Từ đó, đại doanh quân Triệu bắt đầu trải qua quãng thời gian giày vò như năm dài tháng rộng.
Bước vào tháng Chín, cục diện lớn này thì bất cứ ai cũng nhìn ra được. Quân Tần đã hạ quyết tâm muốn vây chết quân Triệu cho bằng được. Ngươi có xe thành viên trận, hắn lại không thèm đến đánh ngươi. Nếu ngươi đánh ra ngoài để phá vây, thì kỵ binh tinh nhuệ kia sẽ ùa ra như thủy triều ép ngươi phải quay về trận địa. Điều này chẳng phải minh bạch muốn ngươi quay về trong trận chịu đói chờ chết sao? Da bụng dán sát da lưng, suốt ngày thoi thóp, tính ra thật sự chẳng bằng chết đi cho rồi! Nếu hắn đến đánh, quân Triệu hãy còn có thể cướp lấy một ít chiến mã cùng lương thực trong lúc liều chết chiến đấu, thế nhưng hắn cứ khăng khăng không đến, ngươi thì làm gì được hắn? Thoáng cái đã mười ngày, xe thành viên trận của quân Triệu đã hoàn toàn mất đi sự vui mừng le lói ban đầu, rơi vào một nỗi hoảng sợ tĩnh mịch vô biên.
Triệu Khẩu gầy trơ xương như một bộ khung người, khuôn mặt hình dao với gò má cao ngất, hai hốc mắt trũng sâu đen ngòm trông vô cùng đáng sợ, bộ râu bù xù nối liền với mái tóc dài rối tung bay phất phơ không theo hàng lối nào. Bộ hồ phục giáp chú vốn vừa vặn ôm sát ngày nào, nay lại trống hoác trốc trên người. Thử hỏi từng có lúc nào, một vị công tiêu sái vốn coi trọng tôn s tôn nghiêm nhất nay lại biến dạng đến mức này! Dẫu là vậy, Triệu Khẩu vẫn đầu tắt mặt tối bận rộn suốt cả ngày, kiểm tra quân tình, úy lụx thương binh, phân phát lương thực, vậy mà không hề nghỉ ngơi lấy nửa khắc.
Đêm canh ba hôm ấy trở về lều, Triệu Khẩu vẫn lâu lắc không thể tĩnh tâm. Điều khiến hắn canh cánh bên lòng lại vừa đau đầu nhất lúc bấy giờ có hai việc: Một là xử lý những tranh chấp về lương thực ngày càng nhiều, hai là thu thập tin tức về viện quân ngày càng mịt mờ. Lương thực càng lúc càng ít, xích mích lại càng lúc càng nhiều, những người huynh đệ chiến trường từng thân thiết như thủ túc nay đã trở nên xa cách. Các doanh các đội thường vì một mẩu rễ cỏ củ mài đào được mà tranh giành nhau sống mái, đến cả các tướng lĩnh cũng cuốn vào trong đó, mỗi lần đều khiến Triệu Khẩu kinh hãi khôn nguôi tốn biết bao tâm sức, lúc trở về trướng vẫn còn thở dài ngao ngán. Thế nhưng điều bóp nghẹt tâm can nhất vẫn là viện quân vô vọng, từng tốp từng tốp thám tử giả trang được phái đi, tuy số người trở về không nhiều nhưng dẫu sao vẫn có chút tin tức lẻ tẻ, thế nhưng mỗi một tin tức lại khiến Triệu Khẩu thót tim một lần, lạnh giá cõi lòng một lần. Đầu tiên là nước Ngụy nước Hàn đầu cơ hai phía, Lĩnh Lăng Quân ra sức tranh giành việc cứu Triệu nhưng bị bãi chức; tiếp đến là Tề vương không nghe lời can gián khổ sở của Lạng Tương Như và lão Tô Đạo, cự tuyệt xuất binh xuất lương; sau đó lại đến nước Cố lạnh nhạt với Bình Nguyên Quân, đứng ngoài bàng quan cuộc đại chiến Tần - Triệu; điều đáng hận nhất chính là nước Yến - kẻ địch truyền kiếp đã sớm héo tàn này, lại đang mưu tính nhân lúc cháy nhà đi hớt tay trên, cướp lấy món lợi ngư ông đắc lợi ở thời điểm ấy! Cứ nhìn thế này, viện quân của các nước chư hầu thực sự chỉ là bánh vẽ giải đói mà thôi. Nhân tình ấm lạnh, thế thái đổi thay, quốc gia không có giao ước vĩnh hằng, duy chỉ thấy lợi là làm, đủ loại ngạn ngữ danh ngôn thông thường mà ngày thường Triệu Khẩu vô cùng khinh miệt ấy, giờ phút này đều cuồn cuộn trào dâng lên tâm can, trong lòng dường như trăm vị đắng cay sôi sục như cái đỉnh nước.
