Cả ba người rời khỏi số 44 phố Eaton vào những thời điểm khác nhau, nhưng cuối cùng, họ đều chung một điểm đến.
Luis là người đầu tiên xuất hiện. Hắn đi bộ tới ga tàu điện ngầm phố Sloane và lên tàu tuyến Circle tới Hammersmith, nơi hắn băng qua nhà ga tới tuyến Piccadilly. Hạ sĩ Crann không bao giờ để tụt lại phía sau quá xa.
Diego bắt một chuyến taxi tới ga tàu Victoria và lên một chiếc xe bus tới sân bay; một lát sau, “cái đuôi” của hắn cũng lên xe.
Luis tạo thuận lợi để Crann theo dấu mọi bước đi của hắn nhưng rồi, đúng như những gì cha mình yêu cầu, đến Hounslow West, hắn ra khỏi ga tàu điện ngầm và bắt taxi tới sân bay London. Ở đó, hắn kiểm tra bảng lộ trình để xác nhận chuyến bay mà hắn sẽ đi sau hơn một giờ nữa. Hắn mua tạp chí Play boy số mới nhất ở W.H. Smith rồi chậm rãi tới cửa số 5 vì không có hành lý ký gửi.
Xe bus thả Diego bên ngoài sảnh chờ sân bay lúc gần mười giờ. Hắn cũng đã kiểm tra bảng lộ trình và biết rằng chuyến bay tới Madrid của mình bị trì hoãn bốn mươi phút. Không vấn đề gì. Hắn sải bước tới Forte’s Grill, mua một cốc cà phê và một phần bánh mỳ kẹp giăm bông rồi kiếm một chỗ ngồi gần lối vào để không ai có thể bỏ qua hắn.
Karl mở cửa trước nhà số 44 vài phút sau khi chuyến bay tới Nice của Luis đã cất cánh. Hắn đi thẳng về hướng phố Sloane, mang theo chiếc túi xách hiệu Harrods đã đầy ắp. Hắn dừng lại và nhìn vào cửa kính của một cửa hàng bên đường, không phải để ngắm nghía những món hàng đang được bày biện mà để nhìn vào hình ảnh phản chiếu trên kính; một mẹo cổ lỗ sĩ nhằm kiểm tra xem mình có bị bám đuôi không. Có người đi theo thật, vẫn là người đàn ông nhỏ con ăn mặc xuề xòa đó. Ngay lúc hắn tới Bách hóa Harrods, hắn đã nhận thức rõ ràng rằng người bám đuôi mình chỉ ở phía sau vài sải chân.
Một người gác cửa khoác áo măng tô màu xanh lá cây, đội mũ chóp cao mở cửa cho Karl và ra hiệu chào. Anh ta lấy làm tự hào khi nhận ra những người khách quen.
Ngay khi Karl bước vào bên trong cửa hàng, hắn bắt đầu đi nhanh qua chỗ bán đồ lót đàn ông và tăng tốc khi đi qua quầy đồ da, rồi hắn gần như bỏ chạy đúng lúc hắn tới dãy sáu cầu thang máy. Chỉ có một thang máy duy nhất mở cửa. Nó đã chật cứng nhưng hắn vẫn cố chen vào. Cái đuôi gần như đã bắt kịp hắn, nhưng người trực thang máy đã kéo phên sắt đóng lại trước khi người kia kịp nhảy vào. Người bị đeo bám không thể nào nén cười vào kẻ đeo bám khi thang máy mất hút khỏi tầm nhìn.
Karl không ra ngoài cho đến khi thang máy lên tới tầng thượng. Sau đó, hắn đi bộ nhanh qua chỗ bán đồ điện, đồ nội thất, hiệu sách, phòng trưng bày nghệ thuật trước khi tới một cầu thang bằng đá ít người qua lại ở tận đầu Bắc của cửa hàng. Hắn bước hai bậc một, và chỉ dừng chạy khi đã quay lại tầng trệt. Hắn đi tắt qua nơi bán trang phục đàn ông, nước hoa, bút và văn phòng phẩm cho đến khi hắn tới cửa bên dẫn ra đường Hans. Ngay khi đã đứng trên vỉa hè, hắn vẫy chiếc taxi đầu tiên sẵn tại đó, leo vào và khom người xuống, tránh bị nhìn thấy.
