Đại Tần Đế Quốc 1: Hắc Sắc Liệt Biến

Lượt đọc: 459 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết 2
Bóng Xám Và Tượng Đá Bịt Mặt

❊ ❊ ❊

Đêm đông giá rét căm căm, khu buôn bán náo nhiệt thâu đêm suốt sáng nhất thành Hàm Dương cũng như đông cứng lại.

Nằm sát cạnh chợ Nam sầm uất nổi danh xa gần, góc tây nam nội thành Hàm Dương chính là khu buôn bán. Nơi đây quy tụ nhiều thương nhân đến từ sáu nước vùng Sơn Đông, lại cũng có thương cổ khắp nơi trên đất Tần đến Hàm Dương lập nghiệp. Tửu quán, khách điếm san sát, là khu vực có dân cư phức tạp và lưu động bậc nhất thành Hàm Dương. Khu này chủ yếu gồm hai con phố lớn cắt nhau thành hình chữ "thập", cùng khu chợ Nam rộng hơn ba trăm mẫu. Con phố chạy theo trục bắc nam gọi là "đường Thái Bạch", con phố chạy theo trục đông tây gọi là "đường Chu Phượng". Thái Bạch là ngôi sao chiếu mệnh của nước Tần (dưới sao Thái Bạch là đất Tần), còn Chu Phượng là loài thần điểu cát tường của người Chu và người Tần (phượng hót Kỳ Sơn mở ra vận Chu). Dùng hai tên này đặt cho hai con phố lớn của khu buôn bán, ngụ ý lời chúc nguyện thành kính của người Tần cho khu chợ: thuận theo thiên đạo, cát tường hưng thịnh.

Tại góc đông bắc ngã tư của hai con phố lớn, có một trang viện cô lập không hề liền kề với bất kỳ cửa hiệu hay khách xá nào xung quanh, tường viện cao ngất ngăn cách với nhà bên bởi một con ngõ vắng hoe. Trước cổng lớn là bãi đỗ xe và cọc buộc ngựa bỏ hoang, cánh cổng giáp mặt phố cũng được xây bít kín mít bằng đá tảng và gạch xanh, nếu không nhờ cổng lầu và tiền sảnh hãy còn khá bề thế kia, thì chẳng ai nhận ra đây từng là cổng lớn. Giữa khu phố buôn bán, trang viện này trông có vẻ quái dị, hệt như một tòa cổ bảo hoang tàn bị cắm phập vào giữa chốn phồn hoa đô hội. Nhìn từ quy mô trạch đệ, nó vừa không có khí phách xa hoa của các đại thương sáu nước, lại chẳng mang vẻ mộc mạc ngăn nắp của nhà dân buôn bán nhỏ. Một trang viên kỳ quặc dường ấy lại có thể đứng vững trên mặt phố tấc đất tấc vàng này, tự nhiên phải là "hộ cũ" dọn đến sớm nhất từ thuở thành Hàm Dương mới lập. Dù vậy, giới con buôn vốn đã thấy quá nhiều nỗi thăng trầm giàu nghèo nơi thế gian, nên chẳng ai lấy làm lạ, cũng chẳng ai buồn tiếp cận hay tìm hiểu nó. Đại viện cứ thế cô lập, lạnh lẽo y như ngày đầu dọn tới, giữa đêm đông gió bấc rít gào, thở ra thành khói này, lại càng thêm phần tiêu điều, giá lạnh.

Vào canh ba, một bóng xám vút lên từ cành cây lớn trong con ngõ trống bên ngoài bức tường cao, lặng lẽ không một tiếng động đáp xuống mái nhà trong viện.

Trong căn nhà lớn chính giữa sân, ngọn đèn lồng cản gió lờ mờ, một người đang lặng lẽ ngồi xếp bằng. Trên mặt người ấy phủ một tấm sa đen dày cộp, mái tóc trắng bù xù xõa xuống hai vai, bất động như một bức tượng đá đông cứng. Dẫu là đêm đông buốt giá nhỏ nước thành băng, gian nhà lớn trống hoác này lại chẳng có lấy một lò sưởi hay chậu than, duy chỉ có ngọn đèn lồng bằng đồng tỏa ánh sáng vàng vọt.