Chợt mông lung, Triệu Khẩu lại nhớ tới một câu chuyện mà Bình Nguyên Quân từng kể cho hắn nghe:
Lão Liêm Phở năm xưa bị bãi chức, khi trở về Hàm Đan thì bạn bè khách khứa đều bỏ đi sạch, cửa nhà lạnh ngắt như chùa bà Đanh. Sau đó lại được phục chức, bạn bè khách khứa bỗng chốc lại kéo đến nườm nượp, cửa ngõ đông đúc như ngoài chợ. Lão Liêm Phở ngửa mặt thở dài: "Khách khứa như thủy triều, đến đi sao mà nhanh thế? Lệnh cho các người lui hết đi, không để sót một ai!" Một lão môn khách dài giọng cười thong thả: "Đây là lòng người thế đạo, sao ngài lại nhận ra muộn thế? Thiên hạ giao thiệp bằng đạo lý con buôn, ngài có thế lực thì khách khứa theo ngài, ngài thất thế thì khách khứa bỏ đi, đây vốn là đạo lý thông thường, có gì mà oán trách?" Phải rồi, thiên hạ giao thiệp bằng đạo lý con buôn. Cái gọi là "đạo con buôn" là gì? Chẳng qua chỉ là hai chữ "thế lợi" mà thôi, há có gì khác đâu! Có thế lực thì thành ra có lợi, có lợi thì tạo nên thế lực, không thế lực không có lợi thì giao thiệp với nhau nhằm mưu cầu điều gì?
Bỗng nhiên, Triệu Khẩu rùng mình một cái!
"Thượng tướng quân, ngài cả ngày không ăn gì rồi." Người hầu trẻ tuổi đứng trước án, trong chiếc mâm đồng sáng loáng chỉ có nhõn một miếng thịt khô cháy đen to bằng nắm tay, một mẩu củ mài nướng vàng cháy và nửa chén đậu ngựa đã lên men chua lè.
Triệu Khẩu hiếm hoi cười một tiếng: "Tiểu Hồ Tử, em mới mười lăm tuổi, mà người cũng chỉ còn da bọc xương. Em ăn nó đi!"
"Thượng tướng quân, sao có thể như vậy được?" Người hầu trẻ tuổi nghẹn ngào.
"Sao lại không thể chứ? Lại đây! Ngồi xuống đây mà ăn!"
"Thượng tướng quân..." Người hầu trẻ tuổi oà khóc sụp lạy, "Ngài là sinh mệnh của ba quân! Tiểu Hồ Tử dù có tan xương nát thịt, cũng không thể cướp lương thực của thượng tướng quân được!"
"Vậy được, hai chúng ta mỗi người một nửa. Bằng không ta cũng không ăn!" Triệu Khẩu cầm lấy con dao găm cắt thịt bên án, cắt đôi miếng thịt khô củ mài làm hai phần, "Lại đây! Ăn thôi!"
Người hầu trẻ tuổi vừa khóc vừa ăn, đột nhiên nhảy dựng lên: "Thượng tướng quân ngài nghe kìa!"
Gió đêm gào thét, tiếng hiệu canh thoang thoảng bên tai, giữa bầu không khí tĩnh mịch tựa cõi chết lại có tiếng gào thét thảm thiết trầm đục vang lên hết tiếng này đến tiếng khác, rõ mồn một lại vô cùng đáng sợ! Triệu Khẩu trố mắt lắng tai, trên mặt rịn ra những giọt mồ hôi to bằng hạt đậu, nét mặt dữ tợn bỗng chốc nhảy dựng lên quát lớn: "Phi kỵ đội trung quân xuất tuần!" Vừa nhắc đến chiến đao liền sải bước lao ra ngoài.
