Đại Tần Đế Quốc 3: Kim Qua Thiết Mã

Lượt đọc: 540 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết Ba
Triều Dã Tần Quốc Đều Chấn Động, Bạch Khởi Bí Mật Vào Quân Doanh

❊ ❊ ❊

Tin tức Triệu Quát thay thế Liêm Phở vừa truyền ra, triều dã Tần quốc lập tức nổi sóng gió.

Những lời đồn đại vốn là do thủ hạ của Trịnh An Phi tạo ra theo lệnh, tầng lớp chớp bu của Tần quốc đương nhiên thừa hiểu. Thế nhưng đối với đại thần và bách tính triều dã không rõ chân tướng, tin tức Triệu Quát làm tướng chẳng khác nào một bức chiến thư trong trận đại quyết chiến Tần - Triệu! Theo lời của người Tần lão luyện, người Tần nín thở đọ sức với nước Triệu mấy chục năm, nhưng toàn hòa ngang, chẳng vớt vát được chút hời nào. Ngược lại, nước Triệu lại mang tiếng "thắng trận đầu trước Tần quốc hùng mạnh", hiên ngang trở thành vị thần thủ hộ của Sơn Đông. Giờ đây, tên mãnh tướng nước Triệu này rõ ràng muốn quyết một trận sinh tử với Tần quốc, người Tần dẫu không sợ, nhưng trong lòng vẫn thấy lạnh gáy! Vào thời điểm ấy, phong trào công chiến của người Tần sớm đã trở thành truyền thống, tin tức vừa lan truyền là cả nước dâng biểu xin chiến, các nha môn ở các quận huyện chật ních bách tính, đồng thanh đòi ra trận chém đầu lập công! Các quan lại đại thần ở Hàm Dương cũng nườmượn vào cung yết kiến Tần vương và dâng sớ tấu, nhưng hầu như đều đồng thanh một giọng: Không thể nhượng bộ, sớm định quốc sách, quyết một trận sống mái với nước Triệu!

Cùng lúc đó, sáu nước Sơn Đông cũng lập tức căng thẳng. Người Triệu thượng võ hiếu chiến, người Tần hung ác thành tính, một bên mãnh liệt, một bên hung hăng, quả là một cặp oan gia ngõ hẹp sống mái trên đời! Nay một khi cả nước đại chiến quyết liệt, hươu chết vào tay ai thực sự khó mà lường trước. Kế sách bây giờ, chỉ cần không bị vạ lây đã là vạn hạnh, ai còn lo được chuyện môi hở răng lạnh hay điều đình khuyên giải? Thế là, đột nhiên thiên hạ câm lặng, đều trợn tròn mắt nhìn hai ngọn núi lớn ấy ầm ầm tiến lại gần, đều nín thở chờ đợi cơn bão chấn động đất trời giáng xuống!

Tần Chiêu Vương lập tức triệu Phạm Thư và Bạch Khởi đến bàn bạc bí mật trong đêm, ba quân thần vậy mà không một ai có lấy một nụ cười. Chuyện liên quan đến đại chiến, Tần Chiêu Vương để Bạch Khởi nói trước. Bạch Khởi thở ra một hơi nặng nhọc rồi nói: "Đối sách chỉ có một chữ: Đánh! Thế nhưng để nuốt trọn sáu mươi vạn quân mã, binh lực của ta vẫn còn hơi thiếu, lương thảo vẫn còn chưa thuận tiện. Nỗi khó khăn của lão thần chỉ có hai điểm ấy." Phạm Thư tọa trấn hậu phương, nghe vậy vô cùng khó hiểu: "Lương thảo vận chuyển của ta chưa từng gián đoạn, ở Dã Vương đã tích trữ thành mấy kho lớn, sao lại vẫn không thuận tiện?" Bạch Khởi lắc đầu nói: "Không thuận tiện không phải là thiếu thốn. Đại vương và Ưng hầu không biết đấy thôi, trận đại chiến lần này xưa nay chưa từng có, một khi phát động, hơn một triệu đại quân hai bên tất sẽ đan xen như răng lược. Vùng núi Thượng Đảng có rất nhiều khe núi sông suối, nguồn nước không thiếu. Đến lúc đó, số lượng lương khô mang theo bên người sẽ trở thành sinh mạch của chiến lực. Quân ta dẫu có lương thảo, không vận chuyển lên được cũng uổng phí, vận chuyển lên mà không thể nấu cơm cũng uổng phí. So với điều này, quân Triệu đã nhiễm phong tục rợ Hồ, mỗi người đều mang theo đậu ngựa cùng thịt khô, là có thể bảo đảm mười ngày nửa tháng đánh trận nhẹ nhàng. Quân ta dẫu cũng có thói quen ăn thịt khô bánh nướng, nhưng trong lúc cấp bách lại không thể chế biến số lượng lớn, như vậy lương thực chính là một nỗi khó. Lão thần suy đi nghĩ lại, việc này là khó nhất."

