Đến cuối thời kỳ Chiến Quốc, cục diện chính trị đã rất sáng sủa. Nước Tần mạnh nhất, trở thành một quốc gia có thực lực thống nhất Trung Nguyên. Sở dĩ nước Tần lớn mạnh như vậy, có nhiều nguyên nhân, trong đó một nguyên nhân quan trọng chính là nước Tần rất coi trọng nông nghiệp, tích cực xây dựng thủy lợi, phát triển sản xuất, do vậy mà có lực lượng kinh tế tương đối hùng hậu. Công trình thủy lợi Đô Giang Yển (Yển là bờ đê giữ nước) hùng vĩ nổi tiếng nhất chính là do quận thú Thục Quân (phía Tây tỉnh Tứ Xuyên ngày nay) tên gọi Lý Bằng và con trai là Nhị Lang lãnh đạo nhân xây dựng nên. Công trình thủy lợi này tới ngày nay vẫn còn phát huy được tác dụng cực kỳ lớn, tưới tắm cho mấy trăm vạn mẫu ruộng tốt, khiến cho bình nguyên Thành Đô trở thành vựa thóc nổi tiếng của Trung Quốc. Cha con Lý Bằng đã lãnh đạo nhân dân xây dựng Bờ đập Đô Giang như thế nào?
Đó là sự việc của hơn 2200 năm về trước. Khi đó Thục quận thường xuyên bị nạn lụt lớn, khiến cho cả một vùng đất rộng lớn hoang vu, nhiều người lưu lạc mất chỗ ở, sống cuộc sống rất bi thảm.
Vốn dĩ vùng đất Thành Đô, huyện Quán của Thục Quân là một bình nguyên lớn. Xung quanh bình nguyên đều là những đỉnh núi cao, con sông Mân bắt nguồn từ trên đỉnh núi Mân ở phía Tây Bắc Thục Quận quanh năm đóng băng. Vùng thượng du Mân giang này có độ dốc lớn, thế nước rất mạnh chảy thẳng xuống hung hăng như con ngựa rừng mất cương. Tới gần huyện quán thế đất đột nhiên bằng phẳng, dòng chảy biến thành chậm. Bùn cát, đá sỏi từ trên núi đổ xuóng lắng đọng lại, năm qua tháng lại, lòng sông càng ngày càng cao. Hễ cứ tới mùa hạ, tuyết trên núi tan ra, nước sông dâng cao, con sông không chứa nổi nước tràn lên bờ, ngập mênh mông thành tai họa. Nhân dân sống ở vùng đó đã nếm phải đủ thứ khổ sở của sông Mân, họ đã từng tiến hành những cuộc đấu tranh chinh phục con sông, ngăn chặn nước lụt. Thế nhưng, do Mân giang nước lớn, sống gấp, cuối cùng chẳng có biện pháp trị thủy nào có hiệu quả.
Tần Chiêu Tương Vương lên ngôi không lâu, biết Lý Bằng có kinh nghiệm trị thủy, liền cử ông tới Quận Thục đảm nhận chức Quận Thú, là trưởng quan hành chính cấp cao nhất ở địa phương.
Lý Bằng vừa tới nhận chức đã tích cực tìm hiểu tình hình nước và lòng dân. Ông cùng con trai là nhà Nhị Lang, mời mấy người nông dân có kinh nghiệm, cùng đi khảo sát ở ven bờ Mân giang, lắng nghe ý kiến của dân chúng, điều tra địa hình, nghiên cứu các biện pháp trị thủy sông Mân.
Họ tới ngoại thành huyện Quán, nhìn thấy một ngọn núi cao chới với thẳng đứng ở bờ Đông sông Mân, chặn mất lối đi của sông Mân. Theo lời dân bản địa thì đó là núi Ngọc Lũy. Do vì nước sông bị núi chặn đứng, không chảy được sang phía Đông, khi nước to thường thường là phía Tây bị lụt, phía Đông lại bị hạn. Một lão nông kiến nghị với Lý Bằng, nói:
- Nếu đào một cửa của Ngọc Lũy, dẫn được nước lụt chảy sang phía Đông, thì nước lụt ở phía Tây sẽ nhỏ đi, phía Đông lại có thể dẫn nước tưới cho ruộng, đó chẳng phải là một công đôi việc hay sao?
Lý Bằng dẫn mọi người quan sát tỉ mỉ địa hình, cho rằng kiến nghị này rất hay, liền quyết định đào núi Ngọc Lũy, phân chia nước lụt, giảm bớt tai họa, dẫn nước về tưới cho đồng ruộng.