Chốc lát sau, Triệu Khẩu dẫn theo một đội trăm kỵ binh vừa đủ khả năng chạy lớn, cuối cùng cũng xông đến trước một cỗ lều có ánh lửa le lói. Một mùi thịt tanh hôi kỳ lạ từ đằng xa theo gió luồn vào lỗ mũi của mỗi người, thoáng cái, sắc mặt của tên bách phu trưởng tái mét đi. Triệu Khẩu tung người xuống ngựa quát lớn một tiếng: "Bao vây doanh trại! Hất tung cửa lều!" Các kỵ sĩ ào ào vây kín đại trướng, hàng giáo đi đầu đồng loạt đâm ra tức khắc hất tung cửa lều, Triệu Khẩu giương kiếm sải bước xông vào, nhìn ra thì không khỏi ngẩn ngơ chết trân.
Trong chiếc lều nhỏ, hai cỗ thi thể đẫm máu đặt trên chiếu cỏ, tứ chi đã biến thành bộ khung xương trắng dính máu! Trong cái hố đất nhỏ nung những khúc củi khô to bản, chiếc mũ trụ bằng sắt treo trên giá sắt vẫn đang rỉ máu sùng sục bốc lên làn sương nghi ngút! Hơn mười tên binh lính đang cắm cúi gặm ngấu nghiến phần thịt xương trắng còn dính những tia máu, khuôn mặt biến dạng méo mó, vô cùng dữ tợn đáng sợ!
"Chúng ăn thịt thương binh!" Bách phu trưởng chỉ vào thi thể thét lên khản cổ.
"Tất cả! Chém quyết!" Triệu Khẩu hét chói tai, chiến đao liền chém ngã một kẻ ăn thịt. Đội trăm người đồng loạt ùa vào, tiếng gào thét liên hồi ngọn giáo đồng loạt vươn ra, toàn bộ binh lính ăn thịt chớp mắt đã bị đóng đinh trên mặt đất.
Triệu Khẩu quát lớn một tiếng: "Gióng còi kíp! Tam quân tập hợp!"
Tiếng kèn sừng trâu thê lương vang dội khắp đại doanh, những bước chân hỗn loạn vô lực lan man hội tụ về phía lầu chỉ huy trống vàng ở trung tâm, mất đúng nửa canh giờ, hai mươi vạn đại quân mới tập hợp lại được. Dưới ánh đèn doanh trại lờ mờ, binh lính chen chúc đặc kịch bên nhau, ai nấy đều xanh xao khô đét, hoàn toàn là những hàng người gầy trơ xương nhìn không thấy điểm dừng, trong bóng tối của ánh đèn chớp giật từng phiến ánh sáng xanh u u. Toàn bộ chiến mã đều được tập trung ở bên cạnh, chúng cũng gầy trơ xương, tiếng khịt mũi yếu ớt liên tục dập dờn.
Triệu Khẩu đứng trên một cỗ chiến xa, tay chống thanh chiến đao cong dài, giọng khàn đặc bỗng chốt nổ tung một câu: "Hướng sĩ chiến binh, chúng ta là con người!" rồi không sao nói tiếp được nữa. Hồi lâu sau, Triệu Khẩu ngẩng đầu lên: "Huynh đệ ơi, người Tần có một bài quân ca tên là "Vô Y", có ai biết hát không?" Giữa không gian tĩnh mịch như tờ của toàn trận, giọng khàn đặc của Triệu Khẩu lơ lửng vang lên trong bầu trời đêm:
Khởi viết vô y? Dữ tử đồng bào!
Dữ tử đồng cừu, tu ngã qua mâu!
Khởi viết vô y? Dữ tử đồng thường!
Tu ngã giáp binh, dữ tử giai hành!
Vương vu hưng sư, đồng tử cộng sinh...
Nói là hát, chi bằng nói đó là tiếng thét gào bi phẫn sục sôi. Hàng vạn binh lính thoạt đầu thì nức nở khe khẽ, tiếp đó liền nghẹn ngào cùng nhau ngâm nga hát theo. Cho dù đây là quân ca của người Tần, nhưng cũng là bài ca máu thịt trong doanh trại lưu truyền khắp thiên hạ. Người nước Triệu vốn dĩ là những kẻ hào sảng khí phái, coi trọng nhất chính là tình nghĩa xương máu trong quân ngũ, ai có thể chịu đựng nổi thảm kịch thấu tận tâm can nhường này? Vừa hát vừa gọi, vạn ngàn tướng sĩ liền buông tiếng khóc lớn...
