Anh về đến nhà không phải là sáu giờ mà đã gần mười một giờ. Nơi anh đến không phải là nhà Petya mà là khách sạn “Astoria”. Anh yêu cầu chúng tôi đến khách sạn ngay để cùng ăn cơm tối với anh vì anh không ăn cơm trưa nên bây giờ đói lắm, mà ăn một mình thì rất chán.
Nhưng Petya đã mệt nhoài sau một ngày căng thẳng. Hơn nữa vì muốn để cho người tỉnh táo, anh chàng đi uống một ít vốt-ca, bây giờ đang nằm trượt trên ghế đi-văng, đôi mắt lờ đờ nửa thức nửa ngủ, lại thêm chiếc mũi khoặm to tướng cùng hai chân hai tay dài ngoằng, trông anh chàng giống hệt như chàng Petrushka[1].
… Tôi nhớ hết cả ngày giờ mỗi lần gặp Sanya, và chẳng những ngày giờ của các lần gặp mặt mà cả đến ngày giờ gửi và nhận thư anh, tôi cũng nhớ rất rõ. Cuộc gặp gỡ trong vườn hoa bên đường phố Triumphalnaya ấy là ngày mồng hai tháng Tư. Cuộc gặp gỡ trước cửa Nhà hát lớn ấy là vào ngày mười ba tháng Sáu. Lần này sau khi từ Viện nghiên cứu Bắc cực trở về, Sanya liền gọi điện cho tôi và buổi tối tôi đến gặp anh ấy tôi sẽ ghi nhớ suốt đời, đó là buổi tối ngày hai mươi mốt tháng Năm.
Chúng tôi quen biết nhau từ thuở ấu thơ, vì vậy tôi luôn luôn có cảm giác rằng tôi hiểu anh còn rõ hơn cả anh hiểu bản thân anh. Song buổi tối hôm nay anh bỗng trở nên khó hiểu khác thường. Đến nỗi ngay trong bữa ăn tối tôi đã phải nói thẳng với anh điều đó.
Toàn bộ phương án tìm kiếm đã được thông qua. Tại Viện nghiên cứu người ta bàn tán sôi nổi về bản phương án đó và nói với anh những lời đẹp đẽ. Điều đó rõ ràng là không phải không có căn cứ. Anh đã được gặp giáo sư V., người đã dựa vào tuyến hành trình của con tàu “St. Maria” mà tìm ra được một hòn đảo. Anh được giáo sư tiếp chuyện rất nhiệt tình. Trước kia anh đã từng trú ngụ ở thành phố Leningrad mỹ lệ này, và trong thời kỳ học tập ở Trường Hàng không, anh đã gắn bó sâu sắc với thành phố to lớn này. Giờ đây sau một thời gian sống yên tĩnh ở Bắc cực, anh lại trở về Leningrad! Mọi việc đều rất thuận buồm xuôi gió.
Nét mặt anh, trong mỗi cử chỉ của anh, thậm chí cả trong lúc anh đang ăn, anh cũng để lộ niềm hạnh phúc cao độ. Đôi mắt anh ngời sáng, động tác dứt khoát tự nhiên. Nếu như trước đây tôi chưa hề yêu anh, thì ngay trong bữa tối hôm nay tôi cũng sẽ mãi mãi yêu anh.
Chúng tôi ăn mãi không xong, về sau tôi nói rằng tôi chưa được đi xem phố xá của Leningrad thì anh có vẻ hoạt bát hẳn lên. Anh tuyên bố một cách hào hứng rằng anh sẽ “đích thân dẫn tôi đi thưởng ngoạn thành phố, sẽ chứng minh cho tôi biết thành phố này là thành phố như thế nào”. Và thế là chúng tôi cùng ra đi.
Lúc này đã quá hai giờ sáng. Lẽ ra lúc này là lúc trời tối nhất, nhưng khi chúng tôi bước ra khỏi khách sạn “Astoria” thì trời lại rất sáng, tôi cố ý đứng lại giữa đường phố Gogol và giở tờ báo ra đọc.
Một đêm trắng tuyệt diệu! Thế nhưng Sanya lại cho rằng đêm trắng chẳng có gì đặc biệt, sở dĩ đêm trắng ở Leningrad đầy hấp dẫn và đẹp là bởi vì nó không kéo dài quá nửa năm.
Chúng tôi đi qua trước cửa Bộ Tổng tham mưu, một quảng trường rộng lớn, hùng vĩ của thành phố hiện ra trước mắt chúng tôi. Quảng trường này không thật là rộng lắm, nhưng lại phẳng phiu trống trải, không mông mênh như một số quảng trường ở Moskva. Nhưng rất bực là tôi không biết quảng trường này là quảng trường gì, Sanya đành phải giảng cho tôi nghe một bài học ngắn về lịch sử nước Nga ngày mồng bảy tháng Mười một năm một nghìn chín trăm mười bảy.
Sau đó chúng tôi đi dọc theo phố Khalturin. Tôi đọc được tên dãy phố này qua ánh đèn từ một căn nhà hắt ra. Rồi chúng tôi dừng lại khá lâu trước những bức tượng đồ sộ đắp hình người dùng vai đỡ khung cửa lớn của Viện bảo tàng Ermitazh[2]. Không biết lúc ấy Sanya nghĩ gì, riêng tôi thì dạt dào một thứ tình cảm chân thành như đối với những người còn sống vậy – Họ lộ rõ vẻ mệt nhọc nhưng tư thế lại rất đẹp.