"Hít..." Phạm Thư hít ngược một ngụm khí lạnh, "Lại có chuyện thế này, có lương mà không được ăn?"

"Trận nhỏ thì không. Trận lớn ắt có. Đại chiến Trường Bình, càng sẽ có." Bạch Khởi nói gần như từng chữ một.

Tần Chiêu Vương trầm mặc hồi lâu, bất chợt đập bàn: "Quả nhân thân chinh đến Hà Nội làm hậu phương cho đại quân! Dù là ba trăm dặm Hà Nội nhà nhà nổi lửa nấu cơm, cũng phải để binh sĩ mang đủ lương thực bên người!"

"Chúa thượng!" Phạm Thư chợt giật mình, "Quận mới Hà Nội là nơi hiểm trở, không nên khinh suất dạo bước! Đây làn bổn chức của thần, nào dám phiền đến đại vương!"

"Chính vì là quận mới, mới cần đến quả nhân!" Tần Chiêu Vương chém đinh chặt sắt, "Quan Trung không thể trưng binh nữa, bằng không gốc gác của người Tần sẽ trống rỗng! Hà Nội, Hà Đông hiện tại, chính là thời điểm gánh vác trọng trách!" Thở dốc một hơi lại nói, "Thừa tướng tọa trấn Hàm Dương, quản lý chính vụ quốc gia, thống trù lương thảo hậu kế là được."

"Chúa thượng..." Phạm Thư hai mắt rưng rưng lệ, nhưng chẳng thể nói thêm gì nữa.

Tần Chiêu Vương mỉm cười nhạt: "Muốn nuốt trọn sáu mươi vạn đại quân, sao có thể không có khí phách nuốt chửng sông núi?"

Bạch Khởi vẫn luôn không nói gì, lúc này đứng dậy hướng về Tần Chiêu Vương vái sâu một cái: "Lão thần thay mặt tam quân tướng sĩ, tạ ơn đại vương." Tần Chiêu Vương đỡ Bạch Khởi rồi cười lớn: "Nói như vậy, quả nhân cũng phải tạ ơn tam quân tướng sĩ rồi." Liền hướng về Bạch Khởi cũng vái sâu một cái. Phạm Thư không nhịn được nói: "Thần thì chẳng có gì để tạ, miễn đi cũng được." Dứt lời, ba người quân thần bật cười đồng thanh.

Thương nghị xong xuôi, Bạch Khởi vẫn như mọi khi không về phủ từ biệt Kinh Mai, thẳng thừng mang theo đội thiết kỵ trăm người không cờ hiệu phi nước đại hướng về phía đông. Rạng sáng ra khỏi ải Hàm Cung, sương mỏng đầu thu chưa tan thì đã đến An Ấp thuộc Hà Đông. Vội vã ăn qua mấy chiếc bánh mì giã cùng một miếng thịt bò sốt, rồi lăn ra ngủ say ba tiếng đồng hồ trên chiếc giường quân sự chật hẹp. Tỉnh giấc, vừa lúc hoàng hôn buông xuống, dùng hai xô nước lạnh lau mình rồi lập tức lên ngựa, mượn sắc đêm dày đặc hướng về phía đông bắc. Giờ Tý canh ba, đội ngựa tiến vào thung lũng sông Thấm, lặng lẽ bước vào đại doanh quân Tần ở Lão Mã Lĩnh.