“Huynh đệ ơi, đừng khóc nữa!” Triệu Khẩu giơ cao chiến đao, “Quân ta đã trụ được bốn mươi sáu ngày, không thể tiếp tục chờ chết nữa! Đêm nay, giết hết tất cả chiến mã, luộc chín ăn sạch! Sau đó thu dọn chuẩn bị chiến đấu hai canh giờ, anh em chúng ta mở doanh đột vây! Lần này tiến hành đợt xung phong cuối cùng!”
Mặc dù không có tiếng gầm thét giận dữ vang dội như tiếng gầm của sóng thần, thế nhưng phiến ánh sáng xanh u u lấp lánh cùng vóc dáng gầy còm đứng thẳng trước gió ấy đã nói cho Triệu Khẩu biết: Tướng sĩ đều có tâm nguyện quyết chiến tử trận! Triệu Khẩu đưa tay quẹt ngang mặt rồi hất mạnh một cái, “Các doanh giết ngựa.” rồi nhảy xuống chiến xe, bước về phía bầy chiến mã dưới lầu chỉ huy. Đây là sáu trăm con chiến mã cuối cùng sót lại của đội phi kỵ nghìn người dưới quyền Triệu Khẩu, con nào con nấy đều là ngựa hoang vùng Âm Sơn được biên cương cẩn thận tuyển chọn thuần dưỡng mà thành, đối với kỵ sĩ mà nói, đó thực sự là người bạn đồng hành sống chết gửi gắm xương máu ngàn vàng không đổi. Đặc biệt là con ngựa cưỡi Âm Sơn Tuyết của Triệu Khẩu, cao tới một trượng, toàn thân trắng muốt, hễ tung bốn vó là nhanh như chớp lật, từng khiến không ít bậc tướng mã sư và kỵ sĩ phải tặc lưỡi trầm trồ ngưỡng mộ! Giờ phút thực sự phải giết những con chiến mã này, tâm can tướng sĩ ba quân run rẩy, trong chớp mắt liền quỳ rạp xuống vô biên vô tận, lặng lẽ cúi đầu.
"Thượng tướng quân—! Không thể giết Âm Sơn Tuyết! Không thể mà—!" Cầu hầu trẻ tuổi Tiểu Hồ Tử hét chóe lên lao tới như bay, ôm chặt lấy đôi chân của Triệu Khẩu, "Thượng tướng quân, Âm Sơn Tuyết là do một tay em cho ăn lớn! Tiểu Hồ Tử sẵn sàng chết thay cho nó mà! Thượng tướng quân..." Tiểu Hồ Tử đột ngột rút từ trong ống giày da ra một con dao găm, đâm phập một nhát thật mạnh vào bụng dưới của chính mình! Triệu Khẩu nhanh tay lẹ mắt, chộp lấy con dao găm quát lớn một tiếng: "Kéo nó ra! Canh chừng cho kỹ!" Đợi bách phu trưởng lôi cậu thiếu niên hầu hạ đang gào khóc thảm thiết ra ngoài, Triệu Khẩu liền bước về phía con chiến mã tuyết trắng gầy trơ xương nhưng vẫn không mất đi vẻ thần dũng ấy.
Bách phu trưởng và mấy tên lão binh đột nhiên điên cuồng lao vào bầy ngựa, vung roi ngựa quất loạn xạ gào thét: "Ngựa ơi ngựa ơi! Mau chạy đi! Chạy đi—!" Dẫu là vậy, bầy chiến mã vẫn đứng im bất động, chỉ cúi đầu lặng lẽ quay vòng quanh.