“Sân bay London.” Hắn nói.
Hắn chờ cho tới khi chiếc taxi đi qua hai cột đèn giao thông rồi mới đánh liều liếc ra ngoài cửa sổ phía sau. Không có dấu hiệu của người bám đuôi, trừ khi Trung sĩ Robert đang đi xe đạp hoặc đang ở trên một chiếc xe buýt London.
Karl đã ghé tạp hóa Harrods mỗi sáng trong suốt nửa tháng qua, đi thẳng tới quầy đồ ăn tầng trệt, mua vài thứ trước khi quay lại phố Eaton. Nhưng không phải ngày hôm nay. Mặc dù hắn đã cắt đuôi một quân nhân SAS, nhưng hắn biết mình không nên mạo hiểm quay lại đó lần nữa. Và vì hắn phải đi tới địa điểm này khá thường xuyên, nên không khó khăn gì cho những “cái đuôi” đoán được nơi mà hắn đang nhắm tới, thế nên trong tương lai, họ sẽ phải chờ đợi hắn khi hắn xuống máy bay.
Khi taxi thả hắn bên ngoài sảnh chờ sân bay Europa, Karl không mua cuốn Play boy hay uống cốc cà phê nào, mà chỉ đi thẳng đến cổng số 18.
*
Máy bay của Luis đáp xuống Nice vài phút sau khi máy bay của Karl rời khỏi đường băng. Luis có một đống giấy bạc năm bảng mới giấu kỹ trong túi đựng đồ, kèm theo hướng dẫn không thể rõ ràng hơn: tận hưởng và đừng quay về trong ít nhất một tuần. Một nhiệm vụ không hề nhọc nhằn gì lắm, nhưng tất cả đều nằm trong kế hoạch tổng thể của Don Pedro.
Máy bay của Diego tiến vào không phận Tây Ban Nha chậm hơn một giờ so với lịch trình, nhưng vì cuộc hẹn với một trong những nhà nhập khẩu thịt bò hàng đầu của quốc gia này, phải đến tận bốn giờ chiều hôm đó, anh ta mới có thời gian rảnh rỗi. Mỗi khi đến Madrid, anh ta luôn ở đúng khách sạn đó, dùng bữa trong đúng nhà hàng đó và đến đúng cái nhà chứa đó. “Cái đuôi” của anh ta cũng tự đặt cho mình một chỗ trong cùng khách sạn và ăn trong cùng một nhà hàng, nhưng anh ta ngồi một mình trong quán cà phê ở phía đường đối diện bất cứ khi nào Diego dành vài giờ tại La Buena Noche. Anh ta cảm thấy đó không phải là một bảng kê chi phí mà Đại tá Scott-Hopkins sẽ thấy vui vẻ.
*
Karl Lunsdorf chưa bao giờ ghé qua Belfast, nhưng sau vài buổi tối “uống đi tôi mời” tại quán Ward’s Irish House ở Piccadilly, hắn trở về với hầu hết các câu hỏi đã có giải đáp. Hắn cũng đã thề sẽ không bao giờ uống thêm một vại bia Guinness nào trong đời nữa.
Khi rời sân bay, hắn bắt taxi đến khách sạn Royal Windsor ở trung tâm thành phố, nơi hắn đã tự đặt phòng trong ba đêm. Hắn nói với lễ tân rằng hắn có thể phải ở lại lâu hơn, tùy thuộc xem công chuyện của mình diễn ra thế nào. Khi đã vào phòng, hắn khóa cửa, dỡ đồ từ túi hành lý Harrods và đi tắm. Sau đó, hắn nằm trên giường và nghĩ xem hắn định làm gì vào buổi tối hôm đó. Hắn không nhúc nhích cho đến khi thấy đèn đường đã bật sáng. Sau đó hắn dò tìm trên bản đồ đường đi của thành phố một lần nữa, để khi rời khỏi khách sạn, hắn sẽ không cần phải xem bản đồ nữa.
