Trên con đường lớn ở bờ nam Hoàng Hồng, một kỵ sĩ mặc áo đỏ đang phi nước đại về hướng tây, dần tiến vào cửa cốc bị kẹp giữa hai quả núi.
Đúng lúc hoàng hôn buông xuống, khe núi u ám và dài dằng dặc tựa như một ngăn kéo được mở ra giữa đại sơn, đây chính là hiểm đạo Hàm Cốc nổi tiếng thiên hạ. Do chiều sâu của nó giống như một chiếc hộp dài, người đương thời liền gọi đó là Hàm Cốc. Hiểm đạo Hàm Cốc này nằm ở bờ nam đoạn Hoàng Hông đột ngột rẽ sang hướng đông tây, phía đông khởi từ núi Hào, ở giữa đi xuyên qua cao nguyên Đào Lâm – nơi Khô Phụ đuổi mặt trời mà khát chết, phía tây đến bến đò Tông Thuỷ, xanh ngắt trải dài chừng hơn trăm dặm. Hai bên bờ hạp cốc là đỉnh cao vực thẳm, dốc núi quanh co, một con đường lớn uốn lượn quanh co dưới đáy thung lũng, là con đường duy nhất từ Sơn Đông (phía đông núi Hào) thông tới Quan Trung, được mệnh danh là Hàm Cốc thiên hiểm. Hơn ngàn năm sau, Lịch Đạo Nguyên thời Bắc Ngụy đã ghi chép về ải Hàm Cốc cổ trong "Thủy kinh chú" thế này: "Bờ sâu trời cao, thung lũng trống trải u ám, hẻm núi khe suối, xe không vừa bánh, gọi là thiên hiểm". Danh sĩ thời Đông Hán là Vương Nguyên mang dã tâm bừng bừng vạch kế hoạch cho hào cường miền tây lúc bấy giờ là Ngụy Hạo: "Xin dùng một viên đất sét, niêm phong ải Hàm Cốc ở phía đông, mưu đồ bá vương không thành, thì sự suy yếu của nó cũng đủ làm bá chủ rồi." Hơn ngàn năm sau thời Chiến Quốc, ải Hàm Cốc vẫn có dáng vẻ hiểm trở hùng vĩ và chức năng yếu ỏi như thế, đủ thấy sự hoang vu hiểm trở của Hàm Cốc thiên hiểm thời Chiến Quốc.
Thời Tây Chu, Hàm Cốc vốn không có cửa ải. Sau khi Chu Bình Vương dời đô từ Cảo Kinh về Lạc Dương, đã đem toàn bộ vùng đồng bằng vị thủy vốn là đất vương kỳ của nhà Chu phong hết cho bộ tộc Tần. Sau khi Tần trở thành chư hầu quốc, thiên hạ bước vào thời kỳ Xuân Thu rối ren không yên. Để ngăn chặn chư hầu Sơn Đông xâm lấn phía tây, nước Tần đã xây dựng một tòa thành bằng gạch đá ở cửa đông của Hàm Cốc thiên hiểm, thuận theo địa danh Hàm Cốc, liền gọi là Hàm Cốc quan. Không ngờ tòa quan thành đơn sơ này lại phát huy tác dụng to lớn trong mấy trăm năm giao tranh bằng vũ khí, những chiến xa ầm ầm của chư hầu Sơn Đông luôn không tài nào vượt qua thung lũng chật hẹp hiểm trở này. Cùng với việc Tần Mục Công xưng bá, nước Tần mở ãn bờ cõi, ải Hàm Cốc từ đó cũng nổi danh thiên hạ. Bước vào đầu thời Chiến Quốc, nước Nguỵ đi đầu trong việc biến pháp mà trở nên hùng mạnh, bắt đầu công cuộc tằm thực lâu dài đối với nước Tần nghèo hèn yếu ớt. Kỵ binh nhẹ do danh tướng Ngô Khởi huấn luyện dùng binh đã phát huy uy lực lớn, trong hơn hai mươi năm, hơn năm trăm dặm đất ở bờ tây Hoàng Hô của nước Tần đã bị nước Nguỵ đánh từng trận chiếm sạch. Ải Hàm Cốc vốn là bức bình phong thiên hiểm cùng cao nguyên Đào Lâm núi Hào đã mất, các yếu ức Thạch Môn, bến đò Tông Thủy cùng các bức bình phong phía đông cũng bị nước Nguỵ chiếm sạch không sót gì. Nếu không phải sau đó Ngô Khởi buộc phải rời khỏi nước Nguỵ, vị thống soái nổi tiếng từng giao chiến với chư hầu thiên hạ bảy mươi bốn lần mà chưa từng bại trận này, tuyệt đối không chỉ ép nước Tần đến phía tây núi Hoa Sơn.
