Mùa xuân bên bờ nước Mịch La quyến rũ lòng người. Sau những hạt mưa lất phất, vầng thái dương liền bàng bạc ôn hòa nhô lên. Dưới bầu trời xanh biếc, dòng nước Mịch La xanh ngắt uốn lượn qua những dãy núi ẩn hiện rồi trôi đi xa. Vùng thung lũng ven sông là thảm cỏ xanh mướt điểm xuyết những đóa dại lấp lánh sắc màu, trải dài ngút ngàn không thấy điểm cuối. Dần dần, một vầng tà dương đỏ như máu từ từ lặn xuống đỉnh núi, ánh ròng rực rỡ nhuộm mặt sông, bãi cỏ và núi non thành một sắc đỏ ánh vàng kỳ lạ, trong nét hỗn độn lại ánh lên vẻ tươi tắn! Không có bóng nông dân cày cấy, không có ngư dân chèo thuyền, không có thợ săn tung hoành, lại càng không có tiếng bánh xe lục cục của thương buôn. Trừ tiếng nước Mịch La róc rách, nơi đây mãi mãi chìm trong một sự tĩnh lặng. Dù là tiết xuân tươi đẹp, nơi đó vẫn bao trùm một vẻ hoang vu xanh ngắt, bao trùm một nỗi cô tịch đáng sợ.
Bỗng nhiên, hai kỵ mã một đỏ một trắng từ ngả núi đằng xa phi nhanh tới. Một giọng nói trong trẻo cười khanh khách: "Non xanh nước biếc thế này, lại bị biến thành nơi lưu đày, thật đáng tiếc thay!" Kỵ sĩ ngựa đỏ vung roi chỉ một cái, giọng khàn khàn cất lên: "Nhìn kìa! Khói bếp nhà tranh!" Dứt lời thúc mạnh bàn đạp, con tuấn mã màu đỏ liền lao vút về phía chân núi như một ngọn lửa.
Dưới chân núi nơi tận cùng bãi cỏ, sừng sững một ngôi nhà tranh đơn độc. Trên mái tranh cắm một lá cờ tang trắng phau, trên cờ có hai chữ lớn bằng đấu – Lưu hình! Trước nhà tranh có một đống củi ẩm đang cháy bập bùng, làn khói xanh dày đặc cuồn cuộn bay thẳng lên trời. Thấy ngựa phi nhanh từ xa tới, một kẻ khoác áo choàng vàng bên đống lửa sực đứng phắt dậy, sải bước nghênh đón.
– Xuân Sân Quân – ta đến đây –!
Kỵ sĩ vừa vẫy tay từ xa vừa tung mình xuống ngựa.
– Ồ nha Trọng Liên huynh!
Xuân Sân Quân vui mừng kéo lấy Lỗ Trọng Liên.
– Ta đã đợi huynh ba ngày rồi!
– Ngày mai mới là Tết Thanh Minh, huynh gấp gáp cái gì chứ?
– Ồ nha, nước Tần sắp đánh nước Sở! Ta sao có thể không gấp?
– Sao cơ? Tần đánh Sở? Tin từ đâu? Đang chuẩn bị hay đã bắt đầu rồi?
Lỗ Trọng Liên nôn nóng, liên tiếp bắn ra mấy câu hỏi.
Xuân Sân Quân xua xua tay:
– Từ từ rồi nói. Ồ nha, vị này là ai đây? Đăng Lăng Tử đâu?
Lỗ Trọng Liên sực tỉnh cười nói:
– Vị này là cao đồ môn hạ đại sư tử, Việt Yến! Người đời gọi là Tiểu Việt Nữ. Vị này chính là Xuân Sân Quân.
– Ra mắt Xuân Sân Quân.
Tiểu Việt Nữ chắp tay, nhưng không nói thêm câu thứ hai.
– Ồ nha,
Xuân Sân Quân cũng chắp tay số ruột hỏi:
– Chẳng lẽ Đăng huynh có bệnh trong người ư?
Lỗ Trọng Liên lắc đầu:
– Chờ chút nữa hãy nói. Này, đói bụng rồi, ăn uống là quan trọng nhất!
Xuân Sân Quân cười lớn:
– Ồ nha ta hồ đồ rồi! Nhìn kìa, một con cừu béo quay đang nướng đấy!
Ba người tiến đến bên đống lửa, con cừu vàng béo múp trên khung sắt đang xèo xèo túa mỡ dưới ánh lửa, mùi thịt thơm phức vàng óng lan tỏa. Mắt Lỗ Trọng Liên sáng lên, dây cương trong tay buông thõng, ba bước chập hai lao tới định ra tay, nhưng rồi sực quay phắt lại:
– Này? Xuân Sân Quân, sao chỉ có một mình huynh? Khuất Tử đâu rồi?
Xuân Sân Quân liền nở nụ cười khổ:
– Ồ nha, vị nhân huynh này cũng vậy, ngày nào cũng phải đi dạo bên bờ nước mất hai canh giờ. Hôm nay đợi huynh, ta mới không đi cùng ngài ấy.
Bỗng nhiên, Xuân Sân Quân nghẹn ngào một tiếng, nhưng rồi gượng cười nhìn vầng tảng dương đang ngậm núi:
– Chờ chút nữa, chắc cũng về rồi.
Lòng Lỗ Trọng Liên trầm xuống, vẻ hào hứng ban nãy bỗng chốc tan biến cùng mồ hôi, chỉ ngẩn ngơ nhìn non xanh nước biếc đằng xa, buông ra một tiếng thở dài nặng nề.
– Là ngài ấy phải không?
Tiểu Việt Nữ chỉ vào một chấm đen nhỏ xíu giữa bầu trời rực rỡ ánh hồng.
Xuân Sân Quân cười:
– Ồ nha, một đàn thủy cầm bay lượn, sao lại là người được?
– Dưới đám thủy cầm, quả thực có một người. Nhìn kìa, chính là chấm đen ở giữa đó.
Tiểu Việt Nữ chỉ chỏ.
Dần dần, chấm đen ấy trở nên rõ nét – một cụ già râu tóc điểm bạc, áo quần rách rưới đang thui thủi bước đi, một đàn chim không rõ tên bay lượn tung tăng quanh ngài, ríu rít kêu vang, ra điều quyến luyến không rời. Khi sắp đến ngọn núi xanh, cụ già vung tay giống như đang ngâm nga kéo dài:
– Tiểu tinh linh, về thôi, vầng trăng nước Mịch La đang chờ các ngươi đấy –!
Dứt lời, đàn chim liền đồng loạt vỗ cánh bay vụt đi.
Lỗ Trọng Liên vô cùng kinh ngạc, giọng nói không khỏi có chút run rẩy:
– Xuân Sân Quân, tiên sinh phát tâm điên rồi sao?
Tiểu Việt Nữ cười khanh khách:
– Thông linh với muông thú, vốn dĩ là một cảnh giới tâm hồn, sao lại là tâm điên chứ? Thật là...
Mặt đỏ bừng, rõ ràng là nàng đang nuốt vội chữ "ngốc" đã đến cửa miệng.
Xuân Sân Quân bỗng đứng phắt dậy cất cao giọng từ xa:
– Ồ nha Khuất Nguyên huynh, ng xem ai đến đây này?
Cụ già từ xa cười hỏi:
– Có phải Thiên Lý Mã cưỡi gió xuân đến đấy không?
Lỗ Trọng Liên sải bước tới vái sâu một lạy:
– Lâm Truy Lỗ Trọng Liên, bái kiến đại tư mã.
Cụ già ngửa cổ cười lớn:
– Đại tư mã? Ôi chao, lão phu nghe đến cũng thấy xa lạ rồi.
Vừa nói vừa kéo Lỗ Trọng Liên đi tới bên đống lửa, ấn Lỗ Trọng Liên ngồi xuống chiếu cỏ:
– Xuân hàn ẩm ướt, ngồi sát lửa một chút thì hơn.