"Vũ An Quân?" Vương Ngật cởi trần nhảy dựng lên, giật mình thót tim, "Nhanh thế!"

“Đi, dội một xô nước lạnh rồi hẵng nói chuyện.” Bạch Khởi xua tay, “Lập tức đi ngay.”

Đây là cách làm thường ngày của Bạch Khởi, bàn chuyện lúc nửa đêm, trước tiên bắt buộc vị đại tướng được triệu kiến phải cởi trần dội một xô nước lạnh, tỉnh táo hoàn toàn rồi mới bàn đến quân vụ. Vương Ngật theo Bạch Khởi chinh chiến đã lâu, không cần nói cũng rõ, lập tức đi ra hậu trướng dội nước lạnh một trận thỏa thích, mặc giáp phục đen đỏ đầy đủ, sải bước hiên ngang đi vào trong sảnh, ngực ưỡn thẳng: “Tả thứ trưởng Vương Ngật nhận lệnh!”

Bạch Khởi hạ giọng nói: “Một, lập tức dời đại doanh đến Lang Sơn! Hai, hạ lệnh các đại tướng từ vạn quân tướng trở lên, tối mai canh một đến đại doanh Lang Sơn nghe lệnh!”

“Lang Sơn?” Vương Ngật ngẩn người, “Vũ An Quân chỉ thị rõ ràng!”

Bạch Khởi sầm mặt không nói, tư mã ở phía sau vội vàng hạ giọng nói: “Phía tây ải Trường Bình, ngọn núi hoang vu ngoài thành Quang Lang, dược nông địa phương gọi là Lang Sơn.” Vương Ngật chợt hiểu ra, mặt đỏ bừng ưỡn ngực: “Mạt tướng sơ suất! Đáng tội quân pháp!” Bạch Khởi chỉ xua tay nói: “Lập tức hạ lệnh, ta cùng các ngươi đi chung.” Vương Ngật không nói hai lời, hô lớn một tiếng rồi đi luôn. Chốc lát sau, toàn bộ nhân mã đại doanh cùng sáu ngàn bộ kỵ đã chỉnh tề tập trung ngoài hành doanh, theo đội kỵ mã một trăm người của Bạch Khởi lặng lẽ rời khỏi Lão Mã Lĩnh mà không gióng trống khua chiêng.

Cách phía tây ải Trường Bình chừng hai ba mươi dặm, có một tòa thành cổ gọi là Quang Lang thành. Tòa Quang Lang thành này không lớn, nhưng lại vừa vặn án ngữ ngay chỗ giao lưu của ba con sông giữa Trường Bình, Cao Bình và Lão Mã Lĩnh, là vị trí yết hầu ở vùng đất bụng dạ Thượng Đảng, cũng từng là nơi giằng co tranh giành Thượng Đảng giữa hai nước Triệu và Hàn. Ba mươi năm trước, Bạch Khởi mưu đồ thông suốt Thượng Đảng, từng dẫn một vạn quân chiếm lấy Quang Lang thành sau khi hạ được Hà Nội, rất quen thuộc với nơi này. Phía đông Quang Lang thành có một dải núi rừng cây tươi tốt, bóng người vắng vẻ mà bấy sói hoành hành, dân sơn dã Hàn Triệu gọi đó là Lang Sơn. Dãy Lang Sơn này chạy theo hướng tây bắc - đông nam, gần như song song với sông Đan, địa thế còn cao hơn cả Quang Lang thành và ải Trường Bình, rõ ràng chính là đoạn cao nhất của thung lũng thượng nguồn sông Đan. Ngoại trừ cây cối che khuất và các hang động đá kỳ lạ, trên dãy Lang Sơn phần lớn là những vùng cao nguyên bằng phẳng rộng rãi, lên cao phóng tầm mắt, tầm nhìn cực kỳ khoáng đạt. Quang Lang thành lúc này, sớm đã cùng với căn cứ Lão Mã Lĩnh bị quân Tần chiếm lấy, chỉ là Vương Ngật không bố trí binh lực ở Lang Sơn ngoài thành mà thôi. Xét về vị trí, Lang Sơn và Quang Lang thành vừa vặn nằm ở đoạn giữa hơi nhô lên phía trước của căn cứ Lão Mã Lĩnh quân Tần, chính diện đối lập xa xa với đại doanh quân Triệu phía bắc Trường Bình.

