Về sau, Triệu Vũ Linh Vương nhường ngôi vua cho con trai là Huệ Văn Vương. Huệ Văn Vương giao cho em trai mình là Triệu Thắng làm tướng quốc, phong làm Bình Nguyên Quân.
Bình Nguyên Quân thích kết giao và thu thập nuôi dưỡng các chủng, các loại người có những tài năng nhất định để làm “môn khách”, xuất mưu, vạch kế, hòa giải các xích mích, đồng thời mượn việc làm này để đề cao thanh danh, duy trì và củng cố địa vị của mình. Cách làm như thế này trở thành trào lưu một thời. Mạnh Thường Quân của nước Tề, Tín Lăng Quân của nước Ngụy, Xuân Thân Quân của nước Sở, cũng giống như Bình Nguyên Quân, các môn khách đều có tới trên ba nghìn người cả, người ta gọi họ là “Tứ quân tử”. Thanh danh của họ rất lớn, ngay cả đến nhà vua của nước đó cũng không thể không nhượng bộ vài phần. Còn các “môn khách” ỷ dựa vào họ kia, do được chủ chiếu cố, nên rất hăng hái hiến dâng tài trí của mình, tận tâm cống hiến hết mình phục vụ chủ. Đến đây, xin được kể một chuyện về Mạnh Thường Quân của nước Tề.
Mạnh Thường Quân họ Điền, tên Văn, là con trai của Điền Anh. Trong chiến dịch Mã Lăng do Tôn Tẫn chỉ huy, Điền Anh đảm nhận chức phó tướng, sau đó lại làm Tướng Quốc 11 năm. Để đáp tạ công tích của Điền Anh, Tề Mân Vương đã đem Thành Tiết thưởng cho ông làm đất phong, xưng hiệu là Trịnh Quách Quân. Điền Anh liều lĩnh bóc lột xương máu và mồ hôi của nhân dân lao động, vơ vét được một khối lượng lớn của cải giàu có, vàng bạc châu báu ở trong nhà nhiều không biết bao nhiêu tân khách. Điền Văn khuyên cha:
- Đất đai nước Tề không được mở rộng, gia tư của chúng ta lại chẳng ngừng tăng thêm. Điều này sẽ dẫn tới sự đố kỵ của người khác, vạn nhất có xảy ra chuyện gì, đến một người giúp việc cũng chẳng có, thật là nguy hiểm!
Điền Anh nghe thấy con trai nói có lý, liền sai con chủ trì công việc đón tiếp các môn khách. Sau khi Điền Anh qua đời, Điền Văn kế thừa tước vị và đất phong của cha, hiệu xưng là Mạnh Thường Quân.
Mạnh Thường Quân hiểu rằng, việc thu nhận và nuôi dưỡng một số lượng lớn môn khách, việc được nhiều người ủng hộ và giúp đỡ là vô cùng cần thiết đối với việc dành uy tín và củng cố địa vị. Tức thì ông đi khắp nơi thu thập nhân tài, bất luận là giàu hay nghèo, chỉ cần có một kỹ xảo nổi bật, cũng được ông đối đãi như khách quý. Như vậy là danh tiếng ái mộ người hiền tài của ông đã dần dần lan truyền đi các nơi. Một số kẻ sĩ hào kiệt của các nước khác, thậm chí một số phạm nhân đã chạy trốn cũng tìm về với ông, làm việc cho ông, coi ông là người bạn tri kỷ.
Một hôm, có một người tên gọi là Phùng Hoan về với ông. Mạnh Thường Quân nhìn thấy kiểu cách ăn mặc của ông ta: trên thân quần áo rách rưới, chân đi hài cỏ, ngang lưng đeo một thanh kiếm, thậm chí không có bao, biết ngay là một người cùng khổ, liền hỏi:
- Tiên sinh tìm tôi có điều gì dạy bảo chăng?
Phùng Hoan nói:
- Tôi nghèo tới mức không sống nổi, phải lần tới chỗ ngài để kiếm miếng cơm.
- Tiên sinh có tài nghệ gì không?
- Chẳng có tài nghệ gì cả.
Mạnh Thường Quân cười vang rồi nói:
- Vậy thì tiên sinh cứ ở lại đây.
Người giúp việc Mạnh Thường Quân thấy Phùng Hoan nghèo như vậy, lại chẳng có tài năng gì, có ý xem thường, sắp đặt cho ở trong nhà loại hạ đẳng, ngày ngày cho ăn uống sơ sài. Chưa được mấy ngày, Mạnh Thường Quân hỏi:
- Người khách Phùng Hoan đó làm gì?
Trả lời:
- Ông ta ấy à, suốt ngày uốn kiếm; vừa uốn kiếm vừa hát: Kiếm à, chúng mình về thôi, ở đây ăn cơm chẳng có cá tôm.
