Đại Tần Đế Quốc 1: Hắc Sắc Liệt Biến

Lượt đọc: 459 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết Thứ Tư
Cẩn Thận Thăm Dò Lúc Mới Vào Đất Tần

❊ ❊ ❊

Vào Hàm Cốc quan, đến doanh trại nước Ngụy ở Hoa Sơn, đi ngựa nhanh cũng chỉ nửa ngày đường.

Con ngựa trắng Vệ Ương cưỡi là vật cưỡi thường ngày lúc ông làm Trung thứ tử ở phủ Công Thức Tỏa, đoạn đường này vậy mà đi mất trọn hai ngày. Cũng không phải chân lực ngựa trắng quá yếu, thực ra là Vệ Ương không vội bước vào Lạc Dương. Vệ Ương muốn ngắm nhìn nước Tần cho thật kỹ, nhân tiện khảo sát phong tục tình hình nước Tần một phen. Dù sao thì nước chư chiến này bị nước Ngụy phong tỏa ở phía tây Hàm Cốc quan đối với ông mà nói vẫn còn xa xôi và lạ lẫm. Nói cho chính xác, nghe danh rất nhiều, nhưng chưa từng đặt chân lên mảnh đất thần bí này. Đối với một kẻ sĩ từng trải qua nhiều chuyến du ngoạn như ông, đây không thể không nói là một sự tiếc nuối.

Tổ quốc của Vệ Ương là nước Vệ ở vùng phì nhiêu nhất khúc giữa sông Đại Hà. Chư hầu quốc kia tuy không lớn, nhưng lại là đất phong của hậu duệ Ân Thương, thương gia phát triển, sinh kế nhân dân sung túc, phong tục dân gian cởi mở. Tổ tiên của ông vốn là vương tộc chư hầu thời vua Bàn Canh hưng thịnh của thương triều, vì là chư hầu tước "Công" bậc nhất, cho nên mới dùng "Công Tôn" làm họ. Sau khi Thương vương triều dời đô đến Triều Ân Ca, bộ tộc Công Tôn thảm bại trong đại chiến với Nhung Địch phương tây, từ đó suy sụp không gượng dậy nổi, ngày càng lụi tàn. Đến thời Trụ vương cuối nhà Thương, họ Công Tôn chỉ còn là một Hạ đại phu trong điện của Trụ vương. Chu Võ vương phạt Trụ, Công Tôn đại phu tử trận ở Mạnh Tân, bộ tộc Công Tôn liền tan tác như chim muông. Đến thời Chu Thành vương, Chu công nhiếp chính để an ủi cựu bộ Ân Thương, liền phong hậu duệ vương tộc Ân Thương ở Bộc Dương đối ngạn với cố đô Triều Ca qua sông, làm nước chư hầu, định tên là nước Vệ, ý là trông coi đất cũ của tổ tiên. Lúc bấy giờ, hậu duệ Ân Thương tản mác khắp bốn biển liền lần lượt trở về nước Vệ an cư lạc nghiệp. Hơn hai mươi gia tộc phần dư họ Công Tôn cũng dời từ bờ biển phía đông về lại cố thổ. Trải qua mấy trăm năm thái bình sau đó, tình cảm Ân Thương của người nước Vệ đã bị mài mòn sạch sẽ. Ngoại trừ quý tộc chấp chính nước Vệ, hệ thống bộ tộc và họ hàng cũ của thứ dân trong quá trình dung hợp giao lưu đã sớm cách xa dấu vết của tổ tiên. Nhất tộc họ Công Tôn do sa sút thành thương gia bình thường, tự thấy hổ thẹn với họ tộc vương tộc "Công Tôn", bèn theo thói đời mà đổi sang họ Vệ giống như rất nhiều người nước Vệ khác.

Tịch cao tằng của Vệ Ương tên là Vệ Tự, người đời gọi là "Văn Thương", chính là thương gia văn lộ chuyên thu mua tre trúc chế thành thẻ tre, bán cho quan phủ và kẻ sĩ. Việc làm ăn này lợi kim không cao, nhưng lại khá ổn định, thế là cũng dần dần giàu lên. Ông nội Vệ Hoàn lại càng mở rộng thêm, đã trở thành đại thương nhân chiếm lĩnh thị trường thẻ tre của mười chư hầu quốc. Cha là Vệ Hách, cần cù trung hậu, nhưng bản lĩnh biến đổi đường làm ăn lại bình bình. Chỉ có một sở trường lớn, chính là trong lúc lên núi sâu chặt tre và bán rẻ thẻ tre, đã kết giao được rất nhiều cao nhân danh sĩ cùng người ẩn dật chốn bụi trần. Sau đó, Vệ Hách liền tặng thẻ tre thượng hạng cho các kẻ sĩ đọc sách một cách đồng loạt, không thu một đồng xu nào. Thẻ tre họ Vệ vốn dĩ đã tạo dựng được thanh danh, thiên hạ gọi là "Vệ giản". Nào ngờ do việc Vệ Hách bán rẻ và hay tặng kèm nên thu vào ít hơn chi ra khiến nguồn tài chính suy sụp, sáu xưởng làm ăn rốt cuộc lỗ mất năm. Vệ Hách bèn dứt khoát bán đi cái xưởng cuối cùng, cưới con gái của một ẩn sĩ làm vợ, đóng cửa làm người đọc sách. Năm Vệ Hách bốn mươi tuổi, Vệ phu nhân sinh hạ một con trai, ngoại công ẩn sĩ đặt tên cho cậu là "Ương", ý chỉ lớp da trâu dẻo dai dưới cổ ngựa. Ngụ ý của lão nhân vô cùng sâu xa, có lẽ muốn ngoại tôn nhỏ trở thành lớp da cổ ngựa giữ chặt gia tộc họ Vệ, cũng có thể kỳ vọng ngoại tôn nhỏ dẻo dai như da cổ ngựa, thậm chí có thể kỳ vọng cậu trở thành dũng sĩ thuần phục ngựa chiến. Nhưng dù kỳ vọng sâu xa thế nào đi nữa, ngoại công lớn và người mẹ xinh đẹp đều qua đời trong một trận dịch hạch khi cậu mới ba tuổi. Vệ Hách cô độc u uất thành bệnh, tự cảm thấy chẳng còn sống trên đời bao lâu nữa, bèn phó thác đứa con trai út bốn tuổi cho một cao nhân ẩn cư chốn núi sâu, rồi buông tay lìa đời.

