân là bậc quân chủ tốt, nhưng quá mức sẽ hại thân, được mất khó lường đấy."

Tần Hiếu Công thở dài một tiếng nặng nề, lặng lẽ gật đầu, rồi lại lặng lẽ lắc đầu.

Lúc này, Hắc Bá dùng mâm đồng bưng một chiếc đỉnh đồng nóng hổi đi vào, lặng lẽ đặt xuống rồi nhẹ nhàng bước ra.

"Huỳnh Ngọc, múc thịt hươu rùa cho đại ca, canh thịt trong đỉnh cũng phải bắt huynh ấy uống hết."

"Dạ!" Huỳnh Ngọc vui vẻ cầm bát gốm nhỏ và muôi gỗ dài múc thịt và canh từ trong đỉnh.

Tần Hiếu Công ngạc nhiên hỏi: "Mẹ, lấy đâu ra thịt hươu rùa? Thịt rùa ăn được sao?"

Thái hậu mỉm cười: "Mẹ và Hắc Bá đi săn được. Rùa, rồng, kỳ lân, phượng hoàng này là bốn loài linh vật, thời bình thường tất nhiên không thể ăn thịt chúng. Nhưng bậc thánh hiền khi lâm vào tuyệt cảnh, vạn vật đều có thể ăn. Nhi tử Cừ Lương của ta đã chịu thiên mệnh làm chủ một nước, ưu quốc hại thân, ông trời tất nhiên sẽ thấu hiểu." Lão nhân lại khẽ thở dài một tiếng: "Trong vòng nửa tháng, con phải ăn hết con nai hoang và mười con rùa núi này cho mẹ, không được bỏ thừa một phần nào. Huỳnh Ngọc, con thay mẹ canh chừng huynh ấy."

"Dạ, tuân mệnh mẫu hậu." Huỳnh Ngọc vui vẻ bưng bát gốm đi tới trước sập: "Đại ca, bắt đầu ngay thôi."

Hắc Bá bước vào chắp tay nói: "Quân thượng, trước khi vào núi thái hậu đã lập đàn tế trời, vừa vào tới cửa núi đầu tiên liền đụng phải con hươu này. Bắn hạ hươu hoang, sau hòn đá liền bò ra mười con rùa núi nhỏ này. Đây là thiên ý, quân thượng hãy an tâm dùng bữa."

Tần Hiếu Công không nói thêm lời nào, lặng lẽ ăn thịt uống canh, trên mặt dần rịn ra những giọt mồ hôi. Thái hậu và Huỳnh Ngọc thì vẫn luôn túc trực trong phòng, lại ép Doanh Cừ Lương uống hết bát thuốc thảo dược thái y pha.

"Mẹ," Tần Hiếu Công tinh thần phấn chấn, khẽ mỉm cười: "Con muốn giao cho muội muội một việc, mẹ thấy thế nào?"

"Hay quá! Con cũng có thể có ích rồi." Huỳnh Ngọc vui mừng trước nhất.

"Mẹ không đồng ý không được đâu đấy." Tần Hiếu Công nghiêm sắc mặt nói.

Thái hậu cười nói: "Nói nghe xem nào, việc gì thế?"

Tần Hiếu Công cười đầy bí hiểm: "Mẹ ghé tai lại đây." Xua tay bảo Huỳnh Ngọc tránh đi. Huỳnh Ngọc sốt sắng kêu lên: "Chẳng lẽ huynh muốn bán muội sao?" Hiếu Công và thái hậu cười lớn. Thái hậu bước tới trước sập, Hiếu Công thì thầm một hồi, thái hậu trầm ngâm hồi lâu: "Cửu cửu lão Tần, cộng phó quốc nạn. Tử đệ công thất sao có thể đứng ngoài, đi thôi, nó cũng đã lớn rồi."

Huỳnh Ngọc vui mừng lắc lắc cánh tay thái hậu: "Mẹ đồng ý rồi? Hay quá!"

"Chẳng biết chuyện gì mà vui mừng đến thế?" Thái hậu nghiêm mặt.