Bất chợt, cánh cửa khép hờ lặng lẽ mở toang giữa tiếng gió lạnh rít gào.

"Bạn phương nào? Mời vào nhà đàm đạo." Bức tượng đá đông cứng phát ra thanh âm lạnh nhạt.

Không hề có một tiếng bước chân, bóng xám đã ngồi lên chiếc án dài đối diện tượng đá, nhấc vò gốm trên bàn ừng ực uống một hơi dài, thở dốc vài tiếng: "Tả phó từ dạo ấy đến nay vẫn mạnh khỏe chứ?"

Một khoảng lặng kéo dài, tượng đá ung dung đáp: "Hữu phó từ dạo ấy đến nay vẫn mạnh khỏe chứ?"

Bóng xám nói: "Hai mươi năm mỗi người một ngả, thính lực của Tả phó vẫn thấu triệt nhường này, khâm phục khâm phục."

Tượng đá bịt mặt: "Ngươi há chẳng nghe, hổ sói ở hang, chỉ cậy vào thính lực?"

"Tả phó vốn là tôn thất quý tộc, tình cảnh bi thảm như cái xác không hồn thế này, thật khiến người ta lạnh lòng."

"Hữu phó đường đường là một kẻ thư sinh, nay lại thành kiếm sĩ cao minh, quả khiến lão phu an lòng."

"Tạo hóa trêu ngươi, Tả phó chịu già nua mà chết rũ thế này sao?"

"Họa phúc tại nhân, lão phu chưa từng tin chuyện quái lực loạn thần."

"Quả đúng như vậy, cớ sao Tả phó lại cam lòng sa sút, bạc đầu chui rúc nơi hang ổ?"

Tượng đá thản nhiên: "Bốn bề không nơi đuổi bắt, sao bằng ôm cây đợi thỏ?"

Bóng xám bỗng dập đầu quỳ sụp xuống đất: "Ý chí sắt đá của công tử, đại sự ắt thành."

"Hữu phó thân mang trọng tội, trốn ngục về nước, há chẳng phải tự phơi mình cho quan phủ bắt sao?" Tượng đá vẫn ngồi im bất động.

Bóng xám than dài một tiếng: "Nếu còn mối lo chịu án, sao dám bước nửa bước vào Hàm Dương?"

"Chẳng lẽ Hữu phó giết cai ngục trốn thoát?"

Người áo xám bật cười khằng khặc, tựa tiếng cú vọ rền rĩ trong đêm lạnh: "Tả phó lo xa rồi, nước Tần vĩnh viễn không thể tìm thấy kẻ tên Công Tôn Giả nữa đâu."

"Lời này nghĩa là làm sao? Dĩ nhiên, ngươi có thể không nói."

"Đã cùng Tả phó đồng lòng cứu nạn, lẽ nào lại giấu giếm? Đêm đông dằng dặc, câu chuyện hoang lạnh này vừa khéo để giết thời gian."

Thế là, trong đêm đen gió lộng, người áo xám kể lại một kỳ ngộ khôn lường quỷ thần chẳng thấu...

Lũng Tây, nơi Công Tôn Giả bị lưu đày, là một vùng đất vô cùng kỳ lạ. Nơi đây có sa mạc hoang vu rộng lớn, có thảo nguyên cỏ nước tốt tươi, có núi non hiểm trở điệp trùng, lại có những thung lũng sông nước thanh u tú lệ. Quan trọng nhất là bóng người thưa thớt, là chốn man hoang cách biệt với nền văn minh trù phú. Chốn cùng tịch hiểm trở như thế, sự cai quản của quan phủ tự nhiên là roi dài không tới. Dẫu vậy, đây lại là căn cứ địa nguyên thủy của người Tần xưa, là hậu phương mênh mông hẻo lánh của nước Tần, an toàn và đáng tin hơn bất kỳ vùng núi biên ải nào. Công Tôn Giả thân là trọng phạm đầu sỏ, không bị đày đến núi Thương Sơn giáp Sở ở phía nam, cũng không bị đày tới vùng núi Bắc Địa liền dải với Triệu ở phương bắc, mà lại bị đày tới Lũng Tây, cội rễ của người Tần, dĩ nhiên là triều đình yên tâm về nơi này nhất.