Ẩn sĩ núi sâu nhất ngôn cửu đỉnh, mang Vệ Ương nhỏ vào dãy Vương Ốc Sơn mênh mông rậm rạp, tự tay nuôi nấng dạy dỗ. Vệ Ương bốn tuổi biết chữ, năm tuổi luyện kiếm, tám tuổi đọc sách làm văn, mười hai tuổi tu học pháp gia chi học, mười ba tuổi bắt đầu theo thầy du lịch thiên hạ, đi khắp các danh sơn đại xuyên của các nước. Năm mười sáu tuổi, sư phụ bí mật đưa cậu đến phủ Thừa tướng Công Thức Tỏa nước Ngụy để thực tế tu tập chính vụ. Trong năm năm, cậu mượn việc thu thập pháp lệnh điển tịch cho Công Thức Tỏa, một lần nữa khảo sát lại các nước Trung Nguyên, có được sự hiểu biết và phỏng đoán thiết thực về sinh kế trị dân của các nước. Phải nói rằng, ở độ tuổi hai mươi mốt, một kẻ sĩ có kiến thức uyên bác như vậy là cực kỳ hiếm thấy.

Đáng tiếc là, Vệ Ương lại chưa từng đến nước Tần bao giờ.

Trong thời đại Vệ Ương lớn lên, các nước phương Đông liệt nước Tần vào hàng man di bang, loại bỏ ra ngoài văn minh Trung Nguyên. Sự khinh miệt này, thậm chí còn vượt xa sự khinh miệt dành cho một man di bang khác là nước Sở. Căn nguyên ở chỗ, bộ tộc Tần lâu ngày sống chung với Nhung Địch phương tây, chỉ dựa vào sức mạnh vũ dũng mà trở thành đại chư hầu, cái gọi là căn cơ dã man. Hễ kẻ sĩ quan lại tụ họp, luôn luôn bàn luận rôm rả về đủ thứ lạc hậu ngu muội và dã man của nước Tần. Phong tục dân gian là "ba đời ở chung, nam nữ ở chung phòng; tiết hàn thực uống nước ác, ưa nhàn ghét lao"; trị dân là "hung hãn hiếu chiến, không thông lễ pháp"; trí tuệ dân gian lại càng "ngu độn man dã ngốc nghếch, không biết thi thư". Cho dù là đối với Tần Mục Công hưởng thụ danh tiếng lẫy lừng, cũng có tiếng ác "tuẫn táng khốc liệt, lạm dụng man di" trút lên đầu. Trong mắt kẻ sĩ phương Đông, nước Tần là một mảnh đất dã man đáng sợ, ngoài đánh giặc ra, tuyệt đối ngàn vạn lần đừng đặt chân lên mảnh đất ác đó. Trong tình thế những bàn tán đồn đại lan truyền từ lâu này bao năm qua bao phủ phương Đông, rất ít kẻ sĩ ào ạt đổ vào nước Tần. Hàng trăm năm qua, ngoại trừ Lão Tử và đệ tử Mặc gia cá biệt từng đặt chân vào nước Tần, "nước Tần không có sĩ" vẫn luôn là nhận thức chung của thiên hạ. Trong nhận thức chung nối tiếp nhau đời này qua đời khác ấy, thầy của Vệ Ương và bản thân Vệ Ương đều không thể tránh khỏi thói đời. Họ thậm chí còn du lịch ở một "man di bang" khác là nước Sở nửa năm, nhưng chưa từng nghĩ đến chuyện qua nước Tần. Nếu không có sự khai sáng của vị lão nhân thần bí đó cùng cuộn cầu hiền lệnh đinh tai nhức óc kia, Vệ Ương thực sự không biết đời này mình có đến nước Tần hay không?

Chính vì xa lạ mà thần bí, Vệ Ương mới quyết định tìm đến thăm dò. Ông kỳ vọng trước khi vào Lạc Dương, có thể đưa ra một sự đánh giá đại khái về quốc gia có bộ mặt dữ tợn trong mắt kẻ sĩ phương Đông này.