Tiếng tù và bằng sừng bò nặng nề vang lên trên đầu thành, cờ đại thêu chữ "Nguỵ" màu đỏ hầu như hoàn toàn hòa lẫn vào ánh chiều tà.
Khi vị kỵ sĩ áo đỏ phi nhanh như chớp đến dưới cửa ải, cửa thành Hàm Cốc đang ầm ầm khép lại. Con ngựa cưỡi màu đen thần dũng ấy lại cực kỳ thông linh, hí dài một tiếng, từ trong cánh cửa đá sắp khép lại phóng vụt qua, gây ra một tràng tiếng hò reo lớn của binh lính trên đầu thành.
– Người qua ải là ai? – Tướng quân trên đầu thành lớn tiếng hô hỏi.
– Trinh tháp doanh Hoa Sơn đây! – Một tiếng trả lời kéo dài vứt lại phía sau, kỵ sĩ đã ở cách xa một dặm từ lúc nào.
Ải Hàm Cốc đối với nước Tần là yết hầu cửa ngõ quốc gia, nhưng đối với nước Nguỵ hiện tại, lại là một tòa cửa ải bình thường nằm trong lãnh thổ. Cho nên việc tra xét ở ải Hàm Cốc của nước Nguỵ xa không nghiêm ngặt bằng tra xét ở ải Hàm Cốc thời nước Tần. Thủ quân trên đầu thành thấy người xuất quan mặc trang phục quân sĩ nước Nguỵ, lại báo danh là trinh sát doanh Hoa Sơn, thế là không phái kỵ phi mã đuổi theo tra xét, ngược lại còn tụ tập trên đầu thành lớn tiếng bàn luận tán thưởng kỵ thuật cao siêu và con ngựa quý hiếm có một không hai của tên trinh sát này.
Trong ánh chiều tà đang buông xuống, chiến mã của kỵ sĩ tựa như một đóm mây đỏ, lướt qua vùng đồng bằng trống trải và dòng sông cuồn cuộn về hướng tây. Thấy ngọn núi Hoa Sơn bên tay trái đã bị bỏ lại phía sau từ xa, kỵ sĩ cởi chiếc áo choàng màu đỏ trên người ra dùng sức ném mạnh xuống đất, lập tức biến thành một kỵ sĩ nước Tần mặc đồ đen gọn gàng. Hắn tức giận chửi lớn một câu gì đó, quất mạnh một roi vào con ngựa dưới thân! Chiến mã màu đen thần dũng đột nhiên chồm lên đứng bằng hai chân sau, một tiếng hí dài vang lên, tung bốn móng phi nước đại giữa không trung, lao về hướng tây nhanh như tên bắn.
Càng đi càng về phía tây, từ xa có thể thấy trên vùng đồng bằng màu xanh ngắt pha chút vàng xám sừng sững một tòa thành bằng đá đen. Nhìn từ xa, tòa thành này rất nhỏ. Trong ánh chiều tà, bóng của tòa thành trông giống như một con quái thú màu đen. Cùng với phi mã của kỵ sĩ áo đen phi nước đại, dần dần có thể thấy trên lầu tiễn cửa đông quay lưng về phía hoàng hôn có giáp sĩ áo đen di chuyển, trên lá cờ đại màu đen tung bay phần phật thêu một chữ "Tần" lớn màu trắng.