Nơi lưu đày là một dải thung lũng hẹp hòi hoang vu hiểm trở, bốn bề vách núi dựng đứng, lối ra duy nhất của hẻm núi lại có một đội trăm người vừa chăn thả ngựa chiến vừa kiêm việc đồn trú canh gác. Muốn trốn thoát, thật khó hơn lên trời. Đời sống lưu đày là một kiếp khổ hạnh cưỡng chế áp đặt lên đầu tù phạm. Một túp lều tranh, một manh áo vải, một thăng hạt giống, một chiếc xẻng sắt, đó là toàn bộ vật dụng mà ngục lại quan phủ giao cho Công Tôn Giả. Hắn phải dựa vào ngần ấy thứ để sinh tồn. Miễn là tù nhân không bỏ trốn, còn như kiệt sức không sống nổi mà chết rũ nơi đày ải thì chẳng ai buồn truy cứu. Ngoại trừ việc ba tháng một lần kiểm tra sống chết, quan phủ vĩnh viễn không cấp thêm một hạt lương, một manh áo. Nếu không có chiếu thư đặc xá, tù nhân đại để đều bỏ mạng tại đây.

Công Tôn Giả mang mối thù sâu tựa biển, sao có thể chết lặng lẽ không tiếng tăm nơi rừng hoang ngõ núi này? Đêm đầu tiên, gió thu rít gào trong thung lũng, hổ gầm sói hú trên đỉnh non, hắn sợ đến mức rúc vào khe đá như một con rắn! Mãi đến khi trời sáng mới dám chui ra. Trầm ngâm suy tính hồi lâu, Công Tôn Giả xé vạt áo dài may thành một cái túi vải, cầm xẻng sắt lên núi. Hắn tinh thông y đạo, biết nhận diện thảo dược. Đây là bản lĩnh phòng thân cầu sinh của sĩ tử du học, cũng như muôn vàn danh sĩ uyên bác khác, Công Tôn Giả chưa từng quên đi học vấn căn bản thời niên thiếu ấy. Hắn bắt đầu lên núi hái thuốc. Một là trong các cây thuốc có những loại bổ dưỡng ăn sống được ngay, công hiệu mạnh hơn ngũ cốc, lại thêm hoa quả dại lót dạ là có thể giải tỏa nỗi khổ đói cào ruột gan. Hai là nhân đó thăm dò địa thế núi non, xem có tìm ra được một con đường sống hay chăng? Công Tôn Giả hiểu rõ, mình vĩnh viễn không bao giờ có cơ hội nhận ân xá, muốn phục thù thì trước hết bản thân phải trốn thoát được đã! Hai ba tháng trôi qua, hắn mới phát hiện rặng đại sơn này còn hoang vu vượt xa tưởng tượng của mình, phóng mắt trông ra bạt ngàn hoang vắng bặt dấu chân người, giữa núi non chỉ rải rác dấu chân cầm thú, khoan nói đến chuyện vượt ngục, dẫu có đàng hoàng bước ra ngoài e rằng cũng chỉ làm mồi ngon cho bầy thú dữ thoắt ẩn thoắt hiện.

Đúng vào lúc Công Tôn Giả tuyệt vọng, một chuyện kỳ dị đã xảy ra.

Hôm ấy vào chập tối, hắn cầm xẻng sắt gạt đám cỏ dại dây leo khô cao ngang hông để tìm đường "về nhà". Nhưng hắn lại như kẻ mù cưỡi ngựa đui xông thẳng tới đỉnh một vách đá cheo leo, rồi ma xui quỷ khiến thế nào lại sảy chân một cái, rầm rập lăn nhào xuống dưới! Đến khi tỉnh lại, ngước nhìn trời đêm đầy sao chẳng rõ là canh nào. Ta chưa chết sao? Hắn cử động tay chân, mừng thầm vì mình quả thực chưa chết, bèn gượng gạo bò dậy. Đưa mắt nhìn quanh, hắn chợt "A——!" lên một tiếng kinh hãi: dưới chân vách đá chẳng phải có một đốm lửa đỏ le lói đó sao? Dụi mắt nhìn kỹ, không sai, chính là ánh đèn! Hắn phấn chấn tinh thần, bẻ một cành cây làm gậy chống, tập tễnh khập khiễng lao về phía đốm sáng. Đến gần nơi, hắn mới nhận ra dưới vách đá dựng đứng là một căn nhà đá, lờ mờ trông thấy những tấm da thú lột ra đem phơi trên bãi đá ngoài sân. Nhà thợ săn, không phải người của quan phủ! Công Tôn Giả mừng rỡ phát điên, nhào tới đập cửa thình thình.