Vừa vào Hàm Cốc quan, chính là vùng Hà Tây. Thời kỳ Chiến Quốc, hễ nhắc đến hai chữ "Hà Tây", điều người ta nghĩ đến chính là những cuộc giao tranh giằng co kéo dài giữa nước Ngụy và nước Tần. "Hà Tây" chính là đoạn bờ tây nơi sông Hoàng Hà chạy theo hướng bắc nam, phía nam đại khái bao gồm cao nguyên Đào Lâm, khu vực Hào Sơn, cho đến Hoa Sơn, đông tây chừng ba trăm dặm; phần giữa đại khái bao gồm lưu vực hạ trung du Lạc Thủy cùng các vùng hiểm yếu như Thạch Môn, Thiếu Lương, Bồ Bắc; phía bắc đại khái bao gồm Điêu Âm, Cao Nô, Phu Thi, cho đến tận Vân Trung ở phía bắc xa hơn nữa. Đây chính là vùng đất Hà Tây mà người thời Chiến Quốc gọi. Mảnh đất mênh mông rộng ngàn dặm ở bờ tây Hoàng Hà này, vào thời đại Tần Mục Công đều là lãnh thổ nước Tần. Sau đó dần dần bị ba nước Ngụy, Triệu, Hàn tước thực. Nhất là hai danh tướng thời Ngụy Văn Hầu — Ngô Khởi và Nhạc Dương, phát động đại chiến với nước Tần và các chư hầu khác bảy mươi sáu lần, thắng sáu mươi bốn lần, hòa mười hai lần, khiến lãnh thổ nước Ngụy mở rộng lớn lao, trong đó mảnh đất lớn nhất cướp được chính là vùng đất Hà Tây của nước Tần. Lúc bấy giờ, chính là lúc bốn đời quốc công Tần Giản, Lệ, Táo, Xu nắm quyền, là thời kỳ hỗn loạn suy yếu nhất của nước Tần, hoàn toàn không có khả năng đối kháng với nước Ngụy hùng mạnh mới nổi. Vệ Ương đối với vùng đất đã bị nước Ngụy chiếm đóng hơn ba mươi năm này, đại khái xem như quen thuộc. Nước Ngụy đối với vùng đất Hà Tây vốn thuộc về nước Tần cũ này, cũng không hề thi hành biến pháp tương ứng, chế độ tỉnh điền, chế độ lệ nông vẫn được giữ lại. Cũng không phong cho bất kỳ công thần nào làm đất phong, nói cho chính xác, không có một đại thần nào chịu bị phong đến đây cả. Sách lược của nước Ngụy là chia vùng đất Hà Tây thành mười sáu huyện, do vương thất phái huyện lệnh trực tiếp quản lý, thuế má gom chung về vương thất; bắt dân Hà Tây chịu thuế nặng và lao dịch thường xuyên, nhưng lại không cho phép họ tòng quân. Nước Ngụy không tin tưởng thần dân của "man di bang" này, chỉ xem họ như phu cày và trâu ngựa, chứ không muốn để họ trở thành kỵ sĩ quang vinh. Ngày tháng sung túc của dân chúng Hà Tây và dân chúng bản thổ nước Ngụy cách nhau rất xa, chỉ đành giãy giụa khổ sở trên vạch ấm no mà thôi.

Trong mắt Vệ Ương, đây là phương pháp ngu ngốc nhất đối với lãnh thổ mới, là chính sách khắc nghiệt bức bách thứ dân Hà Tây ly tâm ly đức. Ông từng mấy lần dâng thư lên Công Thức Tỏa, kiến nghị nước Ngụy thi hành "khoan thuế nhẹ dịch, cho phép dân nhập ngũ" mang tính "hóa tâm khoan chính". Công Thức Tỏa vô cùng tán thưởng, thế nhưng lại không tài nào nhận được sự đồng tình của Ngụy vương và tầng lớp thượng uy nước Ngụy. Ngụy vương nói, đây là tổ chế, không thể dễ dàng lay động, hãy nhìn các lão thần thế tộc xem sao? Các lão quý tộc lại nói, người Tần man tiện, chỉ đáng làm lao dịch, há có thể dùng vương đạo mà đối đãi?

Vệ Ương không nán lại vùng Hà Tây, vào Hàm Cốc quan liền quất ngựa hướng tây, cho đến khi nhìn thấy Hoa Sơn mới chậm cương buông lỏng.

Ông chọn quan đạo bờ bắc Vị Thủy làm con đường đi về phía tây, muốn xem vùng bụng địa nước Tần rốt cuộc ra sao? Con đường này nói là quan đạo, thực chất chỉ là một con đường đất vàng lồi lõm chỉ đủ để tránh xe cộ. Chỉ riêng điểm này, cũng đủ thấy nước Tần quả thực nghèo khó. Vệ Ương vừa đi vừa nhìn, lại biến thành kẻ sĩ du học năm xưa. Gặp nhà nông ven đường liền bước vào xin hớp nước, thăm hỏi chủ nhà dạo chơi chốc lát. Khi trời tối hẳn, liền nghỉ lại ở một nhà nông, nói chuyện thẳng đến canh ba với chủ nhà. Sáng sớm hôm sau, Vệ Ương và chủ nhà cùng lúc thức dậy, bịn rịn từ giã, lại lên đường đi về phía tây.