Xuân Sân Quân bước tới cười nói:
– Ồ nha, ở đây còn có một người nữa, mắt Khuất huynh mờ rồi sao?
Cụ già quan sát một hồi, bỗng cất tiếng cảm thán ngâm nga:
– Ô hô! Mỹ tế mểu hề nghi tu, sướng tây phong hề quế châu, lệnh Mịch La hề vô ba, sử giang thủy hề an lưu?
Tiểu Việt Nữ ngạc nhiên nói:
– Lão gia gia, nước sông đều không chảy nữa, chẳng lẽ cháu là sao chổi hay sao?
Ba người không khỏi cười rộ lên, Lỗ Trọng Liên liền cười nói:
– Tiên sinh đang khen muội đấy! Nói muội trang điểm đẹp đẽ, uyển chuyển nương theo gió, đến nước Mịch La cũng phải mê mẩn muội đến mức không còn gợn sóng kìa. Đồ ngốc!
Khuôn mặt Tiểu Việt Nữ lập tức đỏ bừng, nhưng lại vui mừng cười khanh khách:
– Vốn dĩ là ngốc đấy, sợ huynh nói chắc?
Bèn vái cụ già một lạy:
– Lão gia gia, Việt Yến bái kiến, thầy hỏi thăm sức khỏe người!
Cụ già bối rối hỏi:
– Thầy? Thầy của cô nương mà lão phu quen biết ư?
Xuân Sân Quân cười nói:
– Ồ nha Khuất huynh, cô nương Việt Yến này là đệ tử Nam Mặc đấy.
Cụ già ngửa cổ cười lớn:
– Thời gian như bạch câu qua khẽ cửa hề, người cũ đều quên mất! Cô nương, tôn sư vẫn khỏe chứ? Vẫn còn hay hằn học suốt ngày thế không?
Lỗ Trọng Liên tiếp lời:
– Đại sư tu thành phong cốt cao nhân, điềm đạm sắp thành Trang Tử rồi, nếu có hằn học, ngược lại lại là phúc của thiên hạ.
Cụ già vuốt chòm râu lởm chởm gật đầu thở dài:
– Năm tháng dằng dặc, giữ được không đổi thật khó, mà thay đổi cũng khó, tất cả đều là ý trời thôi.
– Ồ nha, cừu nướng xong rồi! Vừa ăn vừa nói.
Xuân Sân Quân xách hai vò rượu từ trong nhà tranh ra gọi lớn.
Cụ già cười nói:
– Nào, cô nương ngồi đi. Xuân Sân Quân đã kéo đến một xe rượu, Trọng Liên cứ việc uống cho thỏa thích.
Trời đã hoàn toàn tối hẳn, một vầng trăng chưa tròn hẳn treo trên góc núi non, non nước mờ ảo một màu. Bốn người quây quần bên đống lửa, mở vò rượu, cắt thịt cừu nướng, rồi bắt đầu ăn uống. Chỉ chốc lát sau, Lỗ Trọng Liên đã xé sạch nửa con cừu nướng, liền dùng hai bàn tay dính đầy mỡ và vụn thịt quẹt mạnh lên vạt áo, mở vò rượu cay nồng hảo hạng của nước Tề dành riêng cho mình, uống từng bát từng bát một cách sảng khoái.
– Ồ nha, tráng sĩ lắm kẻ phàm ăn, Trọng Liên chính là một minh chứng sống rồi!
Xuân Sân Quân vốn là bậc quyền quý, dù hào sảng nhưng thói quen ăn uống tao nhã đã thành nếp, thấy Lỗ Trọng Liên ăn uống như cuốn phăng mây cuộn gió, không khỏi cười lớn.
Khuất Nguyên cười nói:
– Chỉ có đại anh hùng mới có bản sắc chân chính. Bản sắc ấy là do trời ban. Người ta dù muốn học, cũng khó lắm thay.
Lỗ Trọng Liên cười lớn:
– Ta nghe Mạnh Trưởng Quân nói, Trương Nghi ngày xưa cũng là nuốt trọn ngốn ngấu, hoàn toàn không câu nệ, còn Tô Tần lại giữ gìn lễ nghĩa pháp độ khuôn phép chuẩn mực. Đại tư mã, ngài nói tính cách hai người này sao lại một tung một hoành như vậy?
Sắc mặt Khuất Nguyên bỗng trầm xuống:
– Tên lang sói Trương Nghi, sao có thể đem ra so sánh với Tô Tần?
Xuân Sân Quân cười nói:
– Ồ nha, Khuất Nguyên huynh là ghét nhất cái tên Trương Nghi đó, Trọng Liên nhắc đến hắn làm gì cơ chứ?
– Không phải ghét, là hận!
Sắc mặt Khuất Nguyên âm trầm.
– Kẻ thù của quốc gia, nanh vuốt của loài sói dữ, lão phu với hắn đội trời chung.
– Hay lắm!
Lỗ Trọng Liên vỗ đét một cái cất tiếng khen ngợi.
– Đại tư mã ôm hận quốc gia trong lòng, nước Sở vẫn còn hy vọng!
Khuất Nguyên lại thở dài thườn thượt:
– Nước Sở hỡi nước Sở, chỉ tiếc cho giang sơn gấm vóc này thôi.
– Ồ nha Khuất Nguyên huynh,
Xuân Sân Quân đúng lúc xen vào nói:
– Ta và Trọng Liên đã mưu tính từ lâu, muốn làm một mớ đại sự, nếu thời thế có biến, huynh hãy xuất sơn, đến lúc đó quyết không thể thoái thác đâu đấy.
Ánh mắt Khuất Nguyên liền lóe lên:
– Lỗ Trọng Liên vì sao phải gánh vác cho nước Sở?
– Đại tư mã nhầm rồi.
Sắc mặt Lỗ Trọng Liên nghiêm nghị.
– Trọng Liên không phải vì nước Sở mà gánh vác, mà là vì thiên hạ mà gánh vác. Nếu Tô Tần còn sống, nước Tề vẫn còn hy vọng, tự khắc Trọng Liên sẽ không tìm xa bỏ gần.
– Huynh hãy dừng lại đã.
Khuất Nguyên nôn nóng nói.
– Sau khi Tô Tần biến pháp, nước Tề đang ở thời kỳ huy hoàng rực rỡ, sao lại không còn hy vọng?
– Đại tư mã bị lưu đày nhiều năm, nên không biết nước Tề ngày nay, đã không còn là nước Tề của ngày xưa nữa rồi.
Lỗ Trọng Liên thở dài một tiếng, đem những biến đổi của nước Tề sau thời Tề Tuyên Vương thuật lại đại khái, rồi kể tỉ mỉ về bản chất cùng mọi hành vi của Tề vương Điền Đất, cuối cùng nói:
– Quốc gia có loại quân vương như thế, trụ cột quốc gia bị bẻ gãy, hiền tài bỏ đi, dân oán sục sôi, thiên hạ coi như kẻ thù chung, nước Tề sao có thể lãnh đạo thiên hạ? Trọng Liên thân là tung hoành sách sĩ, quyết tâm kế thừa chí hướng của Tô Tần, mưu tính cho thiên hạ một con đường lớn không đi theo Tề. Điểm cốt lõi của việc này, trước hết là ở một nước lớn dốc sức mạnh mẽ đẩy mạnh biến pháp, tiến lên lãnh đạo thiên hạ, cuối cùng tiêu diệt nhà Tề tàn bạo!
– Chí khí lắm!
Khuất Nguyên không khỏi cất tiếng tán thán.
– Hậu sinh thế này, quả thực đáng sợ thay.
– Ồ nha Khuất Nguyên huynh!
Xuân Sân Quân vô cùng kích động.