Hắn rời khỏi phòng của mình ngay sau sáu giờ, và đi cầu thang bộ xuống tầng trệt. Hắn chưa bao giờ sử dụng thang máy của khách sạn - một không gian nhỏ xíu, lộ liễu, quá nhiều ánh sáng chỉ khiến những vị khách khác dễ dàng nhớ được hắn. Hắn bước nhanh, nhưng không quá hối hả, băng qua tiền sảnh và ra tận ngoài đường Donegall. Sau khi nhìn vào cả trăm cái cửa kính, hắn mới tin chắc rằng không có ai theo dõi mình. Một lần nữa, hắn lại tự lực cánh sinh đằng sau chiến tuyến của kẻ thù.
Hắn không đi thẳng tới điểm đến của mình mà hai lần ngược lại theo những con đường rìa, cho nên một chuyến đi bộ bình thường chỉ mất khoảng hai mươi phút giờ lấy đi gần một giờ đồng hồ. Nhưng sau đó, hắn không vội vàng. Khi hắn, cuối cùng cũng tới đường Falls, hắn có thể cảm nhận được mồ hôi đọng thành giọt trên trán mình. Hắn biết nỗi sợ sẽ luôn đeo đẳng không rời nếu hắn vẫn còn ở trong mười bốn khối nhà toàn người theo Giáo hội Công giáo cư ngụ. Không phải là lần đầu trong đời hắn thấy bản thân mình đang ở đâu đó mà hắn không chắc chắn mình sẽ sống sót thoát khỏi nơi đó lắm.
Với chiều cao một mét chín, mái tóc vàng kim dày và trọng lượng cơ thể khoảng chín mươi lăm cân, chủ yếu là cơ bắp, Karl không dễ gì hòa trộn vào đám đông xung quanh. Những lợi thế của một sĩ quan SS trẻ giờ đang trở thành điểm bất lợi. Hắn chỉ còn lại một điểm duy nhất có lợi, đó là giọng Đức của hắn. Nhiều người Công giáo sống ở đường Falls ghét người Anh còn hơn cả người Đức, mặc dù đôi khi nó là một điều gì đó hiện hữu rất gần gũi. Sau tất cả, Hitler đã hứa hẹn sẽ hợp nhất miền Bắc và miền Nam khi ông ta giành phần thắng trong cuộc chiến. Karl thường tự hỏi rằng không biết Himmler sẽ trao cho anh ta chức vụ gì, nếu ngày đó, Đức xâm lược Anh thay vì mắc sai lầm chết người bằng việc dồn lực vào mặt trận phía Đông để xâm lược Liên Xô. Thật đáng tiếc, Der Fuhrer lẽ ra nên chịu khó đọc lịch sử nhiều hơn.
Hắn nhìn thấy tấm biển đung đưa trong gió chiều. Nếu hắn định quay lại, thì chắc hẳn phải quay lại ngay bây giờ. Và hắn không ngần ngại. Hắn sẽ không bao giờ quên rằng chính Martinez là người đã giúp hắn trốn thoát khỏi quê hương khi Reichstag 11 đang ở trong tầm bắn của xe tăng Nga.
Hắn đẩy cánh cửa màu xanh lá cây bong tróc dẫn vào quán bar, kín đáo như một nữ tu trong tiệm cá cược. Nhưng hắn đã chấp nhận rằng không có cách nào tinh tế để cho IRA biết hắn đang ở trong thị trấn. Vấn đề không phải người mà hắn biết là ai... mà là hắn không biết ai hết.
Khi hắn gọi một ly whisky Jameson’s, Karl đã nhấn mạnh âm giọng Đức của mình. Sau đó, hắn rút ví của mình, lấy ra một tờ năm bảng mới cứng và đặt lên bàn quầy. Nhân viên quầy bar nhìn vào tờ tiền một cách bối rối, thậm chí không dám chắc trong ngăn kéo có đủ tiền lẻ để trả lại hay không.