Đi ngựa nửa ngày, đã là vùng bình nguyên Vị Thủy. Chỉ thấy mặt nước Vị Thủy rộng lớn sóng nước cuồn cuộn, hai bên bờ lại là bãi hoang kiềm mặn trắng xóa nhìn không thấy bờ, cỏ dại bụi cây trong bãi chỗ đứt chỗ nối, thoạt nhìn như những ốc đảo giữa đồng tuyết. Thỉnh thoảng có cơn gió lớn thổi qua, liền cuốn lên mây bụi trắng khắp trời, ập thẳng vào mặt, gầm thét lướt qua, một mảnh hoang vu, một mảnh tịch mịch. Cho đến tận vùng gò giáp núi ngoài bãi kiềm mặn, mới thấp thoáng điểm xuyết chút nhà dân cùng làn khói bếp lượn lờ. Vệ Ương không khỏi sinh lòng cảm khái, vì sự hoang vu nghèo nàn của mảnh đất phì nhiêu này mà thở dài sâu kín. Chăm chú nhìn ngắm, lại thấy phía trước không xa có một đám nông dân đang nạo vét mương, ánh nắng mùa hè chiếu lên thân hình ngăm đen của họ lấp lánh hạt mồ hôi. Vệ Ương liền buộc ngựa trắng vào cây bên đường, tháo túi da đi tới.

Những người nông dân cặm cụi làm việc, không một ai ngẩng đầu nhìn ông.

"Dám hỏi các vị phụ lão, đây là nơi nào vậy?" Vệ Ương cung kính chắp tay hỏi.

Một người đàn ông trung niên ngẩng đầu lên, nheo hai mắt dưới ánh nắng gắt, dùng một mảnh vải lớn dơ bẩn buộc ở thắt lưng lau mồ hôi, đánh giá ông rồi thở dốc nói: "Bẩm đại nhân, đây là Bạch thôn, thuộc sự quản hạt của Ly Ấp."

"Các vị phụ lão, nắng hè oi ả, hãy nghỉ ngơi dưới gốc cây chốc lát đi."

Người trung niên nói: "Cũng được, đại nhân đã nói thế, thì nghỉ ngơi chốc lát vậy." Dứt lời, hơn mười nông dân dưới mương mang bùn nước trèo lên, phịch người ngồi bệt xuống đất cạnh gốc cây thở dốc lau mồ hôi.

Vệ Ương giơ chiếc túi da trong tay cười nói: "Ta là vải áo du học, không phải đại nhân. Nào, uống một bát rượu gạo thanh mát." Nói đoạn liền bày ra chồng bát gốm mà nông dân dưới cây dùng để uống nước, lần lượt rót đầy rượu gạo, cười nói: "Đừng khách khí, nào, cùng cạn nào." Hai tay đưa một bát cho người trung niên nọ, "Xin mời."

Người trung niên thụ sủng nhược kinh đón lấy, cười phác họa chất phác: "Tiên sinh mời rượu, mọi người uống đi."

Nông dân lần lượt nâng bát lên, đồng thanh nói: "Đa tạ tiên sinh." Uống cạn một hơi.

Vệ Ương cũng uống cạn một bát, cười hỏi: "Dám hỏi phụ lão, các bác đây là hợp sức cày ruộng phải không?"

Người trung niên lại cười chất phác một tiếng: "Tiên sinh du học, có điều không biết. Tám hộ chúng tôi là một tỉnh, hôm nay là ngày hợp cày công điền. Quan phủ phái người nạo vét con mương nước này, chúng tôi liền tới nạo vét."

"Ở đây không có ruộng cày, mương nước có tác dụng gì chứ?"

"Tiên sinh nhìn xem," người trung niên chỉ vào bãi trắng xóa, "Bãi kiềm mặn hai bên Vị Thủy này kỳ lạ lắm, chỉ mọc cỏ, không mọc lương thực. Nước đọng trong veo trên bãi đất đó vừa mặn vừa đắng, không ăn được, cũng không tưới ruộng được, hại chết người ta đấy. Nạo vài con mương nhỏ, nước mặn đắng từ từ chảy đi theo mương rạch, trên bãi sẽ sinh ra vài mảnh ruộng mỏng. Ngươi xem, mấy mảnh trồng hoa màu kia đều là."

Vệ Ương nhìn lại, trong vài mảnh ruộng lớn chừng một hai mẫu, lất phất lúa đại mạch thấp bé yếu ớt, không nhịn được hỏi: "Một mẫu ruộng thu được mấy đấu?"

"Mấy đấu á? Thu lại được hạt giống, đã là tạ ơn trời đất rồi." Một lão nhân lớn tiếng chen lời.

"Sao còn trồng nó làm chi? Cộng thêm sức người, há chẳng phải lỗ vốn nặng sao?" Vệ Ương vô cùng nghi ngờ.

Người trung niên thở dài nói: "Tân quân hạ lệnh khai hoang, muốn thu thêm chút lương thực. Nhưng ngài ấy nào đâu biết, bãi kiềm mặn này không sinh ngũ cốc chứ?"