– Trọng Liên cho rằng: Sơn Đông lục quốc, chỉ có huynh coi việc biến pháp cường quốc là sinh mệnh, coi sự hùng mạnh của nước Sở là mục tiêu theo đuổi cả đời. Huynh ấy đã thuyết phục ta, cổ vũ ta, nên mới có mưu đồ lần này đấy.
– Mau nói xem, mưu đồ thế nào?
Khuất Nguyên đã không kịp đợi Xuân Sân Quân nói hết câu.
Lỗ Trọng Liên uống một bát rượu mạnh, quẹt miệng rồi hạ giọng kể ngấu nghiến, một mạch nói liền gần nửa khắc đồng hồ. Cả ba người đều vô cùng kích động, lại bàn bạc thêm rất nhiều chi tiết, không ngờ đã đến lúc trăng lên giữa trời. Khuất Nguyên hào hứng khó kiềm chế, liền ôm ra một đống củi khô cành cây nhóm lại đống lửa. Xuân Sân Quân cười nói:
– Ồ nha Khuất huynh, huynh có bài thơ mới nào không, ngâm một bài đi chứ!
– Lão gia gia ngâm thơ hay lắm đấy!
Tiểu Việt Nữ vui mừng cười rộ lên.
– Cũng được!
Khuất Nguyên cười nói.
– Sống quanh năm trong núi, vừa hay làm được một bài "Sơn Quỷ", ta liền xướng lên đây!
– Lão gia gia hát, cháu thổi huân, là Sở ca phải không?
Tiểu Việt Nữ lấy từ trong túi tùy thân ra một chiếc đào huân đen nhánh, khẽ chạm vào môi, tiếng huân liền cao vút nhẹ nhàng bay lên, hoàn toàn khác hẳn với tiếng huân nghẹn ngào trầm đục thông thường!
– Huân hay!
Khuất Nguyên khen ngợi một tiếng, rồi vung vẩy tay áo rách rưới, chân bỗng giậm mạnh xuống đất, liền cất tiếng múa cao giọng ca hát:
Nhược! Hữu nhân hề sơn chi a
Dư xứ u minh hề chung bất kiến thiên
Lộ hiểm nan hề độc hậu lai
Biểu độc lập hề sơn chi thượng
Vân dung dung hề nhi tại hạ
Yểu minh minh hề khương trú hối
Đông phong phiêu hề thần linh vũ
Lôi điền điền hề vũ minh minh
Viên chu chu hề hựu dạ minh
Phong tái tái hề mộc tiêu tiêu
Tư công tử hề đồ ly ưu
Thạch lỗi lỗi hề cát mạn mạn
Quân tư ngã hề hà siêu viễn
Nhược! Xuân lan hề thu cúc
Trường vô tuyệt hề chung cổ ——
Tiếng ca nương theo tiếng huân phiêu bay đi mất, Khuất Nguyên lại thở dài thườn thượt một tiếng, sự kích động ban nãy bỗng chốc tan biến sạch trơn. Lỗ Trọng Liên và Xuân Sân Quân cũng trầm mặc hồi lâu. Chỉ có Tiểu Việt Nữ thổn thức không thôi, vừa gạt nước mắt vừa cười nói:
– Lão gia gia, con sơn quỷ này hóa ra là một nữ quỷ, tìm không thấy vị công tử mà nàng yêu quý, có phải không?
Khuất Nguyên bỗng ngửa cổ cười lớn, loạng choạng ngã nhào xuống cạnh đống lửa.
Mùa xuân ở Dĩnh Đô, những chiếc thuyền nhỏ bên trong thủy môn lại neo đậu thành một phong thái quyến rũ.
Cây cầu đá trắng nối liền với dãy phố người qua lại như nườm nượp, thỉnh thoảng lại có thương nhân lữ khách đi đến gọi thuyền ra khỏi thành, bến cảng liền luôn vang lên những tiếng ngâm giọng Ngô ngọt ngào ấm áp. Gần đến chính ngọ, từ cầu đá có một đội giáp sĩ đi tới, vội vã phong tỏa đầu cầu phía phố chợ, ngay sau đó là một đội phu khiêng vác bước lên cầu đá, theo sau lại là một người trung niên cưỡi ngựa cao lớn, y phục lụa là sang trọng bên hông dắt bảo kiếm, đằng sau ngựa lại có hai võ sĩ mang kiếm, khí thế hoàn toàn khác hẳn với thương buôn bình thường. Những người ngựa này vừa xuất hiện, dân chèo thuyền ở bến cảng liền lập tức xôn xao, nhìn ngó lẫn nhau, nụ cười hầu như vẫn luôn treo trên mặt bỗng chốc tan biến, chẳng những không có ai tiến lên chèo kéo việc làm ăn, trái lại còn vô cùng hoang mang lo sợ.
– Các người nhìn kìa, quan phủ lại sắp vận chuyển hàng hóa ra khỏi thành rồi kìa!
– Một đồng cũng không cho, lại còn đi đường xa, ai mà thèm đi chứ?
– Có ai thiếu phu dịch của quan phủ không? Tranh thủ lên đấy ứng phó đi, khỏi để chúng điểm danh mù quáng bọn mình!
– Đừng hòng đừng hòng! Ai thiếu phu dịch, chẳng phải là đi tìm cái chết sao?
Đúng lúc này, vị quan viên trung niên sang trọng kia bước xuống cầu đá, kiêu ngạo vung tay về phía bến cảng:
– Hàng hóa vương cung! Thay thế phu dịch, có ai bằng lòng đi không?
Hỏi liền ba tiếng, vậy mà không có một ai đáp lời. Sắc mặt quan viên bỗng chốc đỏ lựng lên, quay đầu quát lớn đằng sau:
– Người đâu! Điểm cho ta bốn chiếc thuyền lớn! Kẻ nào dám trái lệnh, chém không tha!
Giáp sĩ trên cầu hò reo ùa tới, định xuống bến cảng cưỡng ép điểm thuyền.
Đột nhiên, người ở phía cuối cùng của đám dân chèo thuyền hô lớn:
– Sáu chiếc thuyền của tụi ta xin đi! Khỏi cần điểm nữa!
Quan viên cười lớn:
– Đã bảo mà, nước Sở lớn thế này, chẳng lẽ không có dân lành thuần phục sao?
Hắn lại bỗng sầm mặt quát lớn vào đám dân chèo thuyền:
– Các ngươi vốn dĩ là dân tiện mọn Ngô Việt! Sau này nếu còn dám bất kính với quan phủ đại Sở, thuyền bè sẽ đem đốt sạch hết! Dạy cho các ngươi chết cóng chết đói, làm mồi cho cá! Nghe thấy chưa?
Dân chèo thuyền lại chết lặng im phăng phắc. Quan viên kia vừa định nổi giận, từ mấy chiếc thuyền lớn đang chèo tới liền có một tráng đản da ngăm đen gầy gọc đứng ở mũi thuyền chắp tay cười nói:
– Thượng đại phu cần gì phải chấp nhặt với đám dân tiện mọn Ngô Việt làm gì? Mời đại phu lên thuyền thôi, hôm nay vừa vặn có gió xuôi đấy!
Quan viên tức khắc mây đen tan sạch, đổi mặt cười nói:
– Một kẻ chèo thuyền, sao ngươi lại biết bản quan là thượng đại phu vậy?
Tên tráng đản da ngăm cười vô cùng cung thuận:
– Cận Thượng đại phu là trụ cột của đại Sở, thiên hạ ai mà không biết. Dù là thứ dân chốn thôn dã, cũng như sấm bên tai ấy chứ.
Quan viên vô cùng đắc ý, không khỏi cảm thán:
– Ta Cận Thượng mà có tiếng tăm thế này, ông trời có mắt rồi! Người đâu, thưởng cho dân chèo thuyền một nén hoàng kim!
Một võ sĩ đằng sau Cận Thượng hô lớn:
– Dân chèo thuyền nhìn cho kỹ đây!