Âm Sơn Tuyết khịt mũi hí lên khẽ khàng, xoáy lông dưới đôi mắt to đã bị nước mắt làm cho ướt đẫm bện thành từng lọn, cái đầu ngựa cứ cọ quậy mài mòn trên đỉnh đầu và khuôn mặt của Triệu Khẩu, bốn vó lộc cộc vòng quanh quẩn bên cạnh Triệu Khẩu. Triệu Khẩu ôm chặt lấy chiếc cổ của Âm Sơn Tuyết, dòng lệ nóng hổi bỗng trào ra khóe mi. Âm Sơn Tuyết ngẩng đầu hí dài một tiếng, tiếng kêu dài thê lương vang vọng mãi bầu trời đêm. Triệu Khẩu lùi lại một bước, hai tay ôm chiến đao quỳ rạp xuống đất hướng về Âm Sơn Tuyết. Hồi lâu sau, hắn đứng dậy phắt lùi lại một bước, xoay người một đao đâm thủng cổ ngựa, tức khắc máu tươi phun xối xả làm Triệu Khẩu bị bắn tung tóe đỏ rực cả người!
Bách phu trưởng gào khóc thảm thiết: "Ngựa ơi ngựa ơi! Thăng thiên đi! Kiếp sau ngươi hãy giết ta—!"
Sáng sớm hôm sau, mặt trời nhô lên đỉnh núi, thung lũng sơn nguyên rộng lớn một mảnh đỏ rực một mảnh vàng óng. Trong xe thành viên trận của quân Triệu, tiếng kèn sừng trâu thê lương vút thẳng lên mây, tiếng trống trận rền vang như sấm dậy gầm rú khắp thung lũng. Thoáng chốc, xe thành viên trận hoàn toàn mở rộng, từng mảng lớn cờ đỏ đủ kiểu tuôn ra như thủy triều. Dưới đại kỳ chữ "Triệu", Triệu Khẩu lạnh lùng vô cảm đi ở hàng đầu tiên, mặc giáp sắt áo ngắn, mái tóc xõa tung, vác thanh chiến đao trên vai hiên ngang tiến về phía trước. Phía sau chính là các tướng sĩ quân Triệu bộ chiến vô biên vô tận, giáo dài đao cong đồng loạt vác lên vai, mang theo tâm thế quyết tử bước trên tiếng trống rầm rầm ép sát về phía doanh trại Bắc của quân Tần!
Bạch Khởi phóng tầm mắt quan sát ở Lục Thành Sơn một lát, liền dứt khoát ra lệnh: "Giương cờ soái của bản soái ra! Lập đại trận cường nỏ chặn đánh chính diện!"
Đại kỳ sắc đen trên lầu vọng quan sát ở đỉnh núi phấp phới chuyển động dồn dập, kèn hiệu trống trận vang lên liên hồi, non sông bốn phía chốc lát sôi sục hẳn lên, từng đội kỵ binh bộ binh của doanh trại quân Tần vút bay ra ngoài, chỉ trong thời gian ăn một bữa cơm đã bày xong một đại trận kéo dài hoành tráng băng qua thung lũng ở phía bắc Trường Bình Quan. Trước trận, một cây đại kỳ chữ "Bạch" phấp phới tung bay trong gió, trên chiến xa dưới cờ là một vị đại tướng đội mũ trụ mặc áo giáp khoác áo choàng tơ vàng sắc đen với mái tóc râu hoa râm, chính là Bạch Khởi!
Đại trận quân Triệu rầm rầm ép tới, vừa đúng tầm một mũi tên, quân Tần rõ ràng có hàng vạn cây cường nỏ giương cung chờ sẵn, thế nhưng lại không thèm bắn một mũi tên nào mặc cho quân Triệu ầm ầm tiến đến. Cứ đi mãi đi mãi, gần đến khoảng nửa tầm tên, Triệu Khẩu hạ lệnh: "Dừng!" Ngắm nghía một hồi, bỗng nhiên ngửa mặt cười lớn: "Trời định rồi! Trời định rồi!" Chiến đao chỉ thẳng cao giọng chất vấn: "Trên chiến xa của quân Tần, có phải là Võ An Quân Bạch Khởi đó chăng?"
"Triệu Khẩu, lão phu chính là Bạch Khởi."
Triệu Khẩu liền cười lạnh một tiếng: "Bạch Khởi, ngươi đã nổi danh thiên hạ, cớ sao phải cáo bệnh ẩn mình, dùng mưu kế lừa gạt trong chiến trận?"
"Triệu Khẩu, tranh chấp binh đao vốn không phải là chuyện đấu đá tư lợi cá nhân. Lão phu không cáo bệnh, Triệu vương sao có thể bổ nhiệm ngươi làm tướng được chứ."