Vệ Ương nhìn những người nông dân, ngoại trừ người trung niên này ra, số còn lại hầu như đều là những lão nhân tóc tai điểm bạc, không nhịn được hỏi: "Vị đại ca này, ta thấy toàn là người già cày ruộng, sức đinh sức tráng đi đâu cả rồi?"

Người trung niên lãnh đạm đáp: "Ngươi hỏi đám thanh niên ấy á, đi lính cả rồi."

"Ngươi là Tỉnh chính, không đi lính, phải không?"

"Đúng vậy, mỗi tỉnh giữ lại một tráng đinh. Hầy, còn chẳng bằng đi lính chiến tử, một trăm là xong."

"Vị đại ca này, nơi đây sao gọi là Bạch thôn? Có liên quan gì đến bãi cát trắng này không?"

Sắc mặt một lão nhân đỏ bừng, lớn tiếng nói: "Bãi trắng? Xí! Bạch thôn chúng ta là con cháu công thần đấy."

Vệ Ương vội vàng chắp tay cười nói: "Tại hạ vô tri, xin lão bá lượng thứ. Chẳng lẽ là Bạch Ất Bính đại tướng thời Mục Công?"

Người trung niên mỉm cười gật đầu: "Bạch thị nhất tộc, gốc ở Mi Huyện. Hiến công dời đô về Lạc Dương, dời rất nhiều người Tần cũ ở phía tây sang phía đông, Bạch thị dời đi một nửa, gốc rễ cũ vẫn ở Mi Huyện đấy."

"Bạch thôn cách đại quân nước Ngụy gần như vậy, các người có sợ không?"

"Oai phong lẫm liệt lão Tần, cùng phó quốc nạn. Sợ cái gì chứ?" Người trung niên cười nhạt chất phác một tiếng, đứng dậy nói: "Không dám trò chuyện nữa, việc chính mới quan trọng."

Vệ Ương cúi sâu người chào nông dân: "Các vị phụ lão, làm phiền nhiều rồi, xin cáo từ tại đây." Nông dân chắp tay, lần lượt nhảy xuống mương nước, lội bùn đạp nước làm việc tiếp.

Vệ Ương đứng bên mương, lặng lẽ nhìn hồi lâu, hai mắt lại không kiềm được mà ngấn lệ. Ông đột nhiên sinh ra một loại nguyện vọng——nhanh chóng đến Lạc Dương, không thể chần chừ thêm nữa.

Ngựa trắng buông bốn vó phi nước đại, đi đi nghỉ nghỉ, khi bóng chiều buông xuống cuối cùng cũng đến Lạc Dương. Ánh chiều tà sót lại chiếu rọi lên tòa thành màu đen, tù và đóng cửa thành trầm đục du dương đã thổi hai lượt, cáp sắt hai bên cầu treo đã kêu leng keng buông xuống, những người nông dân làm ruộng về thành chưa kịp cũng rảo bước nhanh hơn. Vệ Ương từ xa đánh giá tòa thành đen hùng vĩ kỳ dị này một hồi, cuối cùng trước tiếng tù và thứ ba đã giương ngựa vào thành.

Vào trong thành, Vệ Ương liền dắt ngựa đi bộ. Thành Lạc Dương rất nhỏ, đại khái chỉ cỡ một huyện thành hạng trung của nước Ngụy. Cũng không cần hỏi đường, Vệ Ương dựa vào chút ít giới thiệu của người nông dân về Lạc Dương dọc đường, đi dạo bốn con đường duy nhất. Bốn con đường này đều rất ngắn rất hẹp, đan xen thành hình chữ "Tỉnh", quốc phủ nước Tần nằm ngay trong góc trên cùng của chữ "Tỉnh" này, tức là chỗ tận cùng phía bắc. Trên con đường nam bắc bên tay phải quốc phủ, Vệ Ương không tốn sức mấy đã đâm sầm vào cái quán trọ mà Bạch Tuyết đã nói.

Con phố nhỏ này chỉ có năm sáu cửa hàng và hai ba xưởng thủ công, đều là nhà gạch xanh thấp tè. Quán trọ này tuy cũng là nhà gạch xanh, nhưng lại cao hơn các cửa hàng khác một đoạn lớn. Tiền sảnh xây bằng đá thanh, trước cửa chầu hai con trâu đá. Dưới hành lang treo cao hai chiếc đèn lồng lụa trắng to bằng cái đấu, hai chữ "Vị Phong" từ xa đã có thể nhìn thấy. Đối diện ngay lối vào tiền sảnh là một bức bình phong cao lớn, che khuất cảnh tượng trong sân viện. Nghe người Tần cũ dọc đường nói, đại môn của quán trọ này chưa bao giờ đóng, dưới tiền sảnh thì vĩnh viễn đứng một tên thị giả mặc áo đen không chút biểu cảm. Nhìn tình hình hiện tại, quả nhiên là vậy. Ở An Ấp, quán trọ này chỉ có thể coi là một tiệm nhỏ mạt lưu, chuyên để cho tiểu thương phiền toái trọ qua đêm mà thôi. Thế nhưng ở đây, trên con đường này, nó lại hiển hách nổi bật, tựa như hạc giữa bầy gà vậy. Vệ Ương đánh giá một phen, cảm thấy ở đây hình như quá phô trương, ngặt nỗi trong lúc cấp bách lại chẳng biết đi đâu về đâu, nghĩ thầm cứ ở lại đây trước đã, quả thực không phù hợp thì mấy ngày nữa dọn ra cũng chưa muộn.