Vừa đến dưới chân dãy Lang Sơn, Bạch Khởi liền hạ lệnh dựng một doanh trại nhỏ dưới chân núi, toàn bộ chiến mã đều để lại doanh trại do một ngàn binh sĩ ở lại canh gác, số tướng sĩ còn lại đều nhất loạt mang vác vật tư đi bộ leo núi. Hai đại quân đối đầu ba năm, bầy sói cũng biến mất không một dấu vết, duy chỉ có những bãi phân trắng có thể thấy khắp nơi dưới chân làm dấu ấn thống trị của bầy sói xưa kia. Lên đến đỉnh núi, trung quân tư mã của Bạch Khởi thì thầm một hồi với Vương Ngật, Vương Ngật liền chỉ định binh sĩ quan quân dọn dẹp chỉnh đốn một hang động lớn nhất, đồng thời bố trí xe mây cờ xí cùng mọi loại dụng cụ hiệu lệnh. Khi trời sáng, Bạch Khởi lại hạ lệnh cho Vương Ngật điều đến năm vạn bộ binh tinh nhuệ, lập tức bắt đầu xây dựng chiến hào lũy thép ở sườn trước Lang Sơn, cốt sao che giấu phía sau rừng cây, khiến quân Triệu từ xa nhìn tới không thể phát hiện.

Hoàng hôn buông xuống, việc bố phòng đỉnh núi và các con đường giữa núi đã hoàn thành, hang động đại doanh cũng đã được chỉnh đốn tươm tất. Trong hang động đèn nến rực rỡ, toàn bộ dãy núi vẫn tối đen như mực như thường lệ. Theo từng trận tiếng móng ngựa, các quan quân lần lượt dẫn những vị tướng quân đến dưới chân núi lên hang động đại doanh. Canh một, năm mươi sáu vị tướng quân đều chỉnh tề ngồi trên hai hàng sáu dãy đôn đá, hàng đầu tiên là sáu vị đại tướng Vương Ngật, Mông Ngao, Vương Lăng, Hoàn Ngật, Doanh Báo, Hồ Dương cùng quốc úy Tư Mã Ngạnh. Dưới vách đá hang động lởm chởm dữ tợn, một phiến đá xanh to lớn được dùng làm soái án. Dựa vào vách hang là một bức tranh gỗ lớn cao đến hai người, tựa đề bức tranh bốn chữ rành rành — Thượng Đảng sơn xuyên. Dưới bức tranh lớn là Bạch Khởi đứng thẳng nghiêm trang: mặc một bộ giáp phục sắt tinh luyện, một chiếc áo choàng gấm đen viền vàng, chống một thanh trọng kiếm mà chỉ kiếm sĩ Thiết Ưng mới có thể sở hữu, hai mai tóc điểm bạc như sương, toàn thân đen như cột sắt, hai đường vân miệng dày đỡ lấy khuôn mặt đen sạm góc cạnh chằng chịt rãnh nhăn, một đôi mắt tam giác đặc trưng của người Tần ngưng tụ một tia sáng chằm chằm găm vào mặt các đại tướng.

Tiếng bồng canh canh một "Cốp!" vang lên, Vương Ngật từ hàng đầu phắt đứng dậy: "Chiếu thư của Tần vương!"

Các vị tướng quân rào rào đứng dậy chỉnh tề, chắp tay hô lớn một tiếng: "Tiếp chiếu!"

Trung quân tư mã bên cạnh Bạch Khởi bước lên hai bước, giở một cuộn thẻ tre cúng đọc lớn: "Đặc chiếu của Đại Tần vương: Đại chiến Trường Bình, liên quan đến sự hưng vong, đặc mệnh Vũ An Quân Bạch Khởi bí mật ra chỉ huy đại quân, Tả thứ trưởng Vương Ngật làm phó. Tam quân tướng sĩ, ai dám tiết lộ Vũ An Quân làm tướng, chém không tha! Năm thứ bốn mươi bảy đời Tần vương Doanh Tắc tháng tám."