Huỳnh Ngọc cười: "Việc gì cũng là việc tốt, dù sao Huỳnh Ngọc cũng có ích rồi mà."

"Bán muội sang nước Ngụy. Có vui không?" Hiếu Công nghiêm mặt nói.

"Á——?" Huỳnh Ngọc hét lên một tiếng, "Thật sao?"

Thái hậu và Hiếu Công cười ồ lên một trận, Huỳnh Ngọc cũng cười khúc khích, hướng về phía Tần Hiếu Công làm mặt quỷ.

Canh năm thức dậy, Tần Hiếu Công tinh thần rất tốt, liền luyện một hồi kiếm thuật ở Đoản binh sảnh. Chàng tâm tư cẩn mật, hôm qua khi viết huyết bia đã tự chặt đứt hai ngón tay trái. Tay phải đối với chàng quá quan trọng, ít nhất là cầm bút cầm kiếm là tuyệt đối phải dùng đến. Vì vậy mặc dù tay trái treo băng vải, vẫn không ảnh hưởng đến buổi luyện tập buổi sáng của chàng. Luyện kiếm xong trời đã tờ mờ sáng, cơn mưa dầm đã tạm ngừng, những đám mây đen trên trời lại đang vội vã kéo về phía Tây. Người Tần có câu: "Mây hướng Tây, nước chảy ròng ròng." Xem ra cơn mưa dầm của ông trời vẫn còn phải tiếp tục. Khi Tần Hiếu Công tới thư phòng, đúng lúc Tả thứ trưởng Doanh Kiền sai sứ giả báo tin khẩn: Đội tiên phong hai vạn kỵ binh đã áp sát Lũng Tây, hai vạn kỵ binh phía sau cũng có thể tới trong vòng ba ngày, phía Nhung Địch vẫn chưa có động tĩnh gì. Doanh Kiền khẳng định, bốn vạn thiết kỵ đủ sức trấn áp phiến loạn, quyết định không điều thêm binh về phía Tây. Tần Hiếu Công suy tư một lát, viết thư hồi đáp cho sứ giả, tán đồng sự bố trí của Doanh Kiền và ở cuối thư viết đậm tám chữ lớn: "Vạn vật giải đãi, vụ tu toàn thắng" (Tuyệt đối không được lơi lỏng, nhất định phải toàn thắng). Niêm phong mật thư, sứ giả vội vã rời đi. Tần Hiếu Công nhìn sắc trời, đã sáng rõ, liền gọi Hắc Bá dắt ngựa, dẫn theo hai thị vệ đi ra cửa Đông thành Lịch Dương.

Ra khỏi thành mười dặm, ven đường một dải liễu xanh mướt, mưa phùn vừa tạnh, gió nhẹ lay động, thực sự là xanh biếc đến mức như nhỏ giọt. Trong sắc xanh biếc ẩn hiện một đình đá được dựng bằng cột đá phiến đá, tuy thô sơ cổ phác, nhưng cũng rộng rãi sạch sẽ. Trên bàn đá trong đình bày hai chiếc bát gốm lớn, trong bát đầy ắp rượu gạo trong veo. Trên con đường dẫn ngoài đình đỗ một chiếc xe diêu (xe ngựa một ngựa kéo) bằng đồng sáng loáng, tuy chỉ có hai ngựa kéo, nhưng dáng ngựa hùng dũng nhìn là biết ngay không phải vật phẩm tầm thường. Bên cạnh xe diêu đứng nghiêm trang mười tráng hán mặc áo đỏ, bên cạnh mỗi người đều có một con ngựa tốt thuần sắc. Lại có bốn chiếc xe thùng được che phủ kín mít bằng da bò đậu ven đường. Dưới bóng liễu xanh mướt, đứng một nhân vật y phục hoa lệ gấm vóc, chiếc áo choàng đỏ thêu kim tuyến và chiếc mũ bạch ngọc sáu tấc trên đầu khiến bóng lưng của người đó cũng toát lên vẻ phong tư anh hoa. Người bình thường nhìn vào, đoàn người ngựa này chỉ có thể là những cự phú đại thương ở Sơn Đông, nước Tần nghèo yếu làm sao có được đoàn xe thương nhân giàu có như thế này?