Vệ Ương dắt ngựa đến trước cửa. Thị giả áo đen dưới đèn lồng liếc nhìn ông một cái, trên mặt liền lộ ra nụ cười kinh ngạc mừng rỡ, ôm quyền chắp tay một cái, liền đưa tay đón lấy dây cương, lại đưa tay ra hiệu Vệ Ương tự mình đi vào, hắn phải dắt ngựa đi qua cửa phụ vào chuồng ngựa ở sân sau. Một tràng ra hiệu, vậy mà một câu cũng không nói, nhưng ý tứ lại hoàn toàn không sai sót chút nào. Vệ Ương mỉm cười, biết người này là một kẻ câm, liền giao dây cương vào tay hắn, tự mình bước vào trong sân.

Vòng qua bức bình phong, liền thấy hai dãy phòng khách kẹp lấy khu sân viện sâu thẳm, cực kỳ ngăn nắp sạch sẽ, chỉ là các phòng đều tắt đèn, rõ ràng không có khách. Vệ Ương đang quan sát, một thị giả trẻ tuổi đi tới hỏi: "Dám hỏi tiên sinh, có phải từ An Ấp tới không?" Vệ Ương gật đầu. Thị giả cung kính nói: "Chủ nhân nhà tôi đã đợi tiên sinh nhiều ngày rồi, xin mời theo tôi." Liền dẫn Vệ Ương xuyên qua sân phòng khách, đến tiểu viện tận cùng bên trong. Dưới bóng đèn đung đưa, có thể thấy tiểu viện này lát gạch vuông, giữa sân có hai cây hòe lớn, u tịch sạch sẽ. Thị giả đi đến trước một căn phòng đang sáng đèn ở giữa lớn tiếng nói: "Tiên sinh, tiên sinh An Ấp đã tới rồi." Chủ nhân trong phòng cất giọng cười lớn: "Quý khách tới lâm, không nghênh đón từ xa." Theo tiếng nói, người đã vén rèm bước ra chắp tay hành lễ với Vệ Ương: "Tiên sinh xin mời vào, Hầu Doanh đợi đã nhiều ngày rồi." Vệ Ương cũng chắp tay cười nói: "Làm phiền nhọc lòng, Vệ Ương xin đa tạ." Hầu Doanh cười nói: "Đừng khách khí, xin mời vào trong phòng trò chuyện." Lại dặn dò thị giả, "Lập tức chuẩn bị thịt cừu hầm béo ngậy, rượu và thức ăn mang vào trong phòng, ta cùng tiên sinh tiếp gió tẩy trần." Thị giả vâng lệnh một tiếng, bước nhanh đi mất.

Chính phòng của chủ nhân Hầu Doanh là ba gian hai lớp, gian ngoài là một phòng khách nhỏ, mộc mạc đến mức không nhìn ra bất kỳ đặc điểm nào, hoàn toàn khác biệt với vẻ nhã nhặn cổ kính của mặt tiền quán trọ cũng như sân phòng khách. Còn Hầu Doanh là kiểu nam giới trung niên không đoán được tuổi tác, râu tóc đen trắng lẫn lộn, cử chỉ lời ăn tiếng nói đều kiên cường thanh lãng. Hầu Doanh liếc nhìn Vệ Ương một chút, chắp tay cười nói: "Một gặp tiên sinh, mới biết tuệ nhãn của Bạch cô nương không hổ danh. Nào, xin mời ngồi." Vệ Ương ngồi vào trước kỷ gỗ, Hầu Doanh tự tay châm nước trà dâng lên trước mặt Vệ Ương, Vệ Ương áy náy cười nói: "Vội vàng đến Tần. Làm phiền nhiều rồi." Hầu Doanh sảng khoái cười lớn: "Ương huynh chớ nên khách sáo. Ta vốn là đệ tử của Bạch Khuê đại nhân, từng làm Tào quan tướng phủ mấy ngày. Sau vì mẫu thân qua đời, ta về quê nhà Đại Lương chịu tang, liền không quay lại tướng phủ An Ấp nữa. Về sau đại nhân lâm bệnh, ta quay lại An Ấp, nào ngờ đại nhân đã ra đi rồi. Ta cũng đành rời khỏi nước Ngụy, đến nước Tần mở cái tiệm nhỏ này. Hơn mười năm nay, ta vậy mà chưa từng gặp lại Bạch cô nương. Nào ngờ tháng trước nàng ấy lại đến trong đêm, ta còn chẳng nhận ra nữa. Khi ta ở An Ấp, Bạch cô nương mới bốn năm tuổi, cao chừng này thôi. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, chớp mắt một cái, người đã già đi rồi. Có thể vì mấy vị hậu tiến như các ngươi tận chút sức mọn, ta thật sự rất vui mừng đấy." Vệ Ương thấy Hầu Doanh dùng khẩu khí bằng hữu gọi ông là "Ương huynh", lại chủ động kể lại trải nghiệm của mình, trong lòng biết đây là một vị hiệp sĩ lòng dạ phóng khoáng, liền không khách sáo nữa, cười nói: "Hầu huynh bỏ quan kinh thương, sao lại chọn ở nước Tần?" Hầu Doanh lắc đầu cười khổ: "Nói ra thì rất dài dòng, hôm sau sẽ kể tỉ mỉ nhé."