Đây chính là kinh đô Lịch Dương của nước Tần. Nó nằm ở bờ bắc của Lịch Thủy – một nhánh sông nhỏ của Vị Thủy. Tòa thành nhỏ này là kinh đô thứ ba kể từ khi nước Tần lập quốc đến nay. Ban đầu khi nước Tần mới được phong chư hầu, Chu Bình Vương đã dời đô đến Lạc Dương rồi. Cảo Kinh và Phong Kinh ở Quan Trung đã hóa thành đống tro tàn phế tích trong các cuộc xâm lược của tộc Nhược Địch, hoàn toàn không thể làm kinh đô của nước Tần được nữa. Vị quốc quân đời đầu tiên của nước Tần là Tần Tương Công, liền dời kinh đô đến cửa đông núi Trần Thương nằm gần căn cứ địa phía tây của mình, tòa thành nhỏ đó được gọi là Tây Nương. Vị quốc quân đời thứ hai là Tần Văn Công lại dời kinh đô về phía đông ba trăm dặm, đặt ở Ung Thành bên bờ bắc Vị Thủy, vẫn luôn ổn định suốt hơn ba trăm năm. Đến đầu thời Chiến Quốc, nước Tần bị nước Nguỵ liên tiếp tấn công chiếm thành đoạt đất, Tần Hiến Công mang chí khí ngút trời, dứt khoát dời kinh đô về thành nhỏ Lịch Dương cách đại doanh Hoa Sơn của nước Nguỵ chưa đầy ba trăm dặm, tuyên cáo với thiên hạ từ nay thề chết không lùi về phía tây một bước! Tòa thành nhỏ Lịch Dương này làm kinh đô, trên thực tế cũng được xây dựng như một yếu ức quân sự ở vị trí tiên phong nhất. Mặc dù diện tích vuông của thành rất nhỏ, mỗi bên chỉ dài một dặm, vuông vức hơn bốn dặm, chính là kiểu thành nhỏ điển hình thường nói thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc "Thành ba dặm, quách năm dặm". Thế nhưng toàn bộ lại được xây bằng những tảng đá lớn, tường thành cũng cao hơn tường thành bình thường hơn ba trượng, ngay cả lầu tiễn cũng được xếp bằng phiến đá. Còn cửa thành làm lối ra vào, thì là hai khối đá núi to lớn và nặng nề. Nói cách khác, cấu trúc phòng thủ bên ngoài của toàn bộ tòa thành không có một tấc gỗ nào, hỏa công thông thường hoàn toàn không thể tổn hại đến mảy may của tòa thành. Thế nhưng điều gây ấn tượng mạnh mẽ hơn nữa là, tường thành và lầu tiễn của tòa thành này đều được quét dày một lớp sơn đen vùng núi, đen nhánh sáng bóng, không những hung mãnh đáng sợ, mà kẻ trộm thành đột kích cũng tuyệt đối không có cách nào đối phó. Tòa thành hiểm trở sừng sững bên bờ sông Lịch Thủy này, vì gần đại doanh Hoa Sơn của nước Nguỵ nên việc phòng bị rất nghiêm ngặt. Trong khoảnh khắc chạng vạng tối này, trên đầu thành cao đã thổi lên tiếng tù và bằng sừng bò u u, những người qua lại vốn thưa thớt bên ngoài cửa thành đã rảo bước nhanh hơn. Sau ba hồi tiếng tù và, cửa thành Lịch Dương sẽ ầm ầm khép lại.
Ngựa phi nước đại đến gần, kỵ sĩ áo đen không hề giảm tốc độ, mà đưa tay lục lọi trong ngực lấy ra một chiếc lệnh tiễn bằng vàng dài đến hai thước giơ cao lên. Dù là chập tối, chiếc lệnh tiễn bằng vàng dài vẫn vẽ nên một vung sáng chói lọi trên lưng ngựa.
– Sứ giả Kim lệnh tiễn đến, người đi đường tránh ra! – Tướng lĩnh cửa thành giơ kiếm thét lớn, hai hàng giáp sĩ đứng nghiêm trang, người qua lại trong và ngoài cửa thành "ào" một tiếng dạt sang hai bên đường.
Kỵ sĩ áo đen giơ cao lệnh tiễn bằng vàng, phi nước đại vào trong thành.