Vị chủ nhân hoa quý đang đứng dưới rặng liễu, mắt không ngừng ngóng về cửa Đông Lịch Dương. Cuối cùng, khóe miệng người đó nở một nụ cười. Dần dần, ba kỵ mã từ cửa Đông Lịch Dương phi nhanh từ bãi cỏ tương đối khô cứng tới. Tới đình Thập Lý, ba kỵ sĩ phi ngựa vào rừng liễu rồi nhảy xuống ngựa, người dẫn đầu cười lớn: "Tốt! Ngươi thay hình đổi dạng thế này, đúng là một vẻ đại phú đại quý, điềm lành để thành sự đó."

Chàng thanh niên phong tư hoa quý cúi người thật sâu: "Quân thượng, ven đường bất tiện lưu lại lâu, nếu không có lời dặn dò, Cảnh Giám xin cáo từ lên đường."

"Đương nhiên là vậy. Nào, ta và ngươi cùng cạn một bát rượu lão Tần, tiễn chân ngươi." Nói rồi kéo tay Cảnh Giám đi vào đình đá, "Còn nhớ chuyện ta nói sẽ phái cho ngươi một trợ thủ không?"

"Nhớ, nhưng quân thượng vẫn chưa phái tới, thần cũng đã lơ là chuyện đó."

"Hôm nay ta sẽ giao người này cho ngươi. Hắc Lâm, qua đây bái kiến đặc sứ."

"Tuân lệnh!" Chỉ nghe một tiếng trả lời trong trẻo vang lên, một võ sĩ sau lưng Tần Hiếu Công bước tới chắp tay hành lễ với Cảnh Giám: "Thiên phu trưởng Hắc Lâm, bái kiến đặc sứ đại nhân."

Cảnh Giám liếc nhìn, người này trẻ tuổi tuấn tú, giọng nói trong trẻo, trong lòng liền lóe lên một ý nghĩ: Nữ tính thế này mà lại có thể làm Thiên phu trưởng? Nhưng lại lập tức nghĩ ngay rằng đã là quốc quân tiến cử, chắc chắn không phải kẻ tầm thường, liền cười: "Được thôi, ngươi làm tổng quản cho ta đi." Hắc Lâm trẻ tuổi lại ưỡn ngực cao giọng: "Tuân lệnh!" rồi sải bước đứng ra sau lưng Cảnh Giám, quả nhiên như một vị tổng quản thân cận.

Tần Hiếu Công dặn dò: "Hắc Lâm là cháu đích tôn của Hắc Bá, thiếu kinh nghiệm tôi luyện, Hắc Bá đã nhờ ngươi phải nghiêm khắc đốc thúc đấy."

"Cảnh Giám đã rõ."

Tần Hiếu Công nâng bát gốm, đứng nghiêm trang nói: "Tiễn chân quân, cạn!"

Cảnh Giám hai tay nâng bát: "Dẫu vạn tử cũng không nhục sứ mệnh. Cạn!" Hai bát gốm chạm nhau, hai người cùng nâng bát ừng ực uống cạn.

"Thần cáo từ." Cảnh Giám cúi người thật sâu.

"Đi đi, ta ở đây nhìn các ngươi lên đường." Tần Hiếu Công nghiêm trang chắp tay, "Cùng hổ mưu bì, hãy tự bảo trọng."

"Quân thượng bảo trọng, hẹn ngày tái ngộ." Cảnh Giám bước lên xe diêu, chắp tay lần cuối, tiếng xe rầm rập lăn bánh rời đi. Hắc Lâm trẻ tuổi tuấn tú ngoảnh đầu nhìn Tần Hiếu Công một cái, cũng lên ngựa phi nhanh đi mất.

Trong rừng liễu xanh biếc, Tần Hiếu Công dõi theo đoàn xe ngựa đỏ đang dần xa dần khuất trong mưa sương mịt mù. Chàng quất ngựa một roi, quay người phi ra khỏi rừng liễu, vội vã đi về phía thành Lịch Dương.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.