Rồi vèo một tiếng tung mạnh một nén vàng từ không trung tới. Tên tráng đản da ngăm tỏ vẻ thụ sủng nhược kinh, vội vàng lảo đảo đón lấy ở mũi thuyền, nhưng không đề phòng bước chân trượt ngã, tũm một tiếng rơi tõm xuống nước cùng nén vàng, khiến đám dân chèo thuyền xung quanh được một trận cười lớn. Đợi đến khi tên tráng đản da ngăm ướt sũng trèo lên thuyền, Cận Thượng lớn tiếng cười nói:
– Không hề gì! Đến biệt cung của vương hậu ta sẽ thưởng thêm cho ngươi một nén nữa!
Tên tráng đản da ngăm như gà rớt nước vội vã chắp tay hoảng sợ nói:
– Tiểu dân vốn có học qua vài ngày võ nghệ, muốn trổ tài trước mặt đại nhân một phen, nào ngờ lại ngã ngựa, chê cười rồi, chê cười rồi.
Cận Thượng cười lớn:
– Được! Khỏi cần kiểm xét, chính là mấy chiếc thuyền này của ngươi rồi, ngươi mà có võ nghệ thật thì bản quan còn chẳng thèm dùng đến ngươi nữa là.
Cười dứt quay người hạ lệnh:
– Người đâu, chuyển hàng lên thuyền!
Chỉ chốc lát sau, hàng hóa đã chất đầy bốn chiếc thuyền lớn. Cận Thượng chỉ vào hai chiếc thuyền trống ra lệnh đầy kiêu kỳ:
– Giáp sĩ áp tải một chiếc thuyền, bản quan một chiếc, lên!
Hơn hai mươi tên giáp sĩ liền ùa lên chiếc thuyền cuối cùng, còn Cận Thượng thì cùng hai tên hộ vệ và một con tuấn mã lên chiếc thuyền nhỏ mui vải tinh xảo của tên tráng đản da ngăm.
Tên tráng đản da ngăm hoảng sợ cười nói:
– Đại nhân, thuyền nhỏ không chịu nổi nặng, bảo mã của đại nhân liệu có thể...
Cận Thượng vung tay liền nói:
– Hai tụi mày xuống đi! Lên chiếc thuyền lớn kia kìa.
Hai tên hộ vệ hơi do dự, Cận Thượng liền sầm mặt:
– Cút xuống! Hai tụi mày gộp lại còn chưa đáng giá bằng con ngựa này đâu! Nó là bảo bối của vương hậu, hiểu chưa?
Hộ vệ vâng vâng dạ dạ, vội vàng xuống thuyền nhỏ chen chúc sang thuyền lớn.
– Xuất phát thôi –!
Tên tráng đản da ngăm hô lên một tiếng, chiếc thuyền lớn chở đầy giáp sĩ liền thong thả rời khỏi bến cảng, tiếp theo là bốn chiếc thuyền chở hàng, cuối cùng mới là chiếc thuyền nhỏ mui vải của tên tráng đản da ngăm. Điều kỳ lạ là, tất cả dân chèo thuyền đứng xem ở bến cảng đều không có câu chúc gió thuận buồm xuôi ấy, ai nấy chỉ lạnh lùng nhìn đoàn thuyền ra khỏi thủy môn, tiến vào đường nước, suốt từ đầu đến cuối không một ai lên tiếng.
Đoàn thuyền ra khỏi thủy môn, tên tráng đản da ngăm liền cất tiếng hô lớn:
– Thuyền hàng quan phủ, căng buồm chèo nhanh lên –!
Dân chèo thuyền và tay chèo trên những chiếc thuyền lớn chở hàng liền hô lớn "Hây!", buồm lớn trên các thuyền vụt căng lên, đám tay chèo cũng đồng loạt vung vai bơi thuyền, đoàn thuyền căng buồm nhanh mái chèo, chỉ chốc lát đã lướt vào bờ phía bắc Vân Mộng Trạch.
Không ngờ vừa vào mặt nước bao la của Vân Mộng Trạch, những chiếc thuyền hàng nặng trĩu bỗng thong thả chậm lại. Tên tráng đản da ngăm hô lên một tiếng:
– Tay chèo nghỉ mệt lát đi! Thượng đại phu muốn du ngoạn ngắm cảnh ở phía trước, ta đợi ở phía trước nhé!
Dứt lời liền dùng mái chèo lớn quạt mạnh một cái, chiếc thuyền nhỏ mui vải lướt qua đoàn thuyền như bay rồi thong thả đi mất. Thủy thủ thuyền lớn đều đồng thanh hô lớn:
– Lão đại võ nghệ cao cường! Hay lắm –
Chỉ chốc lát sau, chiếc thuyền nhỏ mui vải lại phất phơ bay quay trở lại, trên mũi thuyền lúc này lại đứng sừng sững một thiếu nữ váy áo thướt tha. Giữa lúc đám giáp sĩ trên thuyền lớn đang ngơ ngác, thiếu nữ huýt còi một tiếng dài, chiếc thuyền lớn chở đầy giáp sĩ bỗng chốc nghiêng ngả, cột buồm gãy rốp một tiếng, rồi lật úp xuống một cách phũ phàng. Giáp sĩ hoảng loạn kêu la rồi đều rơi xuống nước, dù người Sở giỏi thủy tính, ngặt nỗi lại bị thuyền lớn úp ngược ở trên, lại thêm mang áo giáp sắt trên người, phần lớn đều bỏ mạng trong chớp mắt. Hai tên hộ vệ và mấy tên đầu mục giáp sĩ võ nghệ cao cường miễn cưỡng thoát thân, nhưng vừa ngoi lên mặt nước đã bị mái chèo sắt lớn giáng thẳng vào đầu, máu tươi lập tức rỉ ra tạo thành một vầng mây đỏ, chưa đầy chốc lát, toàn bộ giáp sĩ đều chết sạch sành sanh.
Thiếu nữ trên thuyền nhỏ lại huýt còi một tiếng, liền có hơn chục tay chèo lao vù xuống nước khiêng mười mấy cỗ thi thể lên thuyền, cũng chỉ trong chớp mắt, hơn chục giáp sĩ đã đứng trên chiếc thuyền lớn ở tận cùng phía trước. Thiếu nữ vung tay một cái, thuyền nhỏ mui vải liền bay vút đi, mấy chiếc thuyền lớn liền thong thả bám theo phía sau.
Đoàn thuyền xuôi theo bờ bắc Vân Mộng Trạch đi chừng nửa khắc đồng hồ, liền thấy bên sườn núi phía bắc ẩn hiện một tòa thành bảo nhỏ từ xa. Dần dần đến gần, trong Áng núi uốn lượn ra một vũng cảng nhỏ, một dải bến cảng bằng đá xanh hiện ra trước mắt. Thuyền nhỏ mui vải vừa cập bến, thiếu nữ ở mũi thuyền liền biến mất tăm, Cận Thượng y phục lụa là sang trọng bỗng uy nghi bước lên bờ. Chỉ thấy Cận Thượng kiêu kỳ vung tay lên, trên những chiếc thuyền lớn lần lượt cập bến có hơn chục giáp sĩ áp tải một đội phu khiêng, gánh đủ loại hàng hóa lên núi.
Cận Thượng nghênh ngang đi ở phía trước, thấy sắp đến thành bảo, giáp sĩ canh gác ngoài cổng thành liền cung kính cúi mình. Cận Thượng cũng chẳng thèm đếm xỉa, chỉ quát lớn về phía sau:
– Lũ dân tiện mọn tụi mày cẩn thận đấy cho tao! Đây đều là vật yêu thích của vương hậu, nếu có chút sơ sẩy nào, liền đem tụi mày cho chó ăn đấy!