Trong thành Lịch Dương, phố xá tiêu điều lạnh lẽo. So với chợ đêm phồn hoa gấm vóc của thành Đại Lương, nơi này quả thực giống như một thôn sơn hoang vắng hẻo lánh. Đèn quán xá điểm xuyết lấm tấm, người đi đường bên đường thưa thớt lẻ tẻ. Dưới ánh đèn chập chờn u ám, có thể thấy trang phục của người dân trong thành thô sơ giản dị, thỉnh thoảng có người gánh củi dắt bò thong thả bước qua giữa đường. Trên con đường ngắn thông thẳng tới phủ quốc quân nước Tần này, không có lấy một chiếc xe ngựa kéo dẫu là đơn sơ, cũng không có nhân vật nào mặc trang phục quý giá. Mọi người trước cửa hàng đang tiến hành giao dịch đơn giản, hoặc tiền hàng sòng phẳng, hoặc vật đổi vật, đều tiến hành trong âm thầm, không hề có sự tranh chấp mặc cả nào. Phố ngắn thành nhỏ, yên tĩnh mà có trật tự, mọi thứ đều vô cùng yên ắng, nhưng lại không hề có chút hoảng loạn nào. Tất cả những điều này đều đang vô thanh vô thức biểu thị rằng, tòa thành nhỏ này đã trải qua vô số con sóng dữ dội, đã không còn biết sợ hãi là gì nữa rồi. Khi sứ giả Kim lệnh tiễn với kỵ thuật thuần thục phi ngựa qua giữa phố, ngựa không hí người không kêu, cũng không có bất kỳ người dân nào lớn tiếng hò hét, người đi đường giữa phố nhanh chóng tránh sang một bên, mang theo vẻ mặt thản nhiên đã thành quen.
Trong chớp mắt, ngựa phi áo đen đã áp sát một dãy nhà trệt gạch xanh cao lớn và giản dị ở cuối con đường ngắn.
Dãy nhà gạch này được bao quanh bởi một vòng tường đá cao, chỉ lộ ra một mảng mái nhà xám xịt. Cổng chính ở chính giữa được đục đẽo từ một khối đá lớn nguyên vẹn, thô kệch và chắc chắn. Hai hàng giáp sĩ áo đen đứng hầu nghiêm trang trước cửa. Sứ giả Kim lệnh tiễn đột ngột kìm ngựa, chiến mã chồm người lên, ngẩng đầu hí vang. Tướng lĩnh đeo kiếm trước cửa đá chắp tay lớn tiếng nói:
– Quân thượng có lệnh, sứ giả Kim lệnh tiễn không cần bẩm báo, đi thẳng vào Chính sự đường.
Người áo đen nhảy vút xuống từ trên lưng ngựa, vung tay giao cương ngựa cho tướng lĩnh, sải bước vội vã đi thẳng vào cửa đá. Không ngờ đi được mấy bước lại lảo đảo ngã rạp xuống đất không đứng dậy nổi, hắn khàn giọng xua tay:
– Mau, đỡ ta... Chính sự đường.
Bốn tên quân sĩ hộ vệ lập tức lao lên, đỡ sứ giả bước nhanh vào cung điện quốc phủ.
Nói là cung điện quốc phủ, thực ra đây là một tòa đại trạch sáu tiến rộng chín gian, cộng thêm một khu vườn nhỏ phía sau. Nếu đặt ở nước Nguỵ, thì tối đa cũng chỉ là quy chuẩn nhà ở của một Trung đại phu. Ở nước Tề thì cũng chỉ là quy chuẩn Thượng khanh. Nhà cửa trong phủ đều được xây bằng những viên gạch vuông cực lớn, dưới đất là một màu phiến đá xanh tuyền, không một vảnh nước, không một mảnh hoa cỏ, màu xanh duy nhất là một rừng trúc nhỏ cùng vài gốc thông phía sau Chính sự đường. Đơn giản thực tế đến mức lạnh ngắt. Tiến thứ nhất là các cơ quan văn thư của quốc phủ, tiến thứ hai là Chính sự đường trung trục của quốc phủ. Chính sự đường này là một tòa nhà cao gạch xanh sáu gian, tọa lạc ở chính giữa sân viện, hai bên là cửa nguyệt môn thông ra các tiến phía sau. Bản thân Chính sự đường chia làm hai phần lớn, phía đông là chính sảnh để quốc quân tụ tập đại nhân bàn bạc đại sự, phía tây là thư phòng để quốc quân xử lý chính vụ hằng ngày. Xét theo tác dụng thực tế, thư phòng phía tây mới là linh hồn và nơi trung trục của quốc phủ.
