Sau khi Thiếu Khang trung hưng, triều Hạ chỉ có con trai Thiếu Khang là Lý Trữ ở ngôi tương đối cường thịnh. Lý Trữ rất có tài ba, ông đã phát minh ra áp giáp mặc để ra đánh trận. Loại áo giáp này được làm bằng da thú, dao đá chặt không đứt, mũi tên xuyên không thấu, kể cả một số ít vũ khí chế bằng đồng sản xuất ở thời đó cũng không làm gì nổi. Có thể đó là pháp bảo hộ thân để đi đánh trận. Lý Trữ dựa vào loại bảo pháp, cộng thêm với những thủ đoạn có sức mạnh khác, tiếp tục đương đầu với các bộ lạc Đông Di, cuối cùng đã hàng phục được Đông Di, mở rộng thêm một bước biên cương của triều Hạ.
Các đời sau Lý Trữ càng ngày càng tỏ ra kém cỏi, thối nát nhất là Hạ Kiệt, cháu đời thứ 14 của Hạ Vũ. Cơ nghiệp tổ tiên Hạ Vũ xa xưa gian khổ vất vả sáng tạo ra, đã bị chính tay Hạ Kiệt chôn vùi.
Hạ Kiệt là một kẻ ăn tàn, phá hại nổi tiếng. Kiệt kế thừa ngôi vua, chê cung thất mà mình ở quá thô thiển, giản đơn, liền hạ lệnh xây dựng một toà Khuynh Cung. Khuynh Cung chiếm mười dặm đất, cao mười trượng, trung tâm của cung thất xây dựng một toà Dao đài, thanh xây toàn ngọc trắng. Toà Khuynh cung này xây dựng trong bảy năm mới hoàn thành, đã động dụng sức lao động của hàng ngàn vạn nô lệ, đã tiêu phí một khối lượng lớn vật lực và tài lực, thật là mệt người tốn của làm cho nhân dân trăm bề khổ sở.
Hạ Kiệt rất coi trọng việc ăn uống, chỉ thích ăn thịt thú quý hiếm dưới biển, thường ăn những thức ăn sản xuất ở Tây Bắc, thịt cá voi bắt được từ biển Đông, những vật liệu điều vị cần phải là gừng sống sản xuất ở phương Nam, muối biển sản xuất ở phương Bắc. Để cung cấp thức ăn cho một mình Hạ Kiệt, đòi hỏi phải có hàng trăm, hàng ngàn người trồng rau, bắt cá, vận chuyển, đun nấu. Hạ Kiệt lại là một con quỷ rượu, Kiệt đặc biệt thích uống rượu. Hạ Kiệt uống rượu còn có một tính khí quái đản, cần phải uống rượu trong suốt, rượu hơi vẩn đục một chút là giết chết đầu bếp, rất nhiều người đầu bếp đã vì vậy mà chôn vùi tính mạng. Sau khi Hạ Kiệt đã uống say, còn bắt người làm bò làm ngựa cho hắn cưỡi, ai không chịu để cho hắn cưỡi thì phải chịu đựng những trận đòn đau hoặc bị lôi đi chặt đầu. Đối với Hạ Kiệt mà nói, giết một con người quả thật còn tuỳ tiện hơn là giết một con gà.
Hạ Kiệt thích những kẻ a dua nịnh hót, chán ghét những người nói thẳng khuyên Kiệt làm theo quy tắc. Hạ Kiệt nghe những lời xúi dục của Vu Tân, khác nào lửa đổ thêm dầu, càng ngày càng hư hỏng. Có một người tốt tên gọi là Quang Long Phùng, biết rõ Hạ Kiệt làm điều xằng bậy, thường xuyên khuyên Hạ Kiệt sửa đổi lỗi lầm. Hạ Kiệt chẳng những không nghe, cuối cùng còn giết chết Quang Long Phùng. Do vậy những người tốt đều không dám thân gần Hạ Kiệt, còn kẻ xấu thì thành đàn thành lũ vậy xung quanh Hạ Kiệt. Nền chính trị của triều Hạ ngày càng hủ bại.
Giữa lúc thế lực của Hạ Kiệt ngày càng suy yếu thì lực lượng của nước Thương ở hạ du sông Hoàng Hà đã lớn mạnh lên. Nước Thương là một thuộc quốc của triều Hạ, truyền thuyết kể rằng tổ tiên là con trai của Đế Khốc, tên gọi là nước Khiết. Khiết đã từng giúp đỡ Hạ Vũ trị thuỷ, đã lập được công lao. Hạ Vũ thưởng cho Khiết, phong đất cho Khiết ở Thương. Tử Khiết đã xây dựng lên một quốc gia nhỏ bé ở đất phong, đặt tên là Thương. Khi Hạ Kiệt làm xằng bậy, đúng là lúc người cháu đời thứ bốn của Tử Khiết là Thang đang nắm quyền nước Thương. Thương Thang thấy Hạ Kiệt đang vấp phải sự phản đối của rất nhiều dân chúng, cảm thấy có thể tranh thủ được lòng dân, liền bắt ngay Thương Thang, nhốt trong ngục Hạ Đài. Chỉ suýt nữa Thương Thang đã bị mất mạng, may mà ông giỏi ứng phó, lừa gạt được Hạ Kiệt u mê, ngu muội. Sau một thời gian Hạ Kiệt liền thả cho Thương Thang về.