Cánh cửa gỗ tròn thô kệch nặng trĩu kẽo kẹt mở ra, một gã đàn ông gầy gò khoác da thú, tay cầm ngọn đèn mỡ thú đứng chắn trước mặt hắn. Công Tôn Giả "Á!" một tiếng, thụt lùi vài bước, trừng trừng dán mắt vào đối phương! Người đàn ông này giống hắn như đúc, quả thực là một cặp song sinh một đen một trắng! Gã mặc áo da thú lại chẳng hề hay biết, vừa quẹt nước mắt vừa ngơ ngác chìa tay mời hắn vào trong, ngồi ở một gian nhà đá nhỏ hẹp khác. Gã lẳng lặng bưng ra một chậu lớn thịt thú hầm và một hũ rượu trái cây rừng, rồi đứng đực một bên vừa thẫn thờ vừa gạt nước mắt. Công Tôn Giả là kẻ tinh tế, nghe thấy bên gian nhà đá cách vách có tiếng rên rỉ yếu ớt bèn chắp tay hỏi: "Huynh đài có chuyện gì bi thương? Có thể cho tại hạ biết chăng?" Gã áo da thú thật thà lau nước mắt: "Hai thân sinh nhà ta đang khỏe như trâu mộng, chẳng hiểu sao lại đắc tội với sơn thần, mấy ngày nay tiêu chảy dữ dội, mắt thấy không qua khỏi rồi, hu hu——!" Nói đoạn gã òa lên khóc.

Công Tôn Giả nghe rõ mồn một hai chữ "tiêu chảy", bèn khảng khái đứng dậy: "Tại hạ có biết chút y đạo, xin cho phép xem qua."

Nửa tháng sau, gã mặc da thú dựa vào bản lĩnh độc môn của thợ săn, quả nhiên mò được tới căn lều tranh dưới thung lũng của Công Tôn Giả.

Dưới ánh trăng vằng vặc trên đỉnh núi, Công Tôn Giả và gã thợ săn kết bái làm huynh đệ khác họ. Gã hỏi đại ca vì sao phạm pháp? Đại ca đáp cha mẹ bị kẻ thù sát hại thảm thương, đại cừu chưa trả thì bản thân lại bị kẻ thù hãm hại đày ải, xin hiền đệ giúp một tay trốn khỏi nơi này. Gã khảng khái nhận lời, Công Tôn Giả bèn thích chữ lên mặt gã, lại dùng sắt nung in dấu lên má gã, đổi áo quần cho nhau, hóa trang gã thành chính mình, đồng thời dạy gã cách đối phó với những đợt "kiểm tra định kỳ" của quan phủ.

Ba hôm sau, vào một đêm đen gió lộng, Công Tôn Giả cùng đệ đệ uống rượu rừng, trong rượu đã bỏ thêm thuốc câm.

Đợi đệ đệ ngủ say, Công Tôn Giả lần theo đường mòn thú rừng mà đệ đệ từng chỉ dẫn, trốn khỏi rặng đại sơn hoang vu không bóng người...

"Quả thực là không độc không trượng phu." Tượng đá bịt mặt cười gằn.

Người áo xám nghiến răng âm trầm: "Mưu việc lớn, không câu nệ tiểu nghĩa."

"Dù vậy, ngươi rốt cuộc vẫn khó lộ diện dưới ánh mặt trời. Nếu quan phủ vẽ tranh truy nã, ngươi tính sao?"