Lúc này, thư phòng phía tây đã thắp sáng đèn đuộc. Đây là một căn phòng được bày trí nghiêm trang giản dị, trên sàn không có thảm đỏ, xung quanh cũng không có bất kỳ vật dụng quý giá nào như màn lụa hay rèm cửa. Nổi bật nhất là ba dãy giá sách lớn, chất đầy tre giản và sách da cừu, bao quanh ba mặt tường. Bức tường đối diện ngay chiếc án thư ở giữa treo một tấm bản đồ liệt quốc khổng lồ, tấm da cừu vẽ bản đồ đã không còn sự trắng trẻo và nhẵn nhụi nữa, mà lộ rõ vẻ lâu năm tháng sâu đục ngầu. Hai bên bản đồ treo kiếm dài và cung tên. Tất cả các án thư giá sách đều có màu đỏ sậm gần như đen, khiến Chính sự đường trông khá hung mãnh và thần bí. Trong phòng chỉ có một ngọn đèn dầu mỡ bò to thô, ánh sáng không quá rạng rỡ, khói dầu ở miệng chụp gió vẫn có thể lờ mờ nhìn thấy. Một người đang đứng trước bản đồ trầm tư không động đậy. Nhìn từ phía sau, vóc dáng anh ta thẳng tắp, một chiếc áo bào đen không có bất kỳ trang trí nào, mái tóc cũng được buộc bằng vải đen. Ngắm nghía một lát, anh ta thở dài một tiếng, đấm mạnh một quyền lên tấm bản đồ da cừu lớn, đầy vẻ u phẫn và nặng nề.
Một vị nội thị già tóc bạc canh gác ở cửa Chính sự đường, không có biểu cảm, không có tiếng động.
Tiếng bước chân dồn dập nặng nề từ trong sân truyền đến. Nội thị già tóc bạc cảnh giác, lập tức nhẹ bước đi xuống thềm. Bốn tên quân sĩ khiêng sứ giả áo đen vội vã chạy đến, đặt trước mặt nội thị già. Sứ giả áo đen khó nhọc giơ cao chiếc lệnh tiễn bằng vàng trong tay về phía nội thị già. Nội thị già lập tức lớn tiếng hô hiệu:
– Sứ giả Kim lệnh tiễn kiến giá –!
– Choang! – Một tiếng động giống như đụng ngã cái gì đó trong thư phòng, một tiếng bước chân dồn dập, chủ nhân thư phòng đã bước nhanh ra nghênh đón. Dưới ánh sáng mờ ảo thắt qua khung cửa sổ, có thể thấy anh ta là một thanh niên có tướng mạo đôn hậu, đôi mắt rất hẹp và dài, môi rất dày, khóe môi hằn sâu vào hai má, ẩn chứa sự cương nghị anh kiện và điềm tĩnh thong thả giữa vẻ đầm ấm vững chãi. Không ai khác, chính là chủ nhân của thư phòng, tân quân nước Tần Doanh Cừ Lượng Lượng, người mà sau này người ta gọi là Tần Hiếu Công. Anh ta bước nhanh đến trước mặt sứ giả áo đen, ngồi xổm xuống nhìn một cái, không nói một câu nào mà đưa tay đỡ lấy người áo đen muốn ôm anh ta vào trong.
Nội thị già chắp tay ngăn lại:
– Quân thượng, để thần.
Vừa nói hai tay dang thẳng luồn xuống dưới người áo đen, nâng bổng người áo đen lên, bước chân nhẹ nhàng bước lên thềm bước vào trong thư phòng. Tần Hiếu Công vội vã nói với bốn tên quân sĩ một câu:
– Các ngươi lui đi.