Giáp sĩ áp tải hàng cũng mang khí thế hổ báo, liên tục dùng trường mâu gõ vào người phu khiêng, cứ thế theo chân Cận Thượng nghênh ngang tiến thẳng vào thành bảo. Lại thêm nửa khắc đồng hồ, Cận Thượng dẫn theo giáp sĩ áp tải phu khiêng lại đi ra khỏi thành bảo.
Chỉ chốc lát sau, đoàn thuyền đã bay vút đi mất, thành bảo vẫn đứng sừng sững tĩnh mịch như xưa.
Sáng sớm hôm ấy, Dĩnh Đô nổ ra một tin tức động trời: Thượng đại phu Cận Thượng đang nắm quyền lực trong tay bị nước Tần ám sát, thủ cấp thậm chí còn bị treo trên cột cờ ở bến xe ngựa vương cung! Phố xá Dĩnh Đô lập tức náo động lớn, người người ăn mừng khua tay múa chân, giá rượu trong các tửu quán thậm chí rớt xuống còn một phần mười để dân chúng tụ tập uống rượu ăn mừng. Nào ngờ đúng vào thời khắc người người hân hoan ấy, lại có tin tức chấn động hơn truyền đến – Vương hậu Trịnh Hụ bị hạ độc chết trong mật thất ở biệt cung, hai ngày sau mới được cung nữ phát hiện! Cho đến khi tin tức này lan truyền, Dĩnh Đô lại bỗng chốc rơi vào im lặng. Vương hậu Trịnh Hụ tuy cũng thông hưu một ruột với Cận Thượng và Chiêu Thư, bị người Sở căm giận gọi là "Ả người Ngô", nhưng dù sao nàng ta cũng là vương hậu, nếu dân chúng hân hoan ăn mừng, há chẳng phải kéo cả Sở vương vào luôn sao? Nếu Sở vương cũng dơ bẩn nhơ nhớp nhúa, thì nước Sở còn có hy vọng gì nữa? Từ xưa đến nay, thứ dân chốn thị trấn thôn dã tuy xa miếu đường nhưng lại là những kẻ nhìn thấu đáo nhất đối với đại cục quốc gia, ai là sâu mọt gian thần, ai là rường cột mưu quốc, nhìn từ xa, hoàn toàn không mảy may sai sót. Nước Sở trải qua bao kiếp nạn, dân chúng lại càng sáng như gương, vậy mà trong sự im lặng tựa cõi chết ấy lại dồn nén ra một hành động vĩ đại khiến thiên hạ kinh ngạc đến ngây người.
Đúng vào đêm tin tức vương hậu Trịnh Hụ bị hạ độc chết truyền ra, một bài đồng dao đã được truyền tụng khắp các ngõ ngách Dĩnh Đô:
Bì dĩ bất tồn tụ dã bất chính
Tam Lư bất xuất nhật khẩu kiến đao
Thiên tâm vô ngữ Tam Chu đại kiếp
Thế là, dân chúng Dĩnh Đô tụ tập bàn tán, lần lượt giải mã thiên cơ ẩn giấu trong bài đồng dao này. Không nói thì thôi, vừa bàn tán lên, mới phát hiện bài đồng dao này hóa ra lại trực bạch như tranh vẽ – "Bì" chính là da, "cách" chính là Cận Thượng. "Tụ" không cần nói cũng là vương hậu. "Tam Lư" chính là Khuất Nguyên, bởi vì Khuất Nguyên chính là bị lưu đày khi đang mang tước vị Tam Lư đại phu. "Nhật khẩu đao" chính là Chiêu. Ở nước Sở, "Chiêu" không có người thứ hai, chính là Chiêu Thư. Cứ như vậy, bài đồng dao này chính là đang minh bạch thông báo cho người Sở biết: Kẻ gian thần Cận Thượng đã chết, vương hậu có hành tung không chính đáng cũng đã chết, nếu Tam Lư đại phu còn chưa chịu xuất sơn, Chiêu Thư sắp sửa "thấy đao" rồi! Thế nhưng, hai câu giữa nối liền với nhau lại khiến người ta kinh ngạc đến mức khó tin: Khuất Nguyên không chịu xuất sơn, sao Chiêu Thư lại phải thấy đao chứ? Chẳng lẽ ông trời trong cõi u u minh minh đã sớm định đoạt Chiêu Thư chính là kẻ tử địch ngáng đường Khuất Nguyên hay sao? Hai câu sau lại càng kỳ quái, ý trời vốn dĩ vô ngôn, vì sao "Tam Chu" lại phải hứng chịu đại kiếp nạn? "Tam Chu" nói đến đại nước Sở, lãnh thổ bản địa nước Sở cùng với hai nước Ngô Việt thôn tính vào, chính là Tam Chu. Vậy thì, "thiên tâm" rốt cuộc ám chỉ điều gì?
– Ồ nha! Dân tâm chính là thiên tâm! Mạnh Tử nói rồi mà!
Một tên nho sinh bỗng cất tiếng hét lớn lên.
– Mày thật là sáng suốt! Thiên tâm chính là dân tâm!
Một gã sĩ tử đất Ngô lập tức hưởng ứng.
– Hay lắm –
Mọi người vỡ lẽ, đồng loạt cất tiếng hò reo vang dội.
– Ý của câu này là,
Nho sinh hạ thấp giọng.
– Dân tâm mà không động, nước Sở ắt gặp đại họa lâm đầu!
– Lòng dạ nằm trong bụng, đến lúc động thì tính sao đây?
Một gã thương nhân lại cau mày chặt lại.
Mọi người cười rộ lên! Sĩ tử đất Ngô mỉm cười đầy kiêu kỳ:
– Mày không biết sao? Dân tâm động, chính là biểu lộ ra bên ngoài, mà biểu lộ ra bên ngoài rồi, chính là phải cho quốc quân biết đến dân tâm.
– Biết rồi biết rồi!
Thương nhân gật đầu liên hồi.
– Chính là dâng vạn dân thư lên chứ gì!
– Hay lắm –
Mọi người liền cất tiếng hò reo.
– Dâng vạn dân thư –
Sáng sớm hôm sau, bến xe ngựa vương cung bất ngờ biến thành một biển người mênh mông chưa từng có. Thương nhân đóng cửa hàng, trăm thợ ngừng công việc, dân chèo thuyền ngưng vận chuyển, thứ dân bách tính từ khắp bốn phương tám hướng đổ về vương cung, chen chúc kín mít mọi khoảng trống có thể chen chân vào, ngay cả những cây lớn xung quanh bến xe ngựa cũng treo đầy đủ loại người. Dưới những trụ hiên vương cung cao ngất, lại là một hàng đầu tóc bạc phơ đang căng một tấm vải gai rộng lớn, nổi bần bật lên tám chữ đỏ rực máu – Thiên tâm bổ Sở Tam Lư bính chính! Quân lính giáp sĩ canh gác vương cung cũng không dám hành động tùy tiện, một tên võ tướng chỉ huy vội vã chạy như bay vào cung để bẩm báo.
Đúng lúc ông ta đang tận hưởng hương vị tuyệt vời của một vị quốc vương, thì hai chiếc cột chống chí mạng của cái giá ba người lại bất ngờ gãy sập! Khi Sở Hoài Vương nghe được tin tức này, đến một tiếng rên cũng chẳng kịp phát ra đã ngất lịm đi. Đến lúc tỉnh lại, ý nghĩ đầu tiên lướt qua trong đầu ông ta là: Trời cao dẫu muốn trừng phạt ông ta, sao lại không để Chiêu Thư đi chết đi? Lại để cho hai người yêu quý nhất chết chứ? Ông ta không ăn không uống không ngủ, chỉ quanh quẩn bồn chồn trong vườn hoa, hoàn toàn không nhớ nổi mình nên làm gì? Một nữ quan cai quản cung nữ vô cùng tinh khôn, đã phái đến bốn cung nữ mềm mại quyến rũ thường ngày đóng vai thay thế Trịnh Hụ, cất giọng ngọng ngịu ngọt ngào y hệt như Trịnh Hụ, líu ríu vây quanh ôm ấp ông ta du ngoạn, một đêm du ngoạn sắp tảng sáng, cuối cùng ông ta cũng rũ rượi ngã mềm ra trên bốn thân hình mềm mại co giãn ấy rồi chìm vào giấc ngủ say...