"Vũ An Quân hạ lệnh!" Vương Ngật hướng về Bạch Khởi chắp tay, rồi ngồi lại đôn tướng.

"Chư vị, đại quyết chiến Trường Bình, chính là trận chiến sinh tử của hai nước Tần Triệu." Bạch Khởi chống trọng kiếm bước hai bước lớn đến trước soái án, giọng nói trầm hùng uy nghiêm vang dội trong hang động, "Sau thất bại ở Át Dư, lão thần cùng chư vị trông chờ trận đại chiến này, ngóng trông đã hơn ba mươi năm. Hôm nay, cuối cùng cũng để chúng ta trông chờ được rồi. Sinh làm tướng sĩ quân Tần, bọn ta thật là đại hạnh thay!"

"Đại Tần thiết quân, trăm trận trăm thắng!" Toàn thể đại tướng đồng thanh gầm lên.

"Lòng quyết thắng, sự dũng mãnh phá vỡ kiên cố, quả thực rất đáng quý." Giọng điệu của Bạch Khởi chợt chuyển biến, "Thế nhưng, quân lệnh đầu tiên ngày hôm nay của lão thần chính là: Kẻ nào khinh thường quân Triệu mà lơi lỏng trận tuyến, quân pháp lập tức chém đầu!" Ánh mắt Bạch Khởi lướt qua gương mặt căng cứng của các đại tướng, "Người ta nói, quân Triệu giỏi tấn công mà không giỏi phòng thủ. Thế nhưng quân ta đối đầu với quân Triệu ba năm nay, há lại chỉ giành được một đạo Tây Lũy mà thôi? Điều này đủ để chứng minh: Quân Triệu giỏi tấn công cũng giỏi phòng thủ, là đại quân tinh nhuệ công thủ toàn vẹn trong thiên hạ! Chư tướng hãy ghi nhớ, quân Triệu có bốn điểm mạnh: nhẹ nhàng mãnh liệt hung hãn, mang đủ lương thực bên người, phòng thủ lâu ngày tìm cách tấn công, chủ tướng khí thế hừng hực. Chính vì thế, khinh địch tất bại!"

"Tuân thủ nghiêm ngặt quân lệnh!" Toàn thể tướng quân nghiêm trang hô lên.

"Thế nhưng, quân Triệu cũng có bốn điểm yếu." Khóe miệng Bạch Khởi giật giật, ý cười chưa kịp lan ra đã chìm nghỉm vào những rãnh nhăn đen sạm thô kệch, "Thứ nhất, nóng lòng tấn công mà bỏ lũy chiến hào. Thứ hai, dựa dẫm vào lương thực mang theo bên người, xem nhẹ việc nấu nướng và đường vận chuyển lương thực. Thứ ba, trang thiết bị công kiên không đủ, phần lớn dựa vào nỏ dài đao lớn. Thứ keempat, chủ tướng khinh địch, thiên lệch một mưu kế. Đây là bốn điểm yếu của quân Triệu."

Trong hang động yên phăng phắc chỉ nghe tiếng thở. Các tướng quân đều rất rõ ràng, mỗi khi gặp đại chiến, Vũ An Quân đều phải làm sáng tỏ đại thế hai bên trước, thường thì tình hình địch được nói chi tiết đến mức ngay cả các tướng quân ở tiền tuyến cũng vô cùng kinh ngạc, mà sau khi làm rõ tình hình địch, chính là sách lược phá địch dũng mãnh sắc bén. Điều mà các tướng quân nín thở chờ đợi, chính là khoảnh khắc làm tim đập mạnh nhất này.

"Quân ta phá địch, chính là mười sáu chữ lớn." Bạch Khởi nói từng chữ một, từng chữ như đóng vào vách núi, "Lấy nặng chế nhẹ, lấy lùi làm tiến, cắt đứt đường đi chia cắt địch, vây dài khốn đốn lâu ngày!"

Vương Ngật chắp tay: "Vũ An Quân chỉ thị rõ ràng!"