Trong lúc quân sĩ cúi đầu tuân lệnh, anh ta đã sải bước đi vào thư phòng.
Sứ giả áo đen được đặt nằm phẳng trên chiếc sập gỗ trong thư phòng, mặt đầy bụi bặm, mồ hôi nhễ nhại, ngực phập phồng dồn dập. Hàng thấy Tần Hiếu Công bước vào, vội vàng giãy giụa đứng dậy:
– Quân thượng, đại sự... khôn... không ổn rồi.
Tần Hiếu Công xua xua tay, quay đầu dặn dò:
– Hắc Bá, hâm rượu, mau!
Vừa dứt lời, nội thị già đã bưng từ ngoài cửa vào một chậu đồng đựng rượu gạo đang bốc hơi nóng nhè nhẹ. Tần Hiếu Công đón lấy, dùng cả hai tay bưng đến trước mặt người áo đen. Nước mắt người áo đen chợt trào ra, bất ngờ ôm chùm lấy chậu đồng, ực một hơi uống cạn sạch. Tần Hiếu Công đón lấy chậu đồng đưa cho nội thị già, quay đầu nắm lấy hai tay người áo đen:
– Cảnh Giám, ngươi vất vả rồi.
Một chậu rượu nóng khiến cho sứ giả Kim lệnh tiễn Cảnh Giám sắc mặt hồng hào, mồ hôi nước mắt trên mặt cùng lúc tuôn rơi. Hắn vén vạt áo định lau, nhưng Tần Hiếu Công đã đưa qua một chiếc khăn mặt bằng vải trắng. Cảnh Giám đón lấy lau sạch mồ hôi nước mắt trên mặt, tinh thần lập tức phấn chấn hẳn lên, hóa ra là một thanh niên anh tuấn, nếu không có làn da ngăm đen do từng trải sương gió, thì phải được coi là một mỹ nam tử có phong thần tuấn tú. Hắn cố sức đứng dậy vái sâu một lạy:
– Quân thượng đối xử với thần như vậy, Cảnh Giám lấy gì báo đáp đây?
Tần Hiếu Công cười sảng khoái:
– Ngươi vì nước hy sinh tính mạng, Doanh Cừ Lượng lấy gì báo đáp đây? Người Tần chúng ta không nói lời sáo rỗng, nào, kể nghe một chút tin tốt mà ngươi mang về đi.
Cảnh Giám vốn mang theo sự kinh hãi lo sợ vội vã phi ngựa quay về. Hắn theo bản năng cảm thấy rằng, nước Tần đã đến thời khắc sinh tử thực sự. Từ Phùng Trạch đến Lịch Dương hơn hai ngàn dặm, hai ngày hai đêm hắn chỉ ăn vài miếng thịt bò khô vào ba khoảng trống cho ngựa ăn. Mặt trong đùi hắn đã bị chiếc yên ngựa thô ráp mài rách da thịt, đau đến mức hắn trên suốt dọc đường không ngừng cắn răng hít khí lạnh. Con chiến mã Tây Vực hiếm có đó, bình thường hoàn toàn không cần dùng roi ngựa. Thế nhưng lần này lại bị hắn quất cho chi chít vết máu khắp người, Cảnh Giám đau lòng không ngừng mắng chửi chính mình, thế nhưng vẫn không kìm được mà quất mạnh roi vào chiến mã. Hắn chỉ có một nguyện vọng, nhanh chóng phi nước đại về Lịch Dương! Thế nhưng khi nhìn thấy vị quốc quân trẻ tuổi giống như mình, sức định lực khác thường của Tần Hiếu Công khiến hắn vô cùng kinh ngạc. Cảnh Giám cũng giống như đa số đại thần nước Tần, biết rất ít về vị quốc quân vừa mới lên ngôi hơn nửa năm nay. Thời niên thiếu, Cảnh Giám thậm chí còn từng cùng vị công tử lúc bấy giờ kề vai chiến đấu trên chiến trường mấy năm, hai vị thiếu niên kỵ sĩ giao tình vô cùng thân thiết. Có người chế giễu rằng, nếu Doanh Cừ Lượng mà làm quốc quân, Cảnh Giám nhất định