– Bẩm đại vương! Xảy ra chuyện lớn rồi...
Tướng quân cửa cung vội vã bước vào, nhưng rồi đờ đẫn cứng đờ như cái đinh đóng cột.
Trong màn sương sớm, trên thảm cỏ xanh là một chiếc lều lụa trắng, bốn cung nữ và vị vua già râu tóc điểm bạc đang quấn quýt chồng chất lên nhau, tiếng ngáy to nhỏ cũng hòa lẫn vào nhau, xung quanh hoàn toàn không có lấy một bóng người, tĩnh lặng đến mức rợn người!
– Nội thị đâu? Ngự y đâu?
Tướng quân cửa cung cất tiếng hét lớn lên.
– Ngươi đừng có làm ồn nữa!
Một nữ quan cai quản váy áo thướt tha không biết từ xó nào bay vụt ra, trợn trừng đôi mắt hạnh hạ giọng quát lớn.
– Ngươi không biết đại vương đã hai ngày hai đêm không được ngủ sao? Ngươi không có mắt à, làm ầm lên lỡ đại vương tỉnh giấc thì ai là kẻ chịu nổi? Ngươi có chuyện gì thì đi tìm lệnh y lệnh ấy! Ở đây có làm đại vương tỉnh giấc thì cũng chẳng ích gì đâu, hiểu chưa?
Tướng quân cửa cung cười mếu máo, muốn nổi giận nhưng lại không dám. Những cung nữ tiếng Ngô này đều là tâm phúc theo hầu của vương hậu Trịnh Hụ, lại càng là tuyệt sắc trong phòng ngủ của Sở Hoài Vương, bình thường ngay cả đại thần cũng phải nhìn sắc mặt các nàng ta mà sống, lúc này Sở Hoài Vương vẫn chưa ngủ đã cái nết, lỡ bị làm ồn tỉnh giấc mà chém đầu hắn thật thì biết trách ai đây? Nghĩ đến đây, vị tướng quân đành vâng vâng dạ dạ rồi bước đi, vừa ra khỏi cổng cung là lập tức phái kỵ binh phi nhanh đi cấp báo với Lệnh y Chiêu Thư.
Mấy ngày nay Chiêu Thư đang nơm nớp lo sợ, lúc tin tức Cận Thượng chết truyền ra, hắn ta còn vui mừng một trận ra trò – tên nịnh thần này dạo gần đây khí thế ngày càng bừng bừng, lại nhân cả nam phong lẫn nữ phong mà đồng thời được sủng ái, thỉnh thoảng đối với hắn ta là một lệnh y cũng mang theo chút sắc mặt, chỉ trỏ chuyện này hắn làm chưa tốt chuyện kia hắn làm không nên, suýt chút nữa là có xu thế cướp ngôi đến nơi; tên tiểu nhân con nhà họ Trung Sơn này, vừa đắc chí là bắt đầu cuồng vọng, chết đúng vào lúc này thật quá đáng đời! Nào ngờ chưa kịp hoàn hồn thì Trịnh Hụ đã bị hạ độc chết. Đến lúc này, Chiêu Thư mới vã mồ hôi hột. Suy cho cùng, Trịnh Hụ là người của hắn ta, là sợi dây thòng lọng mà hắn ta giăng ra cho Sở Hoài Vương. Hơn hai mươi năm nay, nếu không có Trịnh Hụ chống lưng trong vương cung, Chiêu Thư hắn ta thực sự không biết đã chết bao nhiêu lần rồi? Nay lại có kẻ một cược tiêu diệt cả Cận Thượng lẫn Trịnh Hụ, có thể thấy thế lực này tuyệt đối có lai lịch không nhỏ! Bọn chúng có thể tiêu diệt hai kẻ tinh ranh tính toán người khác đến từng chân tơ kẽ tóc này, đủ thấy mưu tính chu đáo tỉ mỉ đến nhường nào. Điều khiến Chiêu Thư càng bất an hơn là, thế lực bí ẩn này vì sao lại muốn tiêu diệt Cận Thượng và Trịnh Hụ? Suy nghĩ đắn đo mãi, Chiêu Thư đinh ninh chỉ có một đáp án duy nhất: Thế lực phái mới của nước Sở muốn thay đổi triều cục, uy hiếp Sở Hoài Vương tiến hành biến pháp. Nếu quả thực là như vậy, thế lực này sao có thể buông tha cho hắn ta – một tên tử địch của phái mới chứ? Thế nhưng, tại sao bọn chúng lại muốn tha cho hắn ta cơ chứ? Không có cơ hội ra tay? Tuyệt đối không phải. Chỉ có một khả năng duy nhất: Phải chọn một thời điểm khác để giết hắn ta, nhằm tạo ra sự chấn động lớn hơn nữa. Thời điểm này, rất có thể chính là lúc nhân vật biến pháp của bọn chúng sắp xuất sơn, giết hắn ta – kẻ đầu sỏ thế tộc để tế cờ cho biến pháp. Ngoài lý do này ra, còn có thể giải thích thế nào được nữa đây?
Chiêu Thư là một con yêu hồ ngàn năm, vừa có sự phán đoán bình tĩnh, lại vừa có đối sách xảo quyệt. Suy đi nghĩ lại, hắn ta đã chọn lấy nguyên tắc cổ xưa là "lấy tĩnh chế động" để đối phó với cục diện hỗn loạn mập mờ này, ôm ấp ý định ẩn mình trốn tránh trong cơn gió mạnh mẽ này, bố trí hộ vệ trong phủ kín như bưng, nhưng tuyệt đối không bước chân ra khỏi cửa phủ nửa bước. Chỉ cần không bước qua ngưỡng cửa này, phái mới thì làm gì được ta? Ai có thể đảm bảo vị Sở Hoài Vương sáng nắng chiều mưa kia nhất định sẽ ủng hộ nhân vật phái mới chứ?
Đúng lúc này, người cháu họ Tử Lan hớt hơ hớt hải chạy vào thư phòng, nói là Tư mã cấm quân phi ngựa báo gấp: Dân chúng Dĩnh Đô viết thư bằng máu thỉnh nguyện trước cung, ép Sở Hoài Vương phải tái dụng Khuất Nguyên biến pháp; Sở Hoài Vương thì chết giấc, triều thần thì không ai ló mặt, khẩn cấp thỉnh mệnh lệnh y xử lý.
– Hì hì, nước cờ lại nằm ở chỗ này đây.
Râu tóc bạc phơ xoắn lại trên đỉnh đầu búi thành một chiếc mão trắng, đôi mắt lão Chiêu Thư lóe lên những tia sáng sắc bén.
– Giết đối thủ trong cung trước, rồi dùng đồng dao kích động dân chúng dâng thư, sau đó thay đổi triều cục. Tính toán cũng không tồi. Tử Lan, ngươi cũng từng làm một lần đại tướng rồi, thử nghĩ xem, nên xử lý thế nào đây?
– Dù thế nào đi nữa, cũng không thể để Khuất Nguyên xuất sơn!
Tử Lan nghiến răng nghiến lợi.
– Bằng không, tộc họ Chiêu ta sẽ bị tru di toàn tộc!
– Ta đang hỏi ngươi, sách lược trước mắt nên thế nào đây?
Chiêu Thư đối với người cháu từng làm một lần thượng tướng quân nhưng lúc nào cũng ngu ngốc kiêu ngạo này, mỗi lần đều không khỏi cau mày sâu sắc.