Một tràng cười dài như tiếng cú đêm vang lên, người áo xám nói: "Tả phó tự giam mình hai mươi năm, đâm ra cô lậu quả văn rồi."

"Nói thế thì Hữu phó gặp kỳ ngộ không ngớt rồi." Khóe miệng tượng đá lộ nét châm biếm.

Người áo xám cười khẩy, lại kể thêm một câu chuyện kinh tâm động phách khác...

Sau khi trốn khỏi đại sơn Lũng Tây, Công Tôn Giả ngày nghỉ đêm đi, một mạch sang đông, vượt qua đèo Đại Tán men theo rặng Nam Sơn rẽ vào Thương Sơn, lại từ thung lũng sông Đan bí mật lẻn qua ải Vũ Quan, trốn sang đất Sở. Hắn nào phải trông mong vào sự che chở của nước Sở, mà là nhắm trúng rặng núi điệp trùng vắng bóng người ở thượng nguồn sông lớn nước Sở. Để phục thù, Công Tôn Giả thề làm lại cuộc đời, vùi đầu khổ luyện kiếm thuật. Ngay trong bước đường bôn ba tìm nơi dừng chân, hắn tình cờ lọt vào một hẻm núi thần bí trong một đêm nọ.

Hai bờ núi xanh của hẻm núi này luôn văng vẳng một thứ âm thanh kỳ lạ, "phì——phù——"! Không phải tiếng gió, chẳng phải tiếng sấm, mà giống như rặng núi mắc chứng hen suyễn. Càng về khuya, thứ âm thanh kỳ lạ ấy càng thêm rõ rệt, vả lại từ các khe đá còn le lói ánh hồng cùng những tiếng đập đều đặn, mơ hồ "thùng thùng thùng". Công Tôn Giả ngỡ như lạc vào cõi mộng, lắng tai nghe suốt một đêm, hắn dám chắc nơi hẻm núi hoang vu hiểm trở này ắt ẩn giấu một bí mật tột cùng lớn lao! Công Tôn Giả lang thang dò la khắp hẻm núi và hai bờ núi cao suốt mấy ngày, cuối cùng trong một đêm tối đen như mực, hắn đột ngột mất đi tri giác...

Lúc tỉnh dậy, Công Tôn Giả thấy mình đang nằm trên một phiến đá lạnh buốt, trước mắt ánh lửa đỏ lập lòe chớp tắt liên hồi. Té ra đây là một hang núi cực lớn, một lão nhân tóc bạc phơ đang đứng sừng sững trước mặt, trừng trừng nhìn vào trán hắn. Chẳng cần qua mấy câu hỏi đáp, hắn đã cam tâm tình nguyện làm khổ dịch cho lão nhân.

Dần dà, hắn mới hay hẻm núi này là đại bản doanh của danh gia đúc kiếm "Phong Tông" nước Sở, còn lão nhân kia lại chính là bậc tông sư đúc kiếm Phong Hồ Tử lừng lẫy nhất chỉ sau các đại sư Âu Dã Tử và Can Tương! "Phong Tông" có sáu hang đúc kiếm trong hẻm núi này, mỗi hang một lò, chỉ riêng thợ cả trực tiếp đúc kiếm đã hơn hai mươi người, tính cả thợ rèn, thợ thụt bễ, phu tạp dịch, đầu bếp... gom lại thành một xưởng lớn hơn hai trăm nhân mạng. Quy củ của "Phong Tông" là ban ngày chuẩn bị phôi liệu và nghỉ ngơi, ban đêm mới nổi lửa đúc kiếm. Bởi thế, người lọt vào hẻm núi ban ngày tuyệt đối chẳng phát hiện được điều chi. Trong chuỗi ngày làm khổ dịch, Công Tôn Giả đã chữa khỏi nhiều chứng bệnh kỳ quái không tên cho đám thợ thuyền. Hắn dần dà chiếm được thiện cảm của trên dưới Phong Tông.

Một ngày nọ, Phong Hồ Tử xưa nay chưa từng nhìn thẳng mặt hắn bỗng gọi hắn vào một hang đá nhỏ, lạnh lùng buông hai câu hỏi: "Có muốn học kiếm thuật không?" "Muốn!" "Có muốn đổi một gương mặt khác không?" "Muốn!" Công Tôn Giả không hề do dự nửa khắc.