sẽ là "lộng thần" của quốc quân. Thế nhưng nước Tần chiến tranh liên miên động loạn không yên, Cảnh Giám từ sớm đã theo phụ thân chuyển dời đến chiến trường phía tây, còn Doanh Cừ Lượng thì vẫn luôn ở lại phía đông chiến đấu chống lại nước Nguỵ. Mãi cho đến trước thềm trận chiến Thiếu Lương năm ngoái, hắn mới nhận lệnh điều động về phía đông, làm phó tướng tiền quân. Binh đao gấp gáp, mười năm trôi qua vùn vụt, hai người hầu như không có cơ hội gặp mặt. Thời điểm động loạn tân quân lên ngôi cuối năm ngoái, Cảnh Giám phụng lệnh Doanh Kiền, dẫn bốn ngàn thiết kỵ ẩn giấu đóng quân bên ngoài thành Lịch Dương làm lực lượng ứng cứu khẩn cấp. Dù nói là do tình hình chưa loạn nên không được dùng tới, nhưng lòng trung thành kiên son của vị phó tướng tiền quân này vì thế mà ai cũng biết rõ. Một tháng trước, nghe đồn sáu nước sẽ hội minh ở Phùng Trạch, tân quân Doanh Cừ Lượng vậy mà lại trực tiếp điểm tướng, phái Cảnh Giám làm sứ giả Kim lệnh tiễn sang nước Nguỵ hoạt động bí mật dò la tin tức. Cảnh Giám cảm thấy, quốc quân chắc chắn đã đánh hơi thấy bầu không khí bất thường của hội minh sáu nước. Bởi vì trong lịch sử nước Tần, chưa từng có sứ mệnh trọng đại cực kỳ đặc biệt nào mà lại khởi động Kim lệnh tiễn. Phàm là kẻ cầm Kim lệnh tiễn, không những có thể đi lại tự do không bị cản trở trong nước Tần, mà ở nước ngoài nếu gặp người nước Tần, cũng có thể ra lệnh cho họ làm bất cứ việc gì cần thiết. Tân quân lần đầu tiên khởi động Kim lệnh tiễn, đủ thấy sự cảnh giác và coi trọng của ngài đối với hội minh sáu nước, đủ thấy sự tín nhiệm đối với người bạn tri kỷ thời niên thiếu này của ngài. Thế nhưng, khi vị tân quân này nhìn thấy mình vội vã vắt giò lên cổ chạy về, lại ngăn cản sự giãy giụa bẩm báo của hắn, bằng sự chu đáo và chân thành khác thường, quan tâm đến sự mệt nhọc vì đường sá xa xôi của hắn. Cảnh Giám vốn là con cháu thế gia, từ nhỏ đã chứng kiến không biết bao nhiêu vương công quý tộc, cái bộ dáng sai khiến hách dịch đó hầu như là căn bệnh trầm kha mà tất cả quý tộc khó lòng khắc phục được. Thế mà vị quân chủ trẻ tuổi này lại mộc mạc đôn hậu đến thế, trong lời nói cử động lại không có dù chỉ một chút khoa trương phù phiếm. Trong một khoảnh khắc, Cảnh Giám nhớ đến một câu cổ ngữ: "Cương nghị mộc nạc, khả thành đại khí".
Dù cảm động, Cảnh Giám vẫn vô cùng sốt ruột, thở hổn hển nói với giọng nặng nề gấp gáp:
– Quân thượng, sáu nước Sơn Đông hội minh ở Phùng Trạch. Minh chủ là Nguỵ Huệ Vương, chủ đề hội minh là sáu nước định thiên hạ. Quan trọng hơn là, sáu nước đã ký kết ba điều minh ước: Thứ nhất, sáu nước hỗ tương không dùng binh với nhau. Thứ hai, vạch rõ phạm vi thế lực thôn tính các chư hầu nhỏ. Thứ ba, sáu nước chia cắt nước Tần, cùng nhau tiêu diệt nước Tần, sau đó cắt trả lại cho nước Tề hai trăm dặm đất.