"Bạch Khởi, trận chiến Trường Bình, nếu là Vương Ngật thống binh dàn trận, Triệu Khẩu ta xin tâm phục khẩu phục!" Triệu Khẩu chỉ thẳng chiến đao, "Đã chính ngươi ẩn mình thống binh, cách đánh trận thế này lại có quá nhiều sơ hở, Triệu Khẩu không phục chút nào!"
"Xin được nghe cao kiến của thiếu tướng quân." Bạch Khởi vẫn bình thản lạnh lùng.
"Thứ nhất, Thượng Đôn giằng co ba năm, không đánh không chiến, uổng phí quốc lực biết bao nhiêu? Thứ hai, dùng năm ngàn kỵ binh đi đầu để chia cắt quân ta, hoàn toàn là hành động liều lĩnh đánh cược, nếu ta đánh sớm, làm gì có chiến tích của ngươi? Thứ ba, vây hãm chờ thời, lại là hành động được ăn cả ngã về không. Nếu lương đạo của quân ta không bị đứt đoạn, hoặc chăng chư hầu đến cứu viện, dã tâm thế này sao có thể thực hiện được? Thứ tư, đã vây hãm quân ta, thế mà không chiếm đánh, chính là làm lỡ mất thời cơ chiến cơ! Nếu quân ta có lương thực một tháng, ngươi phá nổi xe thành viên trận này không?" Triệu Khẩu thản nhiên bình luận, ngẫm nghĩ không cần suy nghĩ.
"Thiếu tướng quân trải qua trận chiến này, vẫn còn có dấu vết tách rời khỏi nền tảng khi bàn luận về binh sự, quả thực là điều đáng tiếc!" Âm trầm hùng của Bạch Khởi theo gió vả tới, lại chẳng hề vội vã thong thả, "Từng nghe lời của Mã Phục Quân, thiếu tướng quân xem nhẹ việc binh đao, nay đủ để chứng thực rồi! Thứ nhất, đất Thượng Đảng dễ thủ khó giữ, lão Liêm Phở đào hào sâu đắp lũy cao, có thể gọi là giữ vững như núi non, đánh vào đâu được? Thế nhưng nếu không giằng co, thì nước Triệu ắt sẽ tạo thế uy hiếp trong thiên hạ. Đây chính là đạo lý vừa không đánh lại vừa không rút lui. Thứ hai, năm ngàn kỵ binh tuy ít, nhưng đó là lưỡi dao bén cắt bước đầu không được ngươi xem trọng, đợi khi ngươi phát hiện ra đánh tới, quân ta đã tăng viện năm vạn người, nói gì đến chuyện liều lĩnh đánh cược? Thứ ba, vây hãm chờ thời, cũng là nương nhờ vào địa lợi ngoài việc binh. Lão phu tin rằng, thiếu tướng quân đã suy ngẫm thấu đáo đạo lý này. Còn về việc lương đạo không thể đứt đoạn, chư hầu có thể đến cứu viện, đó là do thiếu tướng quân không xét thấu thiên hạ. Nếu quân ta không vây hãm quân Triệu, chư hầu có lẽ còn có thể đến cứu, mà quân ta đã vây hãm quân Triệu rồi, thì chư hầu nhất định sẽ không đến cứu. Đạo lý bang quốc, đưa than ngày tuyết vốn chẳng có ai làm. Thiếu tướng quân sao lại ngây thơ đến thế này? Cuối cùng, đại chiến Trường Bình, quân ta cũng thương vong nặng nề, có thể vây có thể khốn, việc gì phải chiến đấu đẫm máu? Máu tươi của binh sĩ, suy cho cùng vẫn quan trọng hơn chiến cơ. Chỉ cần có thể chiến thắng cuối cùng, Bạch Khởi thà rằng giữ gìn binh lực."
Lặng ngắt hồi lâu, Triệu Khẩu hướng về phía chiến xa cúi đầu thật sâu: "Triệu Khẩu xin cung kính nhận lời chỉ bảo."
"Dưới uy lực binh tinh của ta, thiếu tướng quân có thể cạn lương thực phòng thủ bốn mươi sáu ngày, mà đại quân không xảy ra phản loạn, đã là kỳ tích trong thiên hạ rồi!" Bạch Khởi ngửa mặt thở dài, "Lão phu hôm nay xuất trận, chính là niệm tình ngươi có tài chất danh tướng, để cho ngươi ra đi thanh bạch minh bạch."