Kế hoạch này của Lý Bằng được mọi người tán đồng. Tức thì một cuộc chiến đấu đào núi khí thế rầm rộ bắt đầu. Sau khi khởi công, một khối lượng lớn nông dân và thợ thủ công, người đào đá, người gánh đá, làm việc rất sôi nổi nhiệt tình. Dù lúc đó đã có đồ sắt, việc đào đá vẫn hoàn toàn dựa vào sức mạnh, đào suốt cả ngày mà chẳng được bao nhiêu, công bị bị tổn hại rất nhiều. Có người nêu ra một mẹo: Trước hết đục một đường rãnh ở trên đá, sau đó chất đầy cỏ khô ở trong rãnh và kẽ đá, bên trên chất đầy cành cây, củi khô rồi đốt lửa. Đá bị nóng sẽ nứt ra, sau đó mới đục thì sẽ đỡ tốn sức. Lý Bằng cho mọi người làm theo như vậy, quả nhiên tiến độ của công trình đã tăng nhanh, cuối cùng đã đào được một lỗ hổng qua núi, chẳng ngờ lỗ nhỏ dòng chảy nước chảy không được là bao. Cha con Lý Bằng lại dẫn đầu quần chúng, đào rộng lỗ hổng. Khi mùa lụt tới, mọi người đều chạy cả lên bờ sông xem nước có chảy qua đường sông mới đào không. Khi nhìn dòng nước ào ào qua lỗ hổng, tưới tắm cho đồng ruộng bị khô nứt nẻ, khỏi cần phải nói tới họ sung sướng tới mức nào. Bởi vì lỗ hổng mới đào qua núi Ngọc Lũy giống như một cái miệng bình, mà mọi người cứ gọi là “Miệng bình quý”(1). Đoạn núi đục qua này đặt tên là “Ly Đôi”. Nhân dân còn gọi đoạn đoạn sông Mẫn cũ là “Ngoại giang”, dòng chảy của chi lưu mới gọi là “Nội Giang”.
Đối với vấn đề đào “Miệng bình quý”, gần đây có người khảo chứng, chính là trước Lý Bằng khoảng 30 đến 100 năm, một vị vua nước Thục cổ đại chủ trì việc đào đó rồi. Mặc dù vậy, việc cha con Lý Bằng mở rộng “Miệng bình quý” khơi thông lại Nội giang cũng vẫn là những công tích không thể phai mờ.
Sau khi tu dựng lại công trình “Miệng bình quý”, Lý bằng phát hiện, lượng nước của Nội giang không lớn, không thể thỏa mãn được nhu cầu tưới tắm. Làm thế nào để cho Ngoại giang phân được nhiều nước qua đây? Cha con Lý Bằng lại tới quan sát vùng thượng du Bảo Bình khẩu, rồi cùng bà con bàn bạc, cuối cùng đã tìm được biện pháp mới. Biện pháp là ở thượng du Mân giang cách Bảo Bình khẩu không xa, ở giữa dòng sông xây dựng một con đê phân nước, bắt nước sông phân thành hai đoạn. Như vậy là càng có thêm nhiều nước có thể chảy cuồn cuộn xây dựng lên một con đê phân nước, đâu phải là một việc dễ dàng. Lúc đầu, người ta đã lợi dụng thời cơ nước ít, dùng những nguyên liệu đá trứng ngỗng hiện có ở vùng xây một con đê ở giữa sông, chẳng ngờ được mấy hôm nước sông đã xoáy đổ mất. Trải qua kinh nghiệm nhiều lần, không ngừng cải tiến, cuối cùng đã dựng được một con đê lớn tương đối vững chãi. Thế nhưng, chỉ một lần lũ quét từ trên núi đổ xuống đã xóa bình địa dấu vết. Về sau phải dùng những tảng đá lớn, dựng thử lại mà vẫn không được. Không biết người ta đã phải thực nghiệm biết bao nhiêu lần, mà lần nào cũng bị thất bại. Biết làm sao đây? Vì việc này, Lý Bằng rất sầu khổ, ngày ngày vắt óc tìm biện pháp.
Một hôm, cha con Lý Bằng lại tới Thượng du Mân giang quang sát tình hình nước. Thấy một tốp phụ nữ đang giặt ở ven sông, quần áo thì ngâm trong các sọt tre đặt dưới nước, nước lại chảy rất mạnh thế mà sọt tre cũng không bị cuốn đi, Lý Bằng thoắt động, nghĩ ngay ra việc bỏ đá trứng ngỗng đặt vào sọt tre cho chìm xuống đáy sông, chắc chắn là nước cũng không thể xoáy đi được! Ông bèn đem biện pháp này ra bàn, mọi người đều cho rằng biện pháp này nhất định là có hiệu nghiệm, hơn nữa lại dễ làm, vì ở vùng này khắp nơi đều có tre, đá trứng ngỗng cũng sẵn. Nói làm là làm ngay, Lý Bằng cho Nhị Lang dẫn bà con lên núi chặt che, bản thân mình triệu rất nhiều thợ đến đan sọt. Chẳng bao lâu, một khối lượng lớn sọt trúc đã được đan xong, Lý Bằng cho đổ đầy đá trứng ngỗng vào sọt, chuẩn bị làm thí nghiệm trước. Hôm làm thử nghiệm, cha con Lý Bằng đến rất sớm, bà con nông dân ở xung quanh cũng tới rất đông. Đầu tiên là thử nghiệm ở chỗ nước nông, thấy thành công, họ di chuyển tiếp những sọt tre đến chỗ nước sâu, sóng lớn. Không được rồi, những chiếc sọt tre đều bị sóng xoáy chòng chành, có lẽ là sọt tre quá nhỏ. Lý Bằng lại cho đan những chiếc sọt tre lớn hơn, dài hơn, dài tới ba trượng, to tới ba bốn thước, chất đầy đá trứng ngỗng và sau khi đặt vào giữa dòng sông chảy xiết, không bị nước xoáy đi nữa. Lý Bằng và mọi người, ai nấy đều hết sức vui mừng.
