Đại Tần Đế Quốc 1: Hắc Sắc Liệt Biến

Lượt đọc: 459 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết Thứ Sáu
Hai Món Đồ Cổ: Giếng Điền Và Nô Lệ

❊ ❊ ❊

Bước sang tháng chín, nước Tần lại sôi sục lên.

Những năm trước, sau vụ thu hoạch mùa thu, gieo thêm lúa mì xuống là trời lại lạnh đi từng ngày. Khi một lớp sương thu trắng xóa phủ xuống, người Tần liền bước vào thời kỳ trú đông dài đẵng đẵng. Cho đến tháng hai năm sau, mọi người mới bước ra từ những cái lò đất, lều tranh, giường sưởi gạch trong nhà ngói, trải qua nạn đói mùa xuân, chuẩn bị cho việc cày cấy mùa xuân.

Vào những năm bình thường, nửa tiểu niên này không có chiến tranh, không có lao dịch, không có lao động, gần như là toàn bộ thời kỳ ngủ đông của đất nước. Con người thời đó sống đơn giản, trầm mặc, tiêu sái. Mọi việc lớn đều bắt đầu từ mùa xuân, kết thúc vào mùa thu. Mùa hè oi bức, mùa đông băng tuyết, mọi người đều ẩn mình lại, rất ít khi làm việc lớn vào lúc tay chân không duỗi thảo mái. Cũng vì điểm này mà Khổng phu tử mới đặt tên cho lịch sử các sự kiện mà ông ghi chép là "XuXuân Thu". Thế là có người nói, con người thời đó còn chưa biết một năm chia làm bốn mùa, chỉ biết hai mùa xuân thu. Một trong những chứng cứ cho thấy điều đó là trong sách cổ không tìm thấy những chuyện về mùa hè và mùa đông. Người đời sau rườm rà phiền phức đã quên mất rằng, việc quan sát thiên văn thời đó đã có thể phát hiện phần lớn các thể sao trên trời và ghi chép lại, còn có thể phát minh ra "Chu Dịch" bát quái nhị phân, lịch pháp đã có thể xác định một năm là ba trăm sáu mươi lăm phẩy hai lăm ngày, sao lại có thể hoàn toàn không hay biết gì về bốn sự thay đổi khí hậu chỉ có trong một năm?

Nói cho cùng, là người đời sau đã quên mất sự thông thái và khí phách rộng lớn của tiền nhân — thời kỳ ẩn mình, có gì đáng nói chứ?

Thế nhưng, truyền thống ẩn mình của người Tần lại bị những điều luật mới của Vệ Ương làm cho xáo trộn. Bởi vì trước khi mùa đông đến, nước Tần phải toàn diện đẩy mạnh pháp lệnh ruộng đất mới. Có điều gì có thể khiến lòng người day dứt hơn ruộng đất chứ? Ruộng đất không chỉ là gốc rễ an thân lập mệnh của nông dân và mục dân, mà ngay cả tông thất quý tộc và huân thần nguyên lão cũng có phong địa và lệ nông phụ thuộc của riêng mình, quan phủ quốc gia cũng có rừng núi, mặt nước và ruộng cày, rất nhiều thương nhân và thợ thủ công cũng có ruộng đất do tổ tiên để lại. Đẩy mạnh pháp lệnh ruộng đất mới, phân chia lại ruộng đất, trên dưới triều dã thực sự là vô cùng kích động. So với sự xáo trộn và oán giận sau khi ban hành đợt pháp lệnh đầu tiên, lần này bình yên hơn rất nhiều, nhưng lại sâu sắc hơn rất nhiều. Mọi người từ pháp trường Vị Thuỷ đã thấy được quyết tâm cứng rắn biến pháp của quốc phủ, bắt đầu thực sự tin tưởng uy nghiêm của điều luật mới.

Điều quan trọng nhất là, những người nông dân, mục dân và quốc nhân cần cù chất phác đều cảm nhận được những lợi ích từ việc trừng trị dân lười biếng, trị tội tư đấu khiến sự quấy nhiễu tuyệt tích, thôn tộc láng giềng vô cùng yên định, từ trong thâm tâm bắt đầu thực sự ủng hộ biến pháp. Những lời oán thán triều dã từng rầm rộ trong suốt mùa xuân hè, theo sự đến của mùa thu, đã dần dần lắng xuống.