Karl đặt ly whisky xuống và ngay lập tức gọi thêm một ly khác. Ít nhất thì hắn cũng phải thử và chứng tỏ mình có điểm chung với họ. Chuyện luôn khiến hắn thấy buồn cười là biết bao nhiêu người cứ mặc định rằng những người đàn ông to lớn hẳn phải là những kẻ uống như hũ chìm. Sau ly whiskey thứ hai, hắn liếc quanh phòng, nhưng không ai định nhìn đáp lại. Phải có khoảng hai mươi người trong quán bar lúc đó, đang nói chuyện, chơi cờ domino và nhấm nháp những phần đồ uống. Tất cả bọn họ đều đang giả vờ họ không hề chú ý đến không khí gượng gạo ở trong phòng.
Đến 9 giờ 30 tối, nhân viên quầy bar rung chuông và gọi lớn tiếng cho lượt gọi đồ uống cuối cùng, khiến một số khách hàng vội vã chạy tới quầy và gọi thêm đồ uống, vẫn không ai thèm nhìn Karl lần thứ hai chứ đừng nói là bắt chuyện với hắn. Hắn loanh quanh thêm vài phút, nhưng không có gì thay đổi, vì vậy, hắn quyết định trở về khách sạn của mình và thử lại vào ngày mai. Hắn biết sẽ phải mất nhiều năm, sau đó, họ mới đối xử với hắn như một người dân bản xứ, mà nếu có đi chăng nữa, hắn cũng chỉ có vài ngày để gặp một người mà có lẽ chưa từng nghĩ đến việc bước vào cái quán bar đó, nhưng, người đó chắc sẽ được nói lại chuyện Karl đã ở cái quán đó tới tận nửa đêm.
Khi quay trở lại đường Falls, hắn chợt ý thức được có vài cặp mắt đang theo dõi từng bước chân của mình. Một lúc sau, hai người đàn ông có vẻ đã ngà ngà say, lảo đảo qua đường theo bước của hắn. Hắn chậm lại để chắc chắn rằng kẻ bám đuôi mình đã thấy nơi mà hắn đã dành cả đêm trong đó, và họ có thể chuyển lại tin tức cho cấp cao hơn của mình. Hắn sải bước vào bên trong khách sạn, quay quanh và phát hiện ra họ đang vẩn vơ dưới bóng tối ở phía đường xa. Hắn leo cầu thang lên tầng ba để về phòng, cảm thấy có lẽ hắn không thể nào làm gì hơn trong ngày đầu tiên ở thành phố này để khiến họ chú ý đến sự hiện diện của mình nữa.
Karl ngấu nghiến tất cả những chiếc bánh quy biếu tặng bày trên hộc tủ, cùng một quả cam, một quả táo và một quả chuối từ tô đựng hoa quả. Khi hắn trốn khỏi Berlin vào tháng Tư năm 1945, hắn đã sống sót nhờ uống nước của những dòng sông bùn lầy mới vừa bị xe tăng và các phương tiện hạng nặng quần đảo và thịt thỏ sống là món xa xỉ; hắn thậm chí đã ăn cả da thỏ khi băng qua biên giới để vào Thụy Sĩ. Hắn chưa bao giờ ngủ dưới một mái che, chưa bao giờ đi bộ trên một con đường, và chưa bao giờ đặt chân vào một thị trấn hay làng xóm trong suốt hành trình dài lê thê tới bờ biển Địa Trung Hải, nơi hắn vượt biên bằng tàu hơi nước, vật vạ như một bao tải than. Mất thêm năm tháng trời trước khi hắn bước chân xuống tàu và đặt chân lên đất Bruenos Aires. Hắn ngay lập tức đi tìm Don Pedro Martinez, thực hiện mệnh lệnh cuối cùng mà Himmler giao phó cho mình trước khi tự tử. Martinez bây giờ là sĩ quan chỉ huy của hắn.