"Phương lược mười sáu chữ, lấy 'lấy nặng chế nhẹ' làm gốc." Bạch Khởi quay người vươn kiếm vẽ một vòng lớn trên bức tranh bản đồ lớn, "Thượng Đảng tuy dọc ngang sáu trăm dặm, nhưng lại là núi non trùng điệp suối nước đan xen, chỉ có giữa thung lũng ba con sông Trường Bình là vừa vặn dung chứa chiến trường đại quân, chứ tuyệt đối không phải thảo nguyên mấy ngàn dặm Âm Sơn, có thể mặc sức tung hoành rong ruổi. Ở chiến trường này, húc xông nhẹ nhàng mãnh liệt ắt sẽ bị chế ngự. Quân ta nếu dùng đội quân tinh nhuệ nhẹ nhàng đối trận, một là vừa vặn trúng ý họ, hai là mất đứt chỗ dựa địa lợi. Tôn Tử nói: Phàm địa hình vậy, binh chi trợ giả; liệu địch chế thắng, kế hiểm ách viễn cận, thượng tướng đạo giả. Triệu Quát thay Liêm Phở, bỏ lũy hào mà nhẹ nhàng mãnh liệt tấn công, như vậy tất sẽ mất đi sự tiện lợi của địa lợi! Quân ta chỉ có thể đi ngược lại con đường đó, chỉ dùng trọng binh trọng khí vây khốn họ vào nơi hiểm trọng, cuối cùng đánh vào sự mệt mỏi lười biếng của họ! Cái này gọi là lấy nặng chế nhẹ, là đạo lý phá địch vậy."

Các tướng quân không hẹn mà cùng thở dài một hơi, lòng khâm phục tuôn trào viết đầy trên mặt, thế nhưng Vũ An Quân từ trước đến nay nghiêm khắc không bao giờ cười cợt, các tướng quân cũng chưa từng dám hô hào ca ngợi dưới trướng ông, bấy giờ đều phấn khích nhìn chằm chằm vị chiến thần hiển hách cao sơn ngưỡng chỉ này, mong chờ sự bố trí tường tận của ông.

Lúc này, thanh kiếm của Bạch Khởi gõ cộc cộc xuống đất hai tiếng: "Hôm nay mở trướng lần đầu, lời chỉ có thế, phần còn lại đều là bố trí khi khai chiến. Việc cuối cùng: Tần vương đã thân lâm Hà Nội, làm tổng hậu phương cho ba quân của ta! Trong mười ngày, sẽ có vô số lương thực mang theo bên người như bánh nướng thịt sốt ùn ùn vào quân doanh, các doanh nhất định phải chỉnh trang đầy đủ lương thực, giáp trụ binh khí nặng, gối giáo đợi lệnh để chờ quân lệnh!"

Kẻ nào dám... "Tần vương vạn tuế!" Các tướng quân cuối cùng cũng mở to cổ họng hô lên một tiếng.

Sáng sớm hôm sau, chẳng những các đại doanh quân Tần lập tức căng thẳng lên, mà toàn bộ hai quận Hà Nội Hà Đông đều sôi sục căng thẳng. Lúc này Tần Chiêu Vương đã bí mật đến Dã Vương Hà Nội, ban chiếu khẩn cấp hai quận Hà Nội Hà Đông: Đàn ông từ mười lăm tuổi trở lên, mang theo dụng cụ nông nghiệp như cuốc xẻng cuốc chĩa, tất cả đều xuất phát đến Trường Bình; ngoại trừ người ốm yếu, phụ nữ trẻ em người già còn đi lại được, tất cả đều tập hợp thành đại doanh nấu ăn ngoài các thành huyện, ngày đêm giã bột giã lúa, gấp rút làm bánh cứng, thịt sốt và cơm nắm; trưng dụng toàn bộ xe bò xe ngựa, liên tục đóng đầy túi những phần ăn quân sự đã làm xong sẵn vận chuyển ra tuyến trước. Tần Chiêu Vương lại ban bố ngay "Chiếu lệnh ban thưởng" cho quan dân: Bách tính hai quận, mỗi người được ban thưởng trước một bậc tước vị! Công lao viện trợ quân sự, sau đại chiến sẽ luận công ban thưởng theo "Pháp luật quân công tước" của luật pháp Tần! Cứ như vậy, bách tính lập tức hoan hô lên, có ăn có ở có quân công, chẳng phải vui sướng lắm sao? Trong mười ngày, trên cánh đồng rộng lớn từ phía nam Thái Hành đến bờ bắc Đại Hà, lập tức là xe ngựa người người nối tiếp không dứt, tiếng gà gáy chó sủa vang vọng, khói bếp lượn lờ suốt ngày đêm, sông núi sôi sục như cái vạc đun.