Lão nhân không thừa một lời, phất tay một cái, hai gã tráng hán liền khiêng hắn quẳng xuống hồ nước ngoài hang, rồi đè lên một tấm đá lớn. Công Tôn Giả bị ngâm dưới nước suốt ba ngày không ăn không uống, đến lúc thoi thóp sắp chết mới được khiêng trở lại hang. Phong Hồ Tử lạnh lùng hỏi: "Giờ phải trói ngươi lại để hơ lửa nướng thịt, sợ không?" Công Tôn Giả lắc đầu. Phong Hồ Tử không nói thêm câu nào, bàn tay khô gầy vung lên, hai tráng hán kẹp chặt hai bên trói nghiến hắn lên một phiến đá vừa cao vừa dày. Cách phiến đá chưa đầy một trượng là lò luyện kiếm rực lửa ngùn ngụt, luồng nhiệt nóng rẫy phả thẳng vào mặt, khiến làn da ngấm đẫm hàn khí ẩm ướt của hắn lập tức khô ráo. Nhưng chỉ sau nửa canh giờ, hắn đã khô khát nóng rát không sao chịu nổi, phiến đá sau lưng cũng bắt đầu bỏng rẫy. Hai người bên cạnh chỉ biết định kỳ phun nước lên phiến đá, còn sống chết của hắn thì mặc kệ. Công Tôn Giả cắn chặt răng, tuyệt nhiên không rên một tiếng, chẳng mấy chốc đã bị nướng đến ngất lịm, bị tạt một gáo nước tỉnh lại, chốc lát sau lại mê man.

Chẳng biết qua bao lâu, Công Tôn Giả được khiêng tới cửa hang, ngọn gió lạnh cắt da cắt thịt khiến hắn bừng tỉnh.

Phong Hồ Tử bước tới, bất thần phun một búng nước xanh mang mùi kỳ dị lên mặt hắn, "phì!" một tiếng, một làn sương tím bốc lên mù mịt. Mặt Công Tôn Giả lập tức sưng vù như một khối bột lớn, căng bóng trong suốt! Phong Hồ Tử ghé sát ngắm nghía, vươn chiếc móng tay dài khẽ khều nhẹ lên trán Công Tôn Giả, tức thì bóc ra một lớp da người từ "khối bột lớn" ấy, vết mực đen và dấu sắt nung vẫn còn hằn rõ mồn một! Công Tôn Giả lại bị chuyển sang một hang đá lạnh thấu xương để đông cứng suốt một đêm, sáng hôm sau được khiêng tới hang nhỏ của Phong Hồ Tử, cảm giác trên mặt đã hoàn toàn hồi phục.

Phong Hồ Tử lạnh lùng hỏi: "Muốn đẹp không?" Công Tôn Giả lắc đầu. Phong Hồ Tử dứt lời, lại phun một ngụm nước thuốc đỏ au lên mặt Công Tôn Giả, một luồng cảm giác kỳ dị lập tức thẩm thấu khắp tứ chi bách hài của hắn! Phong Hồ Tử vươn bàn tay tựa cành khô xoa bóp nắn bóp trên mặt hắn trọn vẹn một canh giờ, vứt lại một câu: "Nhìn cho nhớ mặt mình đi. Vại nước ở đằng kia." Dứt lời liền ngã lăn ra ngủ say như chết.

Công Tôn Giả trấn tĩnh tinh thần, rồi bất giác đứng bật dậy. Hắn vốn ngỡ trải qua nỗi đày đọa nhường ấy không chết cũng phải tàn phế, chẳng ngờ bước chân lại cảm thấy thanh thoát lạ thường! Hắn bước tới bên vại nước cúi nhìn, liền thét lên một tiếng kinh hãi rồi ngất lịm đi...

"Nói như vậy, tướng mạo Hữu phó ắt hẳn phi phàm lắm?" Tượng đá bịt mặt giọng đều đều lạnh nhạt, không chút kinh ngạc.