Lúc này, thị giả ngoài cửa nói: "Tiên sinh, rượu và thức ăn đã chuẩn bị xong."

"Mang vào đi." Hầu Doanh vén rèm vải lên.

Hai tên thị giả bưng mâm xách giỏ bước vào, bày rượu thức ăn lên chiếc án gỗ dài, hóa ra lại đơn giản thiết thực, mang đậm phong tục đất Tần. Ở giữa là một chậu gốm lớn, đựng nguyên một đùi cừu hầm béo ngậy nóng hổi nước dùng tươi ngon. Bên cạnh là bốn bát món mặn món chay lớn, lần lượt là quỳ xanh, rau hoắc, hẹ tươi, một đĩa rau dại không tên. Ngoài ra còn có hai chiếc bát đồng nhỏ, lại đựng giấm gạo đỏ tươi và tỏi giã vàng óng. Bên cạnh là một mâm gỗ lớn, bày một chồng bánh bột mì trắng nóng hổi. Đồ đựng rượu lại là những chiếc cốc gốm rất lớn.

Hầu Doanh cười nói: "Người Tần không hoa mỹ, chậu lớn bát lớn, Ương huynh chớ chê thô sơ."

Trong lòng Vệ Ương lại cảm thấy vô cùng an ủi, tựa như ngửi thấy mùi vị cuộc sống thô kệch giản dị cùng thầy trong núi ngày trước. Ông cùng thầy trồng rau, chăm quỳ cắt hẹ ngắt hoắc giã tỏi, đến nay vẫn nhớ như in. Nhìn bộ đồ ăn giản dị và rau xanh tươi mướt trước mắt, chợt cảm thấy một trận tươi mát, không khỏi cảm hoạn nói: "Phong vị Tần thật là bản sắc, khiến những trân tu mĩ vị trên đời phải hổ thẹn."

Hầu Doanh cười lớn: "Hay lắm! Xem ra Ương huynh cũng là hạt giống người Tần. Nào, cạn một chén trước, để vi huynh tẩy trần cho đệ."

Vệ Ương nâng chiếc cốc gốm có tạo hình chất phác lên, cười nói: "Được! Cạn một chén." Hai người chạm cốc, liền ngửa cổ uống cạn.

Hầu Doanh cười hỏi: "Tửu lực thế nào?"

Vệ Ương khẽ thở ra một hơi, chậc chậc kinh ngạc: "Đây là rượu Tần ư? Lại nồng đượm thế này sao?"

"Phải vậy không. Chính là Phượng tửu của nước Tần, tửu lực vượt xa rượu Triệu nhiều lắm."

"Vệ Ương vốn thích rượu mạnh, thường ngày lấy rượu Triệu làm thượng phẩm, nào ngờ nước Tần lại có loại rượu ngon thế này!"

"Người ta nói, rượu là biểu hiện của tính tình dân gian. Nước Tần có loại rượu mạnh thế này, có thể thấy phong cốt lẫm liệt của người Tần rồi đấy."

Vệ Ương cười nói: "Nhìn bộ dạng của Hầu huynh, rất thích nước Tần phải không?"

Hầu Doanh cười chỉ vào chậu gốm lớn nói: "Ương huynh, nếm một miếng thịt cừu hầm đi, hòa giấm gạo và tỏi giã vào, chấm ăn ngấu nghiến, hương vị tuyệt cú mèo. Thử xem nào? Dùng tay không đi, đũa không ăn thua đâu."

Vệ Ương làm theo dặn dò, y theo phép làm, hai tay xé toạc một miếng thịt béo dính xương lớn, nuốt xuống một miếng nóng hổi, quả nhiên béo mềm đậm đà thơm ngậy! Không kìm được cơn thèm ăn trỗi dậy, xé xé một hồi, vậy mà ăn đến hai bên má dính đầy nước dùng, trán túa mồ hôi ròng ròng. Hầu Doanh đưa qua một chiếc khăn tay, Vệ Ương lau chùi một phen, thảnh thơi khen ngợi: "Bản sắc bản vị, sướng đến cực điểm! Cắt không ngay ngắn thì không ăn, Khổng Phu Tử mà gặp phải bản sắc thế này, chắc sẽ tức đến méo miệng cho xem."

Hầu Doanh thấy Vệ Ương hoàn toàn không có vẻ làm bộ làm tịch, vô cùng hợp cạ, không khỏi cười lớn: "Khổng Phu Tử làm gì có cái phúc được ăn thế này? Ương huynh ngươi xem, bốn đĩa rau này đều là cách làm của người Tần, chần qua nước sôi, trộn dầu muối giấm tỏi, càng là bản sắc bản vị. Đĩa rau dại này, người Tần gọi là rau đắng, là thứ cỏ dại mọc trong ruộng lúa mạch. Người Tần đa phần nghèo khổ, đây là món rau thường ngày của các hộ dân bình thường. Nếm thử xem?"