Sau đó, chúng tôi đi ra bờ sông, ở đây mới thực sự được nhìn thấy đêm trắng. Bầu trời không sáng tỏ cũng chẳng mịt mù, không phải lúc bình minh mà cũng chẳng là buổi hoàng hôn. Trên nóc tòa lâu đài của Trường đại học Quân y hiện ra những quầng màu xanh thẫm, màu xanh lơ, màu vàng, màu hồng da cam… tựa như toàn bộ các loại màu sắc trên trái đất đều tập trung lại ở đây. Nhưng trên bầu trời của thành phố ở phía nào đó đã có mặt trời. Còn trên pháo đài Petropavlovskaya lại tỏa ra một màu chì mờ đục. Màu sắc không gian ở hai nơi khác xa nhau một trời một vực, đến nỗi khiến cho người ta khó mà tin rằng chúng đều ở trong một vùng trời. Chúng tôi đưa mắt chăm chú nhìn về phía pháo đài và bầu trời phía ấy rồi lại quay nhìn về Trường đại học Quân y và khoảng trời trên đó. Tôi có cảm giác như tầm mắt của mình vừa vượt qua biên giới của quốc gia này để sang một quốc gia khác, từ một đất nước tĩnh lặng, nặng màu xám đục sang một đất nước lộng lẫy, huy hoàng vô cùng.
Tôi mặc ít nên cảm thấy hơi thấm lạnh. Sanya mở rộng chiếc áo mưa choàng qua vai tôi, thế là hai đứa cùng co rụt ở trong đó, lặng lẽ ôm nhau ngồi rất lâu.
Chúng tôi ngồi trên một chiếc ghế đá hình bán nguyệt đặt sát bờ nước bên dòng sông Neva, nghe rõ tiếng sóng nước đập vào bờ đá.
.jpg)
Tôi thực không thể nào nói được hết nỗi niềm hạnh phúc và những cảm giác dễ chịu trong buổi tối hôm ấy. Thế là cuối cùng chúng tôi đã ở bên nhau và sẽ không bao giờ chia lìa nữa. Giờ đây không còn cần phải cãi vã, tranh luận nhau để tỏ rõ lòng mình cho nhau hiểu nữa. Tôi cầm lấy bàn tay anh và đặt lên bàn tay chắc khỏe, to rộng, đáng yêu ấy những chiếc hôn thắm thiết. Và anh cũng hôn lên bàn tay tôi.
Tôi không nhớ rõ đêm hôm ấy chúng tôi đã đi qua những nơi nào, chỉ còn nhớ rằng chúng tôi rất lưu luyến, không muốn rời xa bờ sông Neva. Hai đỉnh tháp, một cao một thấp màu thiên thanh luôn luôn hiện ra sừng sững trước mặt chúng tôi. Chúng tôi hướng về phía nó đi mãi nhưng mãi vẫn không đến, như một ảo ảnh không bao giờ bắt gặp được vậy.
Các bác công nhân vệ sinh đã bắt đầu quét đường phố. Vừng mặt trời to tướng, vàng rực treo lơ lửng trên bầu trời phía nhà thờ Vyborgskaya, mỗi lúc một lên cao hơn. Tuy chúng tôi vẫn còn lưu luyến với trời đêm hôm nay, nhưng đêm trắng đã tàn dần. Chợt Sanya đột ngột quyết định phải gọi điện thoại ngay cho Petya.
- Chúng ta sẽ hỏi cậu ấy xem tối hôm qua cậu ấy sống như thế nào, – Sanya nói giọng vui vẻ và cười vang.
Nhưng tôi khuyên anh không nên gọi, vì điện thoại của Petya đặt ở phòng ngoài, sẽ làm mất giấc ngủ của cả nhà bác nghệ sĩ nhiếp ảnh Berenstein.
- Gia đình ấy rất tốt, trời chưa sáng mà đã đánh thức cả nhà người ta dậy là điều không nên đâu!
Chúng tôi dẫn nhau đến nhà thờ, và ở đó Sanya gọi một chiếc xe tắc-xi. Khi ngồi trong xe tắc-xi, chúng tôi chợt cảm thấy rất thoải mái, thế là Sanya đề nghị tôi hãy ra đảo chơi một lúc rồi trở về nhà Petya. Song sáng nay anh còn có nhiều việc phải hoàn thành nên tôi muốn anh về sớm và tranh thủ ngủ được phút nào hay phút ấy.
Chúng tôi trở về khách sạn “Astoria” và nổi lửa đun cà-phê. Hầu như lúc nào Sanya cũng không rời bộ phin pha cà-phê và cái bếp đèn cồn. Anh bắt đầu nghiện cà-phê từ ngày lên Bắc cực.
- Đời sống đẹp đến như thế này, cũng thực đáng sợ, em nhỉ? – Anh nói rồi ôm chặt tôi vào lòng. – Sao tim em đập dữ dội đến thế! Mà tim của anh… em sờ xem.
Anh cầm tay tôi đặt vào chỗ trái tim anh.
- Chúng ta hồi hộp quá, thực là buồn cười, em nhỉ?
Hình như bản thân anh cũng không biết anh nói những gì. Vì quá xúc động, giọng anh lạc hẳn đi…
Mãi đến gần một giờ chiều, chúng tôi mới đến thăm Petya. Bà chủ nhà đã có tuổi, vóc người bé nhỏ, lịch thiệp ra mở cửa và cho biết Petya không có ở nhà.
- Anh ấy vào bệnh viện rồi.
- Đi sớm thế kia ạ?
- Phải.
Trên nét mặt bà lộ vẻ lúng túng.
- Có xảy ra việc gì không ạ?
- Không, không. Chẳng có chuyện gì đâu. Anh ấy gọi điện thoại vào bệnh viện, trong ấy người ta trả lời chị Aleksandra Ivanovna hơi khó ở.
❀ ❀ ❀
[1] Một vai chính trong các nhân vật múa rối dân gian của nước Nga. – N.D.
[2] Tên bảo tàng trong tiếng Anh là Hermitage (Caruri).