Sau cuộc thí nghiệm thành công, cha con Lý Bằng bắt đầu sắp đặt việc thi công. Họ tổ chức quần chúng lại, người chặt tre, người đan sọt, kẻ đi kiếm đá. Vô số những sọt tre lớn đựng đầy đá trứng ngỗng được chất bên bờ sông. Công trình xây đê, phân nước bắt đầu được thi công. Từng sọt tre to đầy đá trứng ngỗng lần lượt bị đánh chìm xuống đáy sông, càng tích càng nhiều, càng xây càng cao, hệt như hai con đê kiên cố, sừng sững ở giữa dòng sông, tạo thành một đảo nhỏ hẹp và dài. Đứng từ đằng xa và ngắm thì giống hệt như một con cá lớn, đầu cá hướng về dòng chảy mạnh của sông Mân, rẽ sống mà lên, phân sông Mân thành hai dòng nước, cho nên mọi người đã gọi nó là “Phân thủy ngư chủy” (miệng cá phân nước). Sau khi xây dựng xong đê ngăn nước, lượng nước của Nội giang càng lớn hơn, có thể tưới tắm đồng ruộng được nhiều hơn, một năm bốn mùa cũng không ngừng chảy. Để đảm bảo cho lượng nước của Nội Giang khi dâng lên trong mùa hạ mà không quá tải, cha con Lý Bằng lại dẫn đầu mọi người xây dựng một con đập Cát Bay (Phi Sa Yển) ở giữa Phân Thủy Ngư và Lý Đôi. Toàn bộ thân đập là sọt tre và đá xếp mà thành, đỉnh đập thấp hơn bờ đê, như vậy khi nước của Nội Giang quá lớn sẽ có thể tự động tràn qua đỉnh mặt đập, chảy vào trong Ngoại Giang, sẽ không gây tai hại. Từ đó về sau, sông Mân đã bị chế phục, nhân dân lao động ở hai bên bờ có thể sản xuất thuận lợi. Lý Bằng liền đặt tên cho con đê này là Đô An Yển. Về sau đổi tên là Đô Giang Yển (Đập Đô Giang).
Sau khi Đô Giang Yển hoàn tất, nhân dân lao động đời này qua đời khác còn không ngừng cải tiến, khiến cho quy mô của công trình càng thêm hùng vĩ và hoàn thiện, phục vụ sản xuất nông nghiệp càng hữu hiệu hơn. Hơn 2000 năm trở lại đây mấy trăm vạn mẫu ruộng tươi tốt đã được tưới tắm, đưa lại phúc không nhỏ cho muôn dân.
Xung quanh việc Lý Bằng trị thủy sông Mân, các sách sử ghi chép rất giản lược, thế nhưng dân gian thì lưu truyền không biết bao nhiêu chuyện. Vào những năm 70 ở dưới đáy sông cạnh Đô Giang Yển người đời sau lần lượt đào được hai bức tượng đá còn khắc ba hàng chữ. Từ hàng chữ khác người ta biết được tượng đá được khắc vào năm Đông Hán Linh Đế Kiến Ninh nguyên niên (năm 168 trước Công Nguyên), trong đó bức tượng đá lớn được khẳng định là Tượng Lý Bằng, bức tượng nhỏ là một người vô danh. Có nhiều người suy đoán, bức tượng đá nhỏ phải là thị tùng (hầu) của Lý Bằng, hơn thế phải có hai. Thời cổ gọi là quan thị tùng (quan hầu) là Lang, cho nên “Nhị Lang” thực ra không phải là con trai của Lý Bằng mà phải là hai quan hầu của Lý Bằng, tức là hai người giúp việc đã giúp Lý Bằng chủ trì xây dựng Đập Đô Giang. Có điều là trong câu chuyện này, chúng ta vẫn sử dụng cách nói được lưu truyền qua các thời đại - Đô Giang Yển là do Lý Bằng và con trai của ông là Nhị Lang lãnh đạo nhân dân địa phương xây dựng lên. Nhân dân tưởng nhớ các ông, cảm tạ các ông; ở bờ đông Nội giang cận kề Phân Thủy Ngư Chủy đã xây dựng lên “Nhị Vương Miếu”, đã đúc tượng mãi mãi kỷ niệm cha con ông Lý Bằng, những người đã lập nên công tích bất hủ vì nhân dân. Cho tới nay ngôi miếu này vẫn còn được lưu giữ.