Đẩy mạnh pháp lệnh ruộng đất mới, người dân có phần phấn khích và thấp thỏm nhiều hơn, còn quý tộc có phong địa thì lo âu nhiều hơn.

Đối với Tả Thử trưởng phủ của Vệ Ương, mùa thu là một mùa bận rộn hơn.

Phế bỏ giếng điền mà đẩy mạnh chế độ ruộng đất mới là khâu trung tâm của toàn bộ biến pháp, cũng là nền móng căn bản cho sự thành bại của biến pháp. Toàn phủ từ tháng tám đã bắt đầu chuẩn bị ráo riết, lại viên các quan thự quốc phủ ra vào tơi bời như thoi đưa ở Tả Thất trưởng phủ, sứ giả thám mã qua lại như sao băng giữa Lạc Dương và các quận huyện. Phòng sách của Vệ Ương đèn sáng thâu đêm. Trong quốc sự ca sảnh, Cảnh Giám mang theo văn lại ban tử làm việc suốt ngày đêm không ngừng nghỉ. Đối mặt với đại biến thiên nghìn năm có một này, những việc cần làm thực sự quá nhiều.

Giếng điền và nô lệ, là hai món đồ cổ. Từ vua Đại Vũ - vị vua cuối cùng của Ngũ đế - cho đến thời Xuân Thu Chiến Quốc, ba nghìn năm nay, chế độ giếng điền và chế độ nô lệ vẫn sừng sững uy nghiêm, là Thái Sơn Bắc Đẩu trong khung cảnh xã hội Hoa Hạ cổ điển, là cột trụ của vương thất trung ương và các nước chư hầu. Chế độ giếng điền và chế độ nô lệ cộng sinh cộng tồn, chế độ giếng điền là khung của chế độ nô lệ, chế độ nô lệ là vật phụ thuộc của chế độ giếng điền. Muốn hiểu rõ hai món đồ cổ này, phải nói từ chế độ giếng điền trước.

Kẻ khởi xướng chế độ giếng điền chính là Đại Vũ trị thủy. Thời đó, đại địa Hoa Hạ là thời đại hồng thủy, khí hậu ẩm nhiệt, trăm sông tràn lan, những con sông suối lớn nhỏ đều va đập chảy tràn không có mục đích, quấy tung lên vô số xoáy nước khổng lồ trên đại địa đồi núi. Khắp nơi là biển nước, người dân hoảng loạn trốn chạy khỏi nhà tranh, thành trì và lò đất, trốn vào trong những hang động và rừng cây cao. Đất đai canh tác, chăn nuôi, làm đồ gốm và săn bắn đều chìm đắm trong nước. Nếu không thể thuần hóa hồng thủy, tiền nhân trên khắp đại địa Hoa Hạ sẽ thụt lùi trở về thời đại nguyên thủy ăn lông ở lỗ, tranh giành sinh tồn với trăm thú trong rừng.

May mắn thay, thủ lĩnh liên minh bộ lạc lúc bấy giờ là Ngu Thuấn vĩ đại, ông không hề lùi bước trước hồng thủy, mà quyết tâm ra lệnh cho trợ lý của mình là Vũ gánh vác sứ mệnh trị thủy.

Vũ là một thiên tài trị thủy mà người thường không thể tưởng tượng nổi. Ông vứt bỏ phương pháp trị thủy chặn dòng "gặp nước đắp đất" của tổ tiên đời đời kiếp kiếp, phát minh ra phương pháp vĩ đại "khơi thông dòng nước, cho tất cả chảy vào biển lớn". Ông thuyết phục các thủ lĩnh bộ lạc trốn lên núi cao, mời người tộc của họ tự mang theo lương khô thịt khô, cùng ông khơi thông hồng thủy. Mười ba năm dầm mưa dãi nắng, ba lần đi ngang qua cửa nhà mà không vào, hai bắp đùi của Vũ mòn đi lớp chai dày đặc, người dân trị thủy cũng chết và bị thương không biết bao nhiêu mà kể, cuối cùng trăm sông đổ về biển lớn, hồng thủy đã bị khuất phục.

Thành tựu vĩ đại của Vũ được mọi người ca tụng, ai nấy đều gọi ông là Đại Vũ. Lúc này, Ngu Thuấn đã già, Đại Vũ trở thành thủ lĩnh được tiền nhân tranh nhau tôn sùng. Đại Vũ lập nên quốc gia đầu tiên, quốc hiệu là "Hạ".