– Triều thần nước Sở lúc này đều không quản lý sự việc, thúc phụ chính là trụ cột chống trời, phải giải tán đám dân loạn, ổn định Dĩnh Đô, đồng thời nhổ tận gốc rễ của Khuất Nguyên Hoàng Hiệt!
Tử Lan tỏ ra vô cùng hào hứng.
– Sau đó thì sao?
– Uy hiếp Sở Hoài Vương, khép tội làm loạn quốc gia để diệt trừ cả hai tộc họ Khuất và Hoàng, thúc phụ sẽ trấn quốc nhiếp chính!
– Lại sau đó nữa thì sao?
– Thúc phụ mô phỏng theo phương pháp của Y Doãn, phế truất lưu đày lão Sở Hoài Vương, phò tá một vị tiểu đồng tử làm Sở vương!
– Lại lại sau đó nữa thì sao?
– Họ Chiêu thay thế họ Mị! Như việc Tề họ Điền thay thế họ Khương, dựng lên một nước Sở mới!
– Hay lắm!
Lão Chiêu Thư lần đầu tiên cất lời khen ngợi người cháu.
– Ngươi có thể nhìn xa trông rộng như vậy, đại sự lần này cứ giao cho ngươi đi làm.
Dứt lời bước vào gian trong, một tiếng động nhỏ vang lên, liền ôm một chiếc hộp đồng bước ra đặt lên bàn sách:
– Mở ra.
Tử Lan nhìn kỹ lại, trong mắt liền ánh lên tia sáng, thuần thục mở chiếc hộp đồng ra, không khỏi thốt lên kinh ngạc:
– Binh phù!
Chiêu Thư lạnh lùng cười:
– Đây là binh phù ta cất giấu bí mật. Ngươi cầm lấy nó lập tức điều một vạn tinh binh, giải tán đám dân loạn, vây chặt vương cung, không cho bất cứ kẻ nào ra vào. Nhớ kỹ lấy, chừa lại một ngàn thiết giáp võ sĩ cho phủ đìa, đề phòng thế lực kia được đằng lân đằng đằng củ.
– Rõ!
Tử Lan đáp lời một tiếng, rồi sải bước đi ra khỏi thư phòng.
Bên trong Dĩnh Đô ngoài tám ngàn cấm quân vương thất ra, thì chính là sáu ngàn quân trú phòng thành. Là một quốc đô của một nước, quân đội đồn trú trong thành chỉ có thể duy trì ở một số lượng nhất định, không thể càng nhiều càng tốt, lực lượng phòng vệ quan trọng nhất từ trước đến nay đều đồn trú ở các pháo đài hiểm yếu ngoài thành. Đây là thông lệ của thiên hạ. Nguyên nhân cơ bản nhất chính là nhu cầu thực chiến – đại quân đồn trú ở các pháo đài ngoài thành, khiến đối phương hoàn toàn không thể đến gần quốc đô, đây mới chính là phòng thủ thực sự. Đại quân áp sát dưới thành, quân trong thành cô lập thủ hộ, đó chỉ là pháo đài đồn trú vô cùng đặc biệt hoặc tình thế chiến trường ngẫu nhiên, còn làm bố phòng quốc đô của một nước lớn, từ trước đến nay tuyệt đối không bao giờ gom đại quân co cụm lại bên trong thành trì.
Chính vì lẽ đó, Tử Lan muốn điều đủ một vạn nhân mã, thì chỉ có thể xuất thành. Cấm quân vương thất trong quốc đô là lực lượng chỉ tuân lệnh của một mình Sở vương, ngay cả sáu ngàn quân trú phòng thành kia, cũng phải có binh phù đặc biệt mới có thể tiếp nhận sự điều động của người khác ngoài Thượng trụ quốc. Truyền thống cai trị phân quyền của các đại tộc nước Sở từ trước đến nay: Quốc đô thuộc lãnh địa vương tộc, các tướng lĩnh cấm quân và thủ quân đều do vương tộc đảm nhận, ngay cả binh sĩ cũng chỉ được trưng binh từ lãnh địa vương tộc mà thôi. Sở Hoài Vương tuy hồ đồ, nhưng đối với binh mã trong quốc đô lại nắm giữ vô cùng nghiêm ngặt, binh phù đặc biệt ngay cả Cận Thượng cũng chưa từng nhìn thấy bao giờ. Binh phù của Chiêu Thư là có được từ hơn mười năm trước khi Tử Lan làm thượng tướng quân thống soái lục quốc liên quân, bằng quyền lực điều động lương thảo của Chiêu Thư lúc làm Lệnh y; lục quốc liên quân chiến bại, trên dưới nước Sở hoang mang lo sợ, chiếc binh phù này không ngờ lại bị người ta quên mất một cách kỳ lạ.
Theo chế độ nước Sở: Binh phù điều lương bắt buộc phải khớp với binh phù điều binh đồng thời, đại quân mới có thể rời doanh trại. Thế nhưng, chủ tướng đại quân ngoài thành lại vừa vặn là Chiêu Dương, cũng là anh tài hậu bối của họ Chiêu, tính về vai vế vẫn là người chú họ tông thân của Tử Lan. Vào thời điểm bất thường này, chiếc binh phù này chính là vương quyền, huống hồ Chiêu Thư lại là Lệnh y nắm quyền chính, điều một vạn nhân mã vào thành vốn dĩ là chuyện thuận lý thành chương.
Để đề phòng bất trắc, Tử Lan dẫn theo mười tên kỵ sĩ tinh nhuệ, trang bị đồng bộ ngựa phi nhanh kiếm dài, ra khỏi cửa Bắc rồi phi như bay hướng về phía pháo đài hiểm yếu trong thung lũng. Doanh trại pháo đài này cách Dĩnh Đô sáu mươi dặm đường, vượt qua hai dãy núi là có thể nhìn thấy cờ xí doanh trại, buông lỏng cương ngựa phi nước đại chưa đầy nửa khắc là đến. Vừa mới vượt qua dãy núi thứ nhất, khi xuống dốc đi vào thung lũng, đột nhiên nghe thấy một tiếng ầm vang dội, sáu kỵ sĩ phía trước đột nhiên biến mất! Chiến ngựa của Tử Lan lổm ngổm lựng người đứng thẳng lên, hí vang lùi lại, kết quả đâm sầm vào bốn kỵ sĩ đang phi nước đại liên hoàn ở phía sau, Tử Lan lập tức ngã nhào xuống đất, mũi xẹt ra một vòi máu tươi! Dẫu là vậy, Tử Lan cũng chẳng màng đến cơn đau, lập tức rút kiếm hét lớn:
– Có mai phục! Các ngươi ở lại đoạn hậu, ta đi đại doanh!
Rồi lại tung mình lên ngựa định vòng qua cái hố bẫy để lao lên sườn núi.
Đúng ngay lúc này, một bóng trắng nhanh như chớp lao tới, một vòng xoay lớn, liền thấy thủ đầu Tử Lan bay vụt đi, một cột máu vọt thẳng lên trời, thậm chí còn chưa kịp thét lên một tiếng kêu thảm thiết. Bóng trắng vừa vạt qua, một trận mưa tên liền lập tức trút xối xả xuống thung lũng, chỉ trong chớp mắt, sáu kỵ sĩ dưới hố bẫy và bốn kỵ sĩ trên mặt đất đều không còn động tĩnh.
– Binh phù! Cho ngươi đây –
Một giọng nữ trong trẻo vang lên từ trong khu rừng rậm.
– Hay lắm! Quay về Dĩnh Đô!
Một giọng nam trầm ấm vang dội trong khu rừng rậm.
Tiếng móng ngựa rầm rập như mưa, bỗng chốc cuốn đi từ khu rừng núi, thung lũng lại khôi phục lại vẻ tĩnh lặng ban đầu.
Ánh mặt trời đã qua ngọ, Sở Hoài Vương cuối cùng cũng rên rỉ gọi tên Trịnh Hụ rồi tỉnh lại.