Mạnh Thường Quân cảm thấy lời nói này mà lọt ra ngoài, thì sẽ chẳng còn mặt mũi nào, liền sai người đưa Phùng Hoan dọn lên ở nhà loại trung đẳng, cho ông ta ăn cơm có tôm, có cá.
Chưa được mấy ngày, Phùng Hoan lại hát:
- Kiếm à, chúng mình về thôi, ở đây ra ngoài chẳng có xe đi.
Có người đem lời này báo cho Mạnh Thường Quân, Mạnh Thường Quân sai cấp cho ông ta một chiếc xe ngựa. Ai ngờ chưa được bao lâu, lại có người tới phản ánh: Phùng Hoan vẫn suốt ngày ca hát, nào là “Kiếm ơi, chúng mình đi thôi, chẳng có tiền không thể nuôi sống được gia đình”.
Mạnh Thường Quân rất bực bội, nghĩ thầm, thằng khố rách áo ôm này sao không tỏ ra biết điều một chút nhỉ? Tuy nhiên, để lung lạc được nhiều người hơn, ông vẫn sai thường xuyên đưa tiền chi dùng tới cho mẹ già của Phùng Hoan. Tới lúc đó Phùng Hoan mới không uốn kiếm, không ca hát nữa.
Một năm sau, Mạnh Thường Quân đã làm đến chức tướng quốc của nước Tề, danh tiếng ngày càng lớn. Lúc này môn khách của ông có tới ba ngàn. Nuôi một số người đông như vậy, phải tốn kém rất nhiều tiền của! Mặc dù ông thu thập không ít, nhưng lực bất tòng tâm. Ông nghĩ tới còn có một khoản tiền lớn cho vay nặng lãi ở Thành Tiết, mấy năm rồi chưa nhòm ngó đến, bèn quyết định cử người tới thu cả về. Thu nợ là một việc vất vả, chẳng mấy dễ dàng, phải am hiểu hệ thống nghiệp vụ kế toán nữa. Việc các môn khách chẳng ai muốn đi, thực sự đã gây khó khăn cho Mạnh Thường Quân. Có người tiến cử Phùng Hoan, nói:
- Con người này thân hình cao lớn, lại có tài ứng đối, khả năng khác có thể là không có, chứ việc đòi nợ có lẽ cũng giỏi đó.
Mạnh Thường Quân liền mời Phùng Hoan tới, nói:
- Tôi thường ngày quá bận rộn, không quan tâm được đầy đủ tới tiên sinh. Mong tiên sinh thứ lỗi. Bây giờ xin mời tiên sinh tới Thành Tiết một chuyến để thu nợ giúp tôi, không biết tiên sinh có bằng lòng không?
Phùng Hoan trả lời rất thoải mái”
- Được, tôi đi!
Tức thì chuẩn bị xe ngựa, thu xếp hành lý, đem theo văn tự vay nợ, rồi xuất phát. Lúc sắp đi, Phùng Hoan hỏi Mạnh Thường Quân:
- Thu nợ xong, ngài có cần mua thứ gì đem về không?
Mạnh Thường Quân nói:
- Tiên sinh xem nhà tôi thiếu thứ gì thì mua thứ ấy.
Khi Phùng Hoan tới Thành Tiết, số người có máu mặt đã lo trả hết tiền lãi, các con nợ không trả nổi thì bùng biệt tăm. Phùng Hoan dùng số tiền thu được mua mấy con bò mộng và mấy chục chum rượu ngon, dọn mấy chục mâm cỗ, mời tất cả các chủ nợ tới uống rượu, rồi thông báo cho họ biết, bất kể là người trả được hay không trả được đều phải đến, không trả được cũng chẳng sao, cứ tới đây đối chiếu để khớp lại văn tự vay nợ. Ngày tập hợp đó, các chủ nợ đều đã đến, Phùng Hoan nhiệt thành khoản đãi họ. Tàn tiệc, Phùng Hoan cùng các chủ nợ khớp lại từng tờ văn tự, làm rõ hiện trạng. Phàm khi đó, những ai có khả năng trả lãi, thì thu lại: nhất thời chưa có tiền thì hẹn rõ kỳ hạn hoàn trả; Những người nghèo tới mức thực sự không thể trả được nợ, thì dứt khoát thu lại văn tự vay nợ cho đốt ngay tức khắc trước mặt mọi người. Các chủ nợ thật sự kinh ngạc vừa vui mừng vừa không hiểu. Lúc đó, Phùng Hoan đứng dậy, nói:
- Khi Mạnh Thường Quân của chúng ta cho bà con vay tiền là đã hiểu bà con không có vốn để trống cấy và buôn bán, khó có thể sống qua ngày được. Thực tâm ngài không muốn thu tiền lãi đâu, thế nhưng dưới tay ngài đang có một số đông môn khách phải nuôi dưỡng, cho nên đã sai tôi tới đây thu tiền lãi. Đến này văn tự đều đã khớp lại rồi, người có thể trả được đều đã trả xong; người tạm thời chưa có tiền đều đã ước định kỳ hạn hoàn trả, xin phải hoàn trả cho đúng kỳ hạn; những người thực sự không trả nổi tiền lãi, Mạnh Thường Quân nói ngài sẽ biếu họ luôn cả vốn. Cho nên tôi đã đốt hết văn tự vay nợ của số người này rồi. Đây đều là ân nghĩa của Mạnh Thường Quân, xin mọi người chớ quên!
Những lời nói này làm cho mọi người hoan hô ầm ỹ, bội phần cảm kích ân đức của Mạnh Thường Quân.
Mạnh Thường Quân nghe tin Phùng Hoan đã đốt hết văn tự vay nợ, không kìm nổi bực tức bốc cao ba trượng, lập tức sai người gọi Phùng Hoan tới, trách mắng:
- Khá lắm! Ta sai ông đi thu tiền lãi, ông đã mổ bò, mua rượu, làm cỗ tiệc bừa bãi, còn đốt hết cả văn tự vay nợ. Ông muốn dở trò gì vậy?
Phùng Hoan không sợ sệt, không hốt hoảng vội vã, nói:
- Công tử đừng nổi nóng! Xin nghĩ kỹ thử coi, không bày tiệc rượu thì sao có thể gọi được tất cả các con nợ đến? Các con nợ không đến thì làm sao biết được ai trả được tiền lãi, ai không trả được? Hiện tại, những người có thể trả được đã định rõ kỳ hạn, tới kỳ nhất định họ sẽ giao trả đủ. Những người đã không trả nổi, cho dù có để qua tám năm, mười năm, họ vẫn không thể trả được. Bức bách quá, họ sẽ phải trốn đi nơi khác, hỏi rằng số văn tự đó có ích gì nữa? Nếu công tử cứng nhắc bức họ, được tiền không nhiều mà lại mang tiếng không tốt, liệu có nên chăng? Tôi đã đem đốt những tờ văn tự vô dụng này, dân chúng Thành Tiết chịu ơn đại đức của ngài, đâu đâu cũng tụng ca danh thơm của ngài, đây chẳng phải là một việc quá tốt đẹp hay sao? Khi tôi sắp đi, công tử còn dặn dò tôi lựa chọn xem trong nhà ngài còn thiếu thứ gì thì mua thứ ấy về. Tôi nghĩ rằng trong nhà ngài vàng bạc châu báu, sơn hào hải vị, chẳng thiếu thứ gì cả, duy chỉ thiếu cái tình cái nghĩa đối với những người nghèo khổ. Cho nên tôi đã mua cái tình cái nghĩa về cho ngài đó!
Mạnh Thường Quân đành câm miệng như ăn hoàng liên, có đắng mà không thể nó ra được, đành phải nói:
- Thôi được, thôi được, tiên sinh về nghỉ đi!
Từ đó, đối với Phùng Hoan rất lạnh nhạt.
Về sau, Tề Mân Vương đã nghe và tin theo những lời rêu rao mà hai nước Tần - Sở bịa đặt ra, sợ Mạnh Thường Quân công thần lấn chúa, tạo thành sự uy hiếp đối với mình, bèn cách chức tướng quốc của ông. Số môn khách đó vừa thấy chủ thất thế, tấp nập bỏ đi, chỉ có Phùng Hoan vẫn một lòng một dạ theo ông. Mạnh Thường Quân buồn bã ủ rũ trở về đất phong là Thành Tiết sống những ngày nhàn nhã. Mạnh Thường Quân chưa kịp bước vào thành, từ xa đã thấy dân chúng già, trẻ dìu dắt nhau đứng chật hai bên đường nghênh đón ông, khiến ông cảm động rơi nước mắt, nói với Phùng Hoan:
- Tình nghĩa mà tiên sinh mua cho tôi, hôm nay tôi tạm gọi là đã đích thân nhận được.
Phùng Hoan nói:
- Con thỏ khôn ngoan cần phải dào ba cái hang mới bảo đảm được sự an toàn cho mình. Hiện tại, ngài chỉ có một địa phương an toàn là Thành Tiết, thì sao đủ được. Tôi sẽ tìm cho ngài hai nơi an thân nữa. Một chỗ ở Hàm Dương nước Tần, một chỗ tại đô thành Lâm Trung ở nước Tề chúng ta.
Phùng Hoan nói rõ dự định cho Mạnh Thường Quân nghe. Mạnh Thường Quân rất đồng ý, ban cho ông ta rất nhiều xe ngựa và vàng bạc làm tiền chi phí. Phùng Hoan liền đi tới nước Tần.
Lúc này, tướng quốc nước Tần qua đời, chiếc ghế còn bỏ trống. Tần Chiêu Tương vương từ trước vẫn rất bái phục Mạnh Thường Quân, ban đầu muốn mời ông làm tướng quốc, sau đó gieo tin đồn bậy làm tổn thương Mạnh Thường Quân, cốt bức ông phải tới đây với mình. Phùng Hoan liền lợi dụng điểm này tới