Hồng thủy rút đi, đại địa lộ ra. Hồng thủy mang theo bùn đất, san phẳng những khe rãnh, bồi tích ra những vùng đất đồng bằng rộng lớn, bao la bát ngát, phẳng phiu. Người ta đi ra từ rừng núi, tranh nhau chiếm lấy đất đai màu mỡ, chém giết lẫn nhau, hỗn loạn không thể thu xếp nổi.

Thế nhưng, Đại Vũ là nguyên thủ quốc gia đầu tiên, kiên định quả cảm, không hề lùi bước trước sự hỗn loạn và tranh giành, mà quyết định thiết lập một trật tự canh tác có thể khiến con người sống hòa hợp với nhau. Ông phát minh ra một phương thức canh tác gọi là chế độ giếng điền. Đó là trên vùng đồng bằng màu mỡ rộng lớn bằng phẳng, chia đất đai thành vô số ô lớn hình chữ "tỉnh", cứ tám nhà một "giếng", mảnh đất ở giữa là công điền, do tám nhà cùng nhau hợp sức cày cấy, hoa lợi nộp lên quốc gia. Giếng nước duy nhất của tám nhà nằm ở vị trí trung tâm công điền. Mọi người mỗi ngày sáng sớm đến múc nước, tiện thể trao đổi vật phẩm thặng dư bên bờ giếng. Xung quanh ruộng của tám nhà (một giếng) là mương tưới nước và đường đi. Mười giếng là một thôn, mười thôn là một xã, mọi người tổ chức thành các thôn xã không xâm phạm lẫn nhau trên cánh đồng phẳng phiu. Thời đó nhân khẩu không nhiều, những đồng bằng phù sa lớn nhỏ được chia cắt thành những ô giếng điền vuông vắn hoàn toàn đủ cho nhân khẩu lúc bấy giờ sinh sống cày cấy.

Thời đó, chế độ giếng điền là một phát minh vĩ đại. Nó đan cài những người nông dân tản mác vô trật tự vào trong một khung, khiến họ đồng tâm hiệp lực cày cấy, chống đỡ tai họa, hòa hợp chung sống, thu hoạch được ngày càng nhiều đồ vật. Thế nhưng cũng có những bộ lạc quen cướp bóc không tuân thủ quy củ, vẫn dựa vào bạo lực chém giết, cướp đoạt lương thực, gia súc và tài sản trong giếng điền của các bộ lạc khác.

Đại Vũ bèn đại hội chư hầu (thủ lĩnh bộ lạc) ở núi Cối Kê, công khai chém chết Phòng Phong thị - kẻ không tuân thủ quy chế giếng điền lại đến hội minh muộn, tuyên bố lập ra quân đội vĩnh viễn không giải tán, chuyên môn đi thảo phạt các bộ lạc phá hoại trật tự giếng điền.

Từ đó, chế độ giếng điền thực sự đứng vững gót chân.

Có một điểm phải làm rõ, giếng điền mà nông dân bình dân (dân tự do) được chia, chỉ có thể cày cấy, không thể mua bán hoặc tùy ý xử lý. Dùng lời người đời sau mà nói, chính là "quốc hữu tư cày". "Thi Kinh" nói "Khắp thiên hạ không đâu là đất của vua, dọc bờ biển không đâu là dân của vua", nói đúng là quan hệ người - đất trong thời đại chế độ giếng điền. Quốc vương khi cần thiết có thể tịch thu ruộng cày của nông dân bình dân ban cho người khác. Khi bình dân phạm tội, càng là chuyện đương nhiên tịch thu sản nghiệp ruộng đất, thậm chí bao gồm cả việc biến người phạm tội và người nhà của họ thành nô lệ quan phủ. Nói cách khác, quyền xử lý ruộng đất nằm ở quan phủ trung ương. Giếng điền do bình dân cày cấy vĩnh viễn không thể chuyển nhượng và kế thừa như tài sản tư hữu thực sự, tự nhiên càng không bàn đến chuyện tự do mua bán.

Chế độ giếng điền còn có một chế độ sinh đôi, chính là chế độ nô lệ.

Thời đó, quốc vương, chư hầu (thủ lĩnh bộ lạc) và các tộc trưởng lớn nhỏ đều sở hữu những vùng đất rộng lớn, đây chính là giếng điền tư gia. Đối với loại giếng điền tư gia này, chủ nhân tuy cũng không có quyền xử lý cuối cùng danh chính ngôn thuận đối với đất đai, nhưng đã tiến hơn một bước lớn so với quyền canh tác ít ỏi của bình dân. Chỉ cần chủ nhân hào tộc (lĩnh chủ) không phạm tội, không rước lấy sự thảo phạt của thiên tử, không thất bại trong chiến tranh, thì những ruộng đất này thực tế chính là tài sản tư hữu của mình, có thể chuyển nhượng, tặng cho thậm chí mua bán.

Có đất đai thì phải có người cày cấy. Quốc vương, chư hầu và tộc trưởng đem tù binh, tội phạm cùng với những thứ dân nghèo khó vì nhiều lý do mà phụ thuộc vào họ, sắp xếp mạnh mẽ cày cấy trên đất đai của mình. Ngoại trừ việc để lại cho người cày cấy những vật phẩm vừa đủ sinh sống, toàn bộ hoa lợi đều nộp cho chủ nhân đất đai. Quốc vương cùng với các chư hầu, tộc trưởng lớn nhỏ và người nhà của họ, chính là dựa vào những hoa lợi thu được từ những "nô lệ giếng điền" này và công điền của nông dân tự do để duy trì quân đội, quan lại và cuộc sống giàu có thoải mái. Người lao động ở giếng điền tư gia chính là nô lệ, còn gọi là lệ nông. Họ không có thân phận dân tự do được quan phủ thừa nhận, quan phủ "liệu dân" (đăng ký hộ tịch) cũng không ghi tên họ vào sổ. Thân phận của họ chỉ tồn tại trong "nô tịch" của chủ nhân hào tộc (lĩnh chủ). Nô lệ có nguồn gốc từ tù binh và tội phạm trên mặt còn bị đóng dấu hoặc thích chữ tượng trưng đặc hữu của gia tộc chủ nhân, cho dù trốn chạy cũng không có nơi dung thân. Đời đời kiếp kiếp, nô lệ chỉ có thể lao động không công trong giếng điền của chủ nhân.

Giếng điền tư gia do nô lệ cày cấy và giếng điền của dân tự do, điểm khác biệt duy nhất là: ở trung tâm giếng điền tư gia chỉ có giếng nước mà không có công điền. Trải qua hàng nghìn hàng trăm năm, chế độ giếng điền và chế độ lệ nông phụ thuộc vào chế độ giếng điền đã trở thành một thể thống nhất không thể tách rời. Xét về số lượng ruộng đất, loại giếng điền điển hình (có phân biệt công điền và tự cày điền) do dân tự do cày cấy có số lượng ruộng đất ít hơn rất nhiều so với giếng điền tư gia do lệ nông cày cấy. Sau này, giếng điền tư gia dần dần được quốc vương thừa nhận, gọi là "phong địa", tức là đất đai cá nhân được ban phong cho quý tộc.

Loại nô lệ canh tác (lệ nông) bị giam cầm mạnh mẽ trong giếng điền này là phần chính của chế độ nô lệ.

Một loại nô lệ khác là nô lệ lao công. Loại nô lệ này chia thành nô lệ quan phủ và nô lệ gia đình, nguồn gốc cũng là tù binh, người nhà tội phạm và những kẻ khốn cùng sa cơ lỡ vận. Nô lệ quan phủ ngoài làm bộc dịch ra thì chính là làm lao dịch trong các công trình của quan phủ. Loại nô lệ này là phần thứ yếu của chế độ nô lệ, kéo dài mãi cho đến đầu thế kỷ XX, không phải là chủ đề ở đây.

Lại trải qua sáu bảy trăm năm nhà Ân Thương, bảy tám trăm năm Tây Chu Đông Chu, cùng với nhân khẩu tăng lên, giao dịch thương mại phát triển, chất lượng ruộng đất xấu đi cùng với chiến tranh, chính biến thường xuyên và các nhân tố khác, ruộng đất của dân tự do ngày càng ít đi, giếng điền tư gia mà lệ nông phụ thuộc ngày càng nhiều, xã hội lại xuất hiện sự tranh giành vô trật tự khi dục vọng con người dâng trào, chế độ giếng điền đã trăm lỗ ngàn lỗ.

Lúc này, một số gia tộc quan lại dùng thủ đoạn cướp bóc mạnh mẽ, mua bán bằng tiền, tịch thu tài sản người phạm tội... vơ vét cướp đoạt một lượng lớn ruộng đất, trở thành thế lực địa chủ mới nổi ở nhiều nước chư hầu. Lại có một phần đại thương nhân cũng dùng tiền mua được một lượng lớn ruộng đất và nô lệ phụ thuộc, đồng thời trở thành địa chủ mới nổi. Địa chủ mới nổi chiếm giữ lượng lớn ruộng đất và nhân khẩu, dần dần chi phối chính quyền của nhiều nước chư hầu, liền tạo thành một sự uy hiếp to lớn mang tính tự nhiên đối với phương thức tồn tại cũ là "vương quyền — giếng điền — nô lệ". Địa chủ mới nổi muốn tạo ra cơ sở cho chính quyền tư gia, thì phải không ngừng mở rộng số lượng bình dân tự do, thì phải khiến ruộng đất trở thành tài sản có thể lưu động. Mà vương quyền cũ muốn duy trì cơ sở tồn tại của mình, thì phải cố định chế độ giếng điền "dân không được mua bán", khiến ruộng đất lưu động biến trở lại thành "vương thổ" ngưng tụ trong khung giếng điền, nếu không thì thiên hạ không thể yên ổn.

Sự tranh giành lớn này đã dẫn đến sự đại động

lãng lâu dài, dẫn đến những cuộc chém giết chinh chiến kéo dài không dứt, thiên hạ đại loạn rồi!

Thế là, rất nhiều người có chí hướng bèn đề xuất các chủ trương cứu thế khác nhau. Nho gia kiên định chủ trương khôi phục chế độ giếng điền, từ Khổng Tử cho đến Mạnh Tử, Nho gia bôn ba khắp thiên hạ mấy trăm năm, không ngừng hô hào vì điều đó. Lão Tử của Đạo gia cũng đề xuất chủ trương phục cổ "tiểu quốc quả dân", "tiếng gà gáy chó sủa nghe thấy nhau, dân đến già chết không qua lại với nhau", trên thực tế cũng đồng tình khôi phục chế độ giếng điền.

Thế mà quý tộc địa chủ mới xuất hiện và nhân vật Pháp gia lại kịch liệt phản đối việc quay trở lại thời kỳ giếng điền cổ xưa. Họ chủ trương phế bỏ chế độ giếng điền và chế độ lệ nông, thiết lập một chế độ ruộng đất mới có thể kích thích nông dân cần cù cày cấy hơn, thiết lập một chế độ ruộng đất mới có thể khiến địa chủ mới dựa vào tài sản để tự do mở rộng ruộng đất, đây chính là chế độ tư hữu ruộng đất "dân được mua bán".

Thế nhưng, nói thì nói, cãi thì cãi, người thực sự ra tay thực hiện chế độ ruộng đất mới lại chỉ có "ngũ thành điền chế" nửa mới nửa cũ do Lý Khôi biến pháp ở nước Ngụy đẩy mạnh. Lý Khôi chỉ thực hiện "điền đắc mua bán" trên giếng điền do bình dân cày cấy và giếng điền công thất của nước Ngụy, phế bỏ lệ nông phong địa. Đối với giếng điền tư gia của cựu quý tộc có trọng lượng lớn trong lãnh thổ nước Ngụy, vẫn bảo lưu phong địa (giếng điền tư gia) và lệ nông. Những nước khác như nước Sở, nước Tề, nước Hàn, nước Triệu có biến pháp nhiều hay ít, đều không vượt quá giới hạn của nước Ngụy. Nước Yên và nước Tần - hai nước chư hầu lão làng - lại càng không có bất kỳ sự động chạm nào đối với chế độ ruộng đất cũ. Hơn ba mươi nước chư hầu nhỏ còn lại, lại càng không bàn đến chuyện phế bỏ chế độ giếng điền.

Sự thật là, cho đến khi nước Tần biến pháp, chế độ giếng điền trên thực tế không hề được phế bỏ triệt để ở bất kỳ quốc gia nào.

Mà nay, Vệ Ương muốn triệt để phế bỏ chế độ giếng điền ở nước Tần, theo đó tất yếu sẽ chấm dứt chế độ lệ nông, sao có thể không gây ra chấn động triều dã? Sao có thể không khiến đám quý tộc quen thói hưởng thụ dựa vào phong địa cảm thấy hoảng sợ bất an chứ?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.