"Đa tạ Võ An Quân." Triệu Khẩu cười lạnh một tiếng, "Hôm nay nếu Triệu Khẩu đột vây thành công, ba năm năm sau sẽ cùng ngươi Bạch Khởi tái ngộ phân cao thấp! Nếu Triệu Khẩu chết, kiếp sau ta vẫn muốn làm kẻ địch với ngươi!"
Bạch Khởi cười nhạt: "Tính vì đại cục nước Tần, thiếu tướng quân hôm nay bắt buộc phải chết ở chiến trận. Còn như kiếp sau, lão phu không có hứng thú làm tướng quân nữa đâu."
"Được! Trận chiến cuối cùng của ngày hôm nay!" Triệu Khẩu giơ cao chiến đao, quát lớn một tiếng: "Giết—!" Quân Triệu liền cuồn cuộn cuộn trào lao tới như thủy triều màu đỏ.
Vương Ngật vung lệnh kỳ chém xuống gầm lên một tiếng: "Trận cường nỏ nổi lên!" Liền thấy hàng vạn cây cường nỏ trước trận đồng loạt bắn ra, những mũi tên dài to bản tuôn xối xả như bão táp về phía quân Triệu, kỵ binh hai cánh còn chưa kịp xông ra, làn sóng quân Triệu đã rào rào cuộn ngược trở lại. Tư mã trung quân liền thốt lên một tiếng ngạc nhiên mừng rỡ: "Võ An Quân, Triệu Khẩu trúng tên rồi! Nhìn tình hình này trúng năm sáu mũi, chắc chắn phải chết không thể nghi ngờ!" Bạch Khởi lạnh lùng vung tay: "Các quân vẫn quay về doanh trại cố thủ! Quân Triệu không ra, quân ta không chiến!"
Quân Triệu lại lùi về chiếc xe thành viên trận chưa kịp tháo dỡ hoàn toàn. Lúc Triệu Khẩu trúng tới tám mũi tên lớn được khiêng về trước trướng phế tích, thì đã thoi thóp lâm chung. Những mũi tên dài to bản gần như xuyên thủng qua cỗ thân hình gầy còm mỏng manh của hắn, binh lính không dám đặt hắn lên giường quân, chỉ đành nín thở ôm xốc hắn trên tay, một vòng các đại tướng vây quanh Triệu Khẩu, bên ngoài chính là lớp lớp biển người đỏ rực đỏ rách, ai nấy toàn thân run rẩy không phát ra một tiếng động.
Triệu Khẩu cuối cùng cũng mở mắt ra, cố sức thở dốc thốt ra một câu: "Huynh đệ ơi, Triệu Khẩu, đi đây, đầu hàng..." rồi trừng to đôi tròng mắt trũng sâu ngúng nguẩy đầu sang một bên, mãi mãi chìm vào cõi vĩnh hằng không tiếng động. Các đại tướng ào ào quỳ sụp xuống. Binh lính cũng lớp lớp lùi dần như sóng triều quỳ sụp xuống, ngã mềm người ra. Đúng vào khoảnh khắc này, tướng sĩ quân Triệu mới bỗng nhiên nhận ra, vị thượng tướng quân trẻ tuổi này có tầm quan trọng nhường nào đối với họ! Nếu không có sự gan dạ phi phàm của hắn vào thời khắc cuối cùng, ai có thể sống đến ngày hôm nay? Quân Triệu sớm đã tan rã sụp đổ trong sự nuốt chửng thảm khốc người ăn thịt người rồi.
Sáng sớm hôm sau, một lá cờ lớn màu trắng thêu chữ "Hàng" đỏ như máu được treo cao trên lầu chỉ huy trung tâm, gần hai mươi vạn quân Triệu chậm rãi tuôn ra khỏi xe thành viên trận. Ở vùng đất trung gian giữa hai quân ngày trước, quân Tần xếp thành hai phương trận lớn, ở giữa là một lối đi rộng rãi. Quân Triệu lặng lẽ tuôn chảy, xuôi dòng chảy vào sâu trong ngọn núi nơi rừng giáp đen kịt dựng đứng.
Quân Tần không reo hò. Binh lính đầu hàng không oán thán. Toàn bộ chiến trường lại chìm trong một sự tĩnh mịch vô biên.