"Tả phó hãy nhìn cho kỹ." Người áo xám thình lình giật phắt tấm sa đen che mặt, tượng đá bịt mặt không kìm được run lên một cái. Dưới ánh đèn, một gương mặt hung tợn gớm ghiếc đột nhiên lộ ra: mái tóc đỏ quạch, mặt màu xanh chàm, con ngươi lam đen nhưng tròng trắng lại ngả vàng, miệng rộng răng to, râu ria rậm rạp mọc liền tới mang tai! So với một Công Tôn Giả thanh tú nho nhã năm xưa, đây quả thực là một con ác quỷ tái sinh.

"Dẫu quỷ thần thấu suốt, cũng chẳng thể nhận ra ngươi." Tượng đá bịt mặt thở dài một tiếng.

"Nói thực cho Tả phó hay, Phong Hồ Tử đã thu nhận ta làm học trò, ban tặng ta một thanh danh kiếm của Phong Tông. Công Tôn Giả ta chẳng dám khoe khoang ngang dọc thiên hạ, nhưng để phục thù thì quá đủ rồi. Nếu không vì thanh Si Vưu Thiên Nguyệt kiếm của ngài, Thương Ưng đã sớm bỏ mạng nơi thung lũng Hào Sơn rồi."

"Ngươi đi làm thích khách?"

"Thương Ưng kẻ thù vô số. Dẫu hắn là thần tiên, cũng chẳng thể ngờ Công Tôn Giả ta đã hồi sinh."

"Câm miệng." Trong giọng nói trầm thấp của tượng đá bịt mặt phảng phất từng cơn giận dữ rít qua kẽ răng, tựa hồ một con mãnh hổ chực vùng dậy. Người áo xám bất giác run rẩy. Im lặng một hồi, tượng đá bịt mặt cười gằn: "Công Tôn Giả, lão phu ngỡ ngươi đã thực sự dục hỏa trùng sinh, ai ngờ ngươi vẫn là một kẻ tiểu nhân đê tiện hèn hạ. Lão phu không giết ngươi, ngươi cút đi."

"Báo thù giết địch cũng tính là tiểu nhân sao? Thế nào mới đáng mặt đại trượng phu?"

"Công Tôn Giả, ngươi tuy thừa phần tinh ranh, nhưng vĩnh viễn chẳng có được khí độ lớn lao. Lão phu hỏi ngươi, mối thù giữa chúng ta và Thương Ưng là tư thù đánh lộn nơi đầu làng xó chợ hay sao?"

"Tự nhiên không phải. Đó là thù hận quốc sự."

"Khoan nói việc ngươi không giết nổi Thương Ưng, dẫu có giết được, cũng chỉ biến Thương Ưng thành bậc danh thần anh liệt của thiên hạ, còn bản thân ngươi lại thành tên thích khách đê tiện để thiên hạ chê cười. Nếu đó cũng tính là báo thù, thì cần gì tới lượt ngươi ra tay?"

Người áo xám lặng thinh hồi lâu, rồi kính cẩn chắp tay: "Xin Tả phó chỉ giáo, nên trù tính thế nào?"

"Công lao lập thân lớn nhất của Thương Ưng nằm ở đâu?"

"Tự nhiên là biến pháp."

"Nếu thế sự đảo chiều, biến pháp thất bại thì sao?"

"Thương Ưng... thân bại danh liệt!"

"Lão phu hỏi lại ngươi, mối thù của chúng ta là do tư hình của Thương Ưng gây ra sao?"

"Không phải, là công hình chiếu theo phép nước."

Tượng đá bịt mặt cười nhạt: "Ghi nhớ lấy, chỉ có khiến cho biến pháp của Thương Ưng thất bại, rồi dùng chính phép nước xử tử hắn, đó mới là sự phục thù của kẻ đại khí."

Người áo xám sụp lạy rạp mình xuống đất: "Một lời của Tả phó khiến Công Tôn Giả ta bừng tỉnh ngộ."

Vào khoảnh khắc tăm tối nhất trước bình minh, bóng xám lại bay vút lên ngọn cây, đáp xuống ngõ hẻm, rồi thoắt cái biến mất hút vào màn đêm mùa đông mịt mùng của thành Hàm Dương.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.