Nữ quan cai quản vội vã quỳ rạp xuống đất ôm ông ta vào lòng, vừa vuốt ve vừa thì thầm dỗ dành:
– Đại vương đừng sợ, vương hậu ngủ rồi, chốc nữa sẽ đến thôi, sẽ đến thôi, ngoan nào đừng sợ, uống ngọc dịch trước đã nhé, vương hậu có, ta cũng có mà, đại vương nếm thử xem có ngon không nào? Ái chà, ngoan quá cắn đau người ta rồi...
Từ khi Trịnh Hụ sinh được vương tử, Sở Hoài Vương liền có sở thích kỳ lạ này, mỗi lần ngủ tỉnh dậy đều phải để Trịnh Hụ cho mình bú sữa, miệng nói rằng đó là ngọc dịch của trời ngon nhất. Trịnh Hụ mấy ngày không có ở đây, đám cung nữ ít khi được vui vẻ lại không có ngọc dịch của trời này, đành phải mặc cho ông ta cắn đến rướm máu ngực. Trong cơn mông lung, nào ngờ thứ nhét vào miệng ôm lấy mặt mình lại là một đôi gò bồng đảo béo múp míp, trong phút chốc hoảng hốt, vị vua già cứ ngỡ mình ôm thực sự là Trịnh Hụ, liền rên rỉ cắm đầu vùi vào bộ ngực trắng ngần đầy đặn ấy, bú mút ngấu nghiến suốt nửa khắc đồng hồ, mới mở mắt ra lau miệng ngồi dậy:
– Ngươi, chính là vương hậu rồi!
Nhưng tay vẫn chỉ chỏ vào cặp ngực béo trắng kia.
– Tạ ơn đại vương long ân –!
Nữ quan cai quản vô cùng kinh ngạc mừng rỡ, ôm chầm lấy vị vua già vào ngực.
Sở Hoài Vương hùng tâm trỗi dậy, liền bắt đầu quậy phá lung tung một trận, chốc lát sau mồ hôi đầm đìa thở hồng hộc, mới thấy nỗi bực dọc vơi đi đôi chút, liền ngửa cổ cười lớn:
– Cặp tuyệt sắc này không thua kém gì Trịnh Hụ, ông trời có mắt rồi.
– Ngươi có biết không? Thiếp với vương hậu vốn dĩ là tỷ muội đấy.
Sở Hoài Vương cười lớn:
– Được được được! Tỷ muội thì tỷ muội!
Đúng lúc Sở Hoài Vương đang cao hứng, một tên lão nội thị hớt hơ hớt hải chạy bước nhỏ tới:
– Bẩm đại vương: Xảy ra chuyện rồi. Ngoài cổng cung đông nghịt thứ dân bách tính, đã quỳ suốt ba canh giờ, muốn đại vương ra cung nhận thư.
Sở Hoài Vương lập tức đờ đẫn, nhưng chỉ chốc lát sau lại bỗng nhiên cười xòa:
– Ta bảo mà, lùng bùng vo ve tiếng gì thế? Hóa ra là dân chúng tụ tập ngoài cung, muốn giảm thuế à? Đi, tìm Lệnh y đi chứ, bản quan quản mấy chuyệnn vụn vặt này làm gì?
– Tư mã cửa cung đã báo cáo Lệnh y từ lâu rồi, Lệnh y đã phái Tử Lan tướng quân đi, nhưng Tử Lan tướng quân mãi không có tin tức gì!
Sở Hoài Vương đảo tròng mắt, không khỏi cất tiếng hét lớn:
– Cận Thượng!
Nhưng rồi đột ngột khựng lại, thở dài thườn thượt:
– Loạn rồi đây! Đi, trẫm ra ngoài xem sao nào.
Vừa định bước đi, nhưng lại quay đầu cất giọng hạ lệnh:
– Người đâu, đưa vương hậu mới về tẩm cung dưỡng sức nào.
Lại mỉm cười với nữ quan cai quản đầu tóc bù xù, lúc này mới đi theo lão nội thị bước ra ngoài.
Vừa đến dưới trụ hiên cổng cung, Sở Hoài Vương liền kinh ngạc đứng sững lại. Suốt cả cuộc đời, ông ta chỉ từng nhìn thấy các tộc lão của tộc họ Khuất năm xưa thỉnh mệnh cho Khuất Nguyên, số lượng nhiều lắm cũng chỉ có mấy trăm người, đã khiến ông ta lúng túng tay chân, nào đã từng chứng kiến biển người mênh mông thế này bao giờ? Chỉ chốc lát sau, Sở Hoài Vương liền cảm thấy đầu óc ù đi một tiếng mông lung, mặt mày tái xanh, trán trợn trừng thẳng đơ, không khỏi run rẩy lên. Lão nội thị vội tiến lên đỡ lấy hạ giọng nói:
– Ý của lão nô là: Mặc kệ thứ dân bách tính thỉnh mệnh ra sao, đại vương cứ việc hứa nhận là được, đảm bảo vô sự.
Sở Hoài Vương lập tức tỉnh táo lại, hất lão nội thị ra cười nói:
– Trẫm sớm đã nghĩ thế rồi, cần gì ngươi phải nói? Cút xuống!
Rồi xốc lại tinh thần bước đến dưới hiên nhà kiêu kỳ cất giọng quát lớn:
– Tướng quân cửa cung đâu?
– Tướng quân cửa cung Chu Anh có mặt!
– Mời tam lão thứ dân tiến lên, trẫm muốn triệu kiến.
– Hây!
Chu Anh quay người bước xuống bậc đá cao, tiến đến trước đám đông các cụ già đang quỳ gối thỉnh mệnh cất cao giọng tuyên chiếu:
– Người thỉnh mệnh nghe đây: Sở vương có chiếu, chuẩn cho tam lão lên bậc đá yết kiến. Các người bầu ra ba người, theo ta yết kiến vương thượng.
Chỉ chốc lát sau, liền có ba cụ già râu tóc bạc phơ run rẩy đi theo Chu Anh bước lên ba mươi sáu bậc đá cao ngất, đám đông dưới sân ngóng cổ chờ đợi, không gian im phăng phắc đến mức có thể nghe thấy tiếng kim rơi. Khoảng thời gian đủ ăn một bữa cơm, ba cụ già run rẩy bước xuống bậc đá, một giọng nói già nua khàn khàn liền cất lên hô lớn:
– Sở vương anh minh! Đã chuẩn y lập tức hạ chiếu, triệu Khuất Nguyên đại phu trở về kinh đô chấp chính!
– Sở vương vạn tuế!
– Khuất Nguyên đại phu vạn tuế!
Bến xe ngựa bỗng chốc vang lên tiếng hò reo như sóng dậy.
– Chiêu Thư con hồ ly già! Nên xử lý thế nào đây?
Có người cất giọng hô lớn.
– Khoan đã nào.
Một cụ già cười nói.
– Sở vương nói rồi, lập tức hạ chiếu, bãi chức Lệnh y của Chiêu Thư.
– Hay quá –!
– Sở vương anh minh!
– Nước Sở vạn tuế!
Một tràng tiếng hò reo vang dội như sấm dậy quét qua cả quảng trường.
Đột nhiên, lại nghe thấy ngoài quảng trường tiếng móng ngựa dồn dập như mưa, liền có một kỵ sĩ phi đến dưới bậc thềm vương cung cất tiếng hét lớn:
– Quân báo Di Lăng! Tần quân tấn công Sở –!
Một bóng người liền tựa như bay lao vút lên ba mươi sáu bậc thềm vương cung. Hàng vạn dân chúng lập tức cứng đờ cả người, không sớm không muộn, nước Tần lại đúng vào thời điểm nước sôi lửa bỏng này mà đánh tới, ai sẽ là người cầm quân đối trận đây? Đại Sở quốc rốt cuộc còn có thể giữ nổi hay không?