Vệ Ương rất quen thuộc với ba loại rau thường gặp là quỳ, hẹ, hoắc. Đang thầm nghĩ tên gọi của món rau dại này, nghe Hầu Doanh chỉ điểm, lập tức gắp một đũa đưa vào miệng. Chỉ cảm thấy trong vị đất thấm đượm vị đắng cay của cỏ dại non giòn thanh mát, nhai kỹ nuốt xuống, đầu lưỡi vẫn còn vương vị đắng, thở dài nói: "Dùng để ăn kèm trong nhà giàu, có thể xem là món ngon. Nếu làm món rau thường ngày, đúng là rau đắng thật."

Hầu Doanh vô cùng phấn chấn, cười nói: "Ương huynh, nào, cạn lên. Ngươi vừa nãy hỏi ta có phải đã thích nước Tần rồi không? Nói thật với ngươi, ta quả thực rất thích nước Tần. Quốc gia này rất nghèo, nhưng nghèo mà cứng cỏi. Phong tục dân gian chất phác đôn hậu, mua đồ nói giá không hai. Dù không biết thi thư, không thông phong hoa tuyết nguyệt, nhưng lại cực kỳ có phong cách cổ xưa. Sống ở nước Tần, người nghèo hay người giàu đều rất thản nhiên. Ta mở tiệm ở nước Tần, lại là người nước ngoài, nhưng chưa từng gặp phải chuyện binh lính cường nhân cưỡng ép tạc trộm, cũng không cần hối lộ quan phủ, chỉ cần ngươi hằng năm nộp thuế là vạn sự đại cát. Đánh giặc cũng không quấy rầy ta. Ngươi nói xem, có thoải mái hay không? Ngươi từ An Ấp tới, nước Ngụy có mùi vị gì? Nào, cạn lên! Ngươi xem, ta nói chuyện cũng nhiễm giọng Tần rồi. Người Tần thật lợi hại, chỉ tiếc là quá nghèo. Người Tần có một câu nói cổ, có biết không?"

"Oai phong lẫm liệt lão Tần, cùng phó quốc nạn." Vệ Ương từng chữ từng chữ niệm ra.

"Chuẩn!" Hầu Doanh đét một phát vào án gỗ: "Chính là câu này. Nào, cạn lên! Ương huynh, ngươi nói nước Tần nghèo khó như vậy, đánh giặc mấy chục năm trời mà vẫn cứng cỏi chống đỡ ở đây, dựa vào cái gì? Há chẳng phải dựa vào cái tính bướng bỉnh của người Tần túm tụm lại thành một khối đó sao? Ngươi nói xem, một quốc gia như thế, mà có được tài phú như nước Ngụy, thì sẽ lợi hại thế nào? Nào, cạn lên!"

Vệ Ương cùng Hầu Doanh hết lần này đến lần khác cạn chén, sắc mặt đã đỏ bừng râm rấp mồ hôi, trong lòng lại sảng khoái thông suốt, cười nói: "Hầu huynh cho rằng, điểm không tốt của nước Tần nằm ở đâu?"

Hầu Doanh vỗ trán, trầm tư cười nói: "Thật sự nghĩ không ra đấy. Vẫn là một chữ, nghèo, quá nghèo."

"Không thấy thiếu nhân tài sao?"

"Chuẩn! Chính là thiếu nhân tài. Sao ta lại quên mất cả chuyện lớn thế này cơ chứ? Không thiếu nhân tài, phát cầu hiền lệnh làm gì?"

"Hầu huynh có biết, sau khi cầu hiền lệnh được phát ra, có bao nhiêu kẻ sĩ đến không?"

"Nghe nói là hơn trăm người, quán trọ của ta đây cũng từng trọ hai ba mươi người. Hôm trước quốc phủ đã mở một tòa chiêu hiền quán, bọn họ đều chuyển qua đó rồi. Theo ta thấy, phong cách của những kẻ đám người này trước tiên không ổn đã. Những kẻ trọ chỗ ta đây, ngày ngày kêu gào bắt làm món Ngụy, món Tề cho họ, sau lưng thì chửi nước Tần quá nghèo, đến một chỗ uống rượu ca vũ cũng không có. Hôm trước chuyển đến chiêu hiền quán chỉ có mười ba người, phần lớn số còn lại đều chuồn mất rồi. Nào, cạn lên! Ương huynh, đừng coi thường chữ nghèo này, đất nghèo không bén rễ đâu. Có thể trụ lại ở cái Lạc Dương nghèo hèn hễ trời tối là đen kịt cả thành này, nào có dễ dàng gì?"

Rượu Tần nồng đượm kéo dài kèm theo những lời trò chuyện thâu đêm suốt sáng khiến Vệ Ương ngay đêm đầu tiên đến Lạc Dương đã say mèm. Ông nhìn thấy tiên sinh, nhìn thấy Bạch Tuyết, nhìn thấy công tử Ngang và Bàng Quyên, còn nhìn thấy mây trắng sương trắng ngập trời hai bên bờ Vị Thủy, nhìn thấy bãi kiềm mặn hoang vú mọc cỏ không mọc lúa, nhìn thấy những người nông dân cởi trần lúc nhúc khắp nơi...

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.