Tần Hiếu Công đứng đối diện với Cảnh Giám, sắc mặt càng lúc càng âm trầm. Nghe Cảnh Giám nói xong, ngài nửa ngày không nói câu nào, cũng không nhích người, đôi mắt chỉ chằm chằm nhìn màn đêm dày đặc ngoài khung cửa sổ.
– Quân thượng? – Cảnh Giám có hơi hoảng hốt, khẽ gọi một tiếng.
Tần Hiếu Công lững thững bước đi, vòng ra trước giá sách rồi đột nhiên đặt câu hỏi:
– Bọn chúng chuẩn bị chia cắt nước Tần thế nào? Có mưu đồ gì nằm ngoài dự liệu không?
– Thần đã mua chuộc một tên thiên phu trưởng hộ vệ hành viên Phùng Trạch, giả trang làm tùy tùng của hắn tuần tra cảnh giới bên ngoài đại trướng của Nguỵ Huệ Vương. Nhưng vào đại điển hội minh, tên thiên phu trưởng đó bị phái đến bãi săn chuẩn bị công việc săn bắn, thần cũng đành phải đi theo. Cho nên những mưu tính chi tiết của hội minh, thần không thể trong lúc vội vàng mà hay biết được. Ngày hôm sau hội minh, thần giả vờ vây bắt hươu nai, trốn khỏi bãi săn, phi ngựa về gấp trong đêm. – Trong lời nói của Cảnh Giám mang theo sự áy náy tự trách sâu sắc.
– Không can đại cục. Nghĩ cách đi, tiếp tục dò la đi. – Ngữ khí của Tần Hiếu Công tỏ ra vô cùng bình đạm.
Cảnh Giám chắp tay nói:
– Vâng, quân thượng, thần lập tức đi Đại Lương lần nữa!
– Không cần, ngươi ở lại Lịch Dương, người đi dò la ngươi phái người khác đi là được.
Cảnh Giám dường như vẫn muốn xin lệnh lần nữa, nhưng cuối cùng vẫn thốt ra hai chữ "Tuân mệnh".
Tần Hiếu Công vẫn đang bước đi thong thả, hầu như là đi một bước lại dừng một nhịp, dừng lại còn nhiều hơn đi. Cảnh Giám đứng giữa sảnh chốc lát không biết phải làm sao. Nhìn những bước chân nặng nề của vị quân chủ trẻ tuổi này, hắn cảm nhận một cách chân thực áp lực trong lòng quốc quân. Đối mặt với tai họa diệt vong, bất kỳ sự hoảng loạn nào cũng có thể là bình thường. Nếu vị tân quân trước mặt rơi nước mắt kêu khóc hay không biết xoay sở ra sao, Cảnh Giám ngược lại sẽ biết phải an ủi ngài thế nào, sẽ kể cho ngài nghe những nguy nan mà nước Tần đã trải qua vô số lần, sẽ đưa ra cho ngài những mưu kế đủ kiểu đã nghĩ sẵn trên đường đi. Thế nhưng vị quân chủ trẻ tuổi trước mặt này, vậy mà lại từ giây phút ban đầu không hề có dù chỉ là một khoảnh khắc hoảng loạn. Sức định lực này, sự tĩnh lặng này, ngược lại khiến Cảnh Giám cảm thấy không biết phải xoay sở ra sao, không biết nên nói gì nên làm gì, thậm chí không biết có nên đem đối sách của mình ra nói hay không.
– Cảnh Giám, – Tần Hiếu Công cuối cùng cũng quay đầu lại, bình tĩnh như thường, – ngươi hãy về ngủ một giấc thật ngon trước đã. Ta phải bình tĩnh lại, suy tính cho kỹ càng một phen. Sáng mai thiết triều ở Chính sự đường, ngươi cũng tham dự, quân thần chúng ta cùng nhau bàn bạc kế sách hóa giải. Thế nào?
– Quân thượng bảo trọng, thần, tuân mệnh. – Cảnh Giám kích động đến mức giọng nói run rẩy.