Sự căng thẳng của tướng sĩ quân Tần lại hoàn toàn trái ngược với quân Triệu. Việc lớn đầu tiên, chính là củng cố doanh trại cũ, xây dựng doanh trại mới. Tất cả các đội phu phen kéo đến đều nhanh chóng được biên chế vào các doanh, ngoài việc cùng binh sĩ đào hào đắp lũy, thì chính là thu gom vận chuyển các loại đoạn cây thô to và đá núi sắc bén thích hợp làm khúc gỗ lăn đá ném. Sự điều động lớn nhất là, hơn mười vạn binh lực của ba doanh Nam Tam Tỉnh ở vùng núi Hà Nội toàn bộ đẩy mạnh về phía bắc ba mươi dặm, xây dựng lại doanh trại mới. Doanh trại này cùng doanh trại Lão Mã Lĩnh phía tây tạo thành một hình chữ "L" khổng lồ, giữa hai doanh trại chính là dòng sông Đan nước chảy xiết mặt nước rộng lớn. Quân Tần ở Lão Mã Lĩnh lại có một sự bận rộn khác, đó chính là trong lúc củng cố lũy, thì ở khe núi gần thung lũng sông Đan xây dựng sáu kho lương, lối ra khe núi thông đến kho kho được xây dựng lũy phòng thủ có thanh thế nhất vững chắc nhất. Đời sau gọi dãy núi này là Không Thương Lĩnh, chính là vì sáu kho lương này. Đây là chuyện về sau. Ngoài công việc tối quan trọng tốn nhiều thời gian này ra, chính là việc cất giấu bố trí các trang thiết bị phòng thủ hạng nặng được vận chuyển đến liên tục: Nỏ liên hợp hạng nặng, xe dầu mãnh hỏa, xe đao cửa ải, xe máy bắn đá, xe đục bánh sắt, xe mây vọng lầu, trâu gỗ da sắt v.v..., đều phải được bố trí thỏa đáng trong vòng mười ngày và không để nơi xa phát hiện, quả thật cũng tốn khá nhiều công sức.

Trong bóng đêm mờ ảo, đội kỵ mã một trăm người của Bạch Khởi lại bay vút đến đại doanh thiết kỵ ở Hà Nội. Vương Lăng, Doanh Báo hai vị đại tướng thiết kỵ nghe xong Bạch Khởi lặp lại tuyên bố và dặn dò về quân lệnh, lại bàn bạc bí mật nửa canh giờ, liền mỗi người dẫn hai vạn rưỡi kỵ sĩ tinh nhuệ nhất không gióng trống khua chiêng tiến vào Thái Hành Tỉnh Tỉnh và Bạch Tỉnh Tỉnh, thọc sâu vào vùng trung tâm Thượng Đảng. Hai nhánh thiết kỵ vừa xuất phát, Bạch Khởi liền hạ lệnh cho năm vạn mấy ngàn đại quân bộ kỵ còn lại vốn được lưu lại làm tổng ứng cứu ở Hà Nội đi đêm tiến về phía bắc Tắc Quan Tỉnh Tỉnh, ẩn nấp đóng quân phía sau Lang Thành Sơn. Bạch Khởi ra lệnh nghiêm khắc đối với Hoàn Ngật - vị chủ tướng thống lĩnh đại quân này: "Không có lệnh riêng của ta, không được tự ý chi viện xuất kích!"

Nhật nguyệt đan xen, thoắt cái mười ngày trôi qua, một trận đại chiến xưa nay chưa từng có cuối cùng cũng đến vào ngày thu vàng vọt đầy mắt.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.