Thương Thang về tới nước Thương, một mặt kể tội ngu muội tàn bạo của Hạ Kiệt, khuyên can các bộ tộc bị triều Hạ khống chế, chống lại triều Hạ, quy thuận nước Thương. Tộc Cát Bá không nghe lời khuyên bảo của Thương Thang. Thương Thang liền xuất quân tiêu diệt tộc Cát Bá,lấy việc đó, giết một, răn trăm. Thương Thang rời thủ đô tới Bột (trong biên giới tỉnh Hà Nam ngày nay) tưng cường lung lạc dân chúng, muốn chứng tỏ mình là một vị vua anh minh, cốt để cho dân chúng nghe theo sự chỉ huy của Thang.
Có một lần Thương Thang ra ngoại thành chơi, nhìn thấy một người đang giăng lưới ở bốn mặt để bắt chim, miệng không ngớt lẩm bẩm: “Những con chim từ trên trời bay xuống, từ dưới đất bay lên, từ bốn phương tám hướng bay tới, hãy rơi cả vào lưới của ta đi!” Thương thang thấy vậy, nói với người bắt chim rằng:
- Ông làm như vậy thì quá tàn nhẫn, hãy nhanh chóng rút bỏ ba mặt lưới đi, chỉ để lại một mặt là đủ.
- Người bắt chim nói:
- Một mặt lưới thì làm sao bắt được chim?
Thương Thang nói:
- Ông giăng một mặt lưới, hét lên với chim rằng: “Chim ơi, chim muốn bay sang bên trái thì bay về bên trái, muốn bay sang bên phải thì bay về bên phải, thực sự chim không muốn sống nữa thì hay chui vào lưới của ta!” Như vậy chứng tỏ tâm ý ông lương thiện.
Lời Thương Thang nói với người bắt chim nhanh chóng được lưu truyền, mọi người đều nói Thương Thang là con người rất tốt, đối với loài cầm thú cũng tỏ lòng nhân từ, ta nên chân thành ủng hộ ông. Câu chuyện giăng một mặt lưới bắt chim về sau đã hình thành một câu thành ngữ gọi là “giăng lưới một mặt”. “Lưới giăng ba mặt” đã thành “lưới giăng một mặt”, về ý nghĩa thì đã có sự biến đổi, dùng để ví dụ cần phải lưu lại một lói ra cải tà, quy chính cho những người hư hỏng.
Sau khi Thương Thang làm xong công tác chuẩn bị, liền ra tuyên ngôn, phát động tấn công triều Hạ. Trong bản tuyên ngôn đó, Thương Thang nói: “Mọi người hãy cùng ta đánh Hạ Kiệt đi! Điều này đâu phải là cá nhân ta thích làm loạn, bắt mọi người phải bỏ bễ việc nhà bận rộn; quả thật con người Hạ Kiệt này đã quá u mê, thiên hạ đã bị hắn dày xéo tan nát. Quần chúng nhân dân từ lâu đã chỉ thẳng vào xương sống lưng hắn mà nguyền rủa hắn, mong cho hắn sớm chết. Những việc xấu xa mà hắn làm trời đất khó bao dung. Hiện nay ta lãnh ý chỉ của ông trời phải tiêu diệt hắn, mọi người nên giúp đỡ ta. Nếu các người lập được công, ta nhất định sẽ trọng thưởng. Nếu không nỗ lực chiến đấu, ta nhất định sẽ trách phạt nặng đó!”
Hạ Kiệt nghe nói Thương Thang dẫn quân tiến đánh, lienè nói với bọn thuộc hạ:
- Nay đã tới nông nỗi này ta rất hối hận sao lúc đó không giết quách thằng cha Thương Thang trong nhà tù Hạ Đài đi!
Hắn nhanh chóng hạ lệnh điều động quân đội của ba nước nhỏ là nước Côn Ngô, nước Vi, nước Cố phụ thuộc triều Hạ tới bảo vệ triều Hạ. Thương Thang đã sớm liệu biết được mưu mô này, trước hết, ông sai quân đến tiêu diệt nước Vi và nước Cố, rồi đánh bại nước Côn Ngô, đại quân đánh thẳng tới Minh Điều, thành thị quan trọng của nước Hạ. Hạ Kiệt đích thân dẫn quân tới Minh Điều nghênh chiến, thế nhưng binh lính đều không nghe theo, có tên bỏ chạy trốn, có kẻ ra đầu hàng. Hạ Kiệt nhìn thấy đại thế đã hết, không dám lại trở về thủ đô Lạc Dương nữa, liền dẫn một số ít binh tàn tướng bại nhờ cậy vào nước Côn Ngô. Thương Thang thừa thắng truy kích, chỉ một trận đã tiêu diệt được Côn Ngô. Hạ Kiệt lại dẫn vợ con hắn là Muội Hỉ chạy trốn khỏi trùng vây, ngồi lên một con thuyền nhỏ bơi qua sông tới Nam Sào (huyện Sào, tỉnh An Huy ngày nay). Vì không biết lao động, cuối cùng cả hai vợ chồng đã chết đói ở trong núi Nam Sào.
Thương Thang đánh đuổi được Hạ Kiệt, phá huỷ hết thái miếu mà triều Hạ vẫn cúng thờ tổ tiên, phóng hoả đốt hết đồ cúng tế, rồi tiếp tục thanh trừ những thế lực tàn dư của triều Hạ, bắt rất nhiều dân chúng của triều Hạ đi làm nô lệ. Như vậy là nhà Hạ bắt đầu xây dựng từ thế kỷ 21 trước Công nguyên, trải qua hơn 400 năm, tới đây đã bị diệt vong. Đại để là vào đầu thế kỷ 17 trước Công nguyên. cách hiện tại khoảng ba nghìn năm về trước. Thương Thang đã chính thức xây dựng nên triều Thương, một quốc gia thứ hai theo chế độ chiếm hữu nô lệ trong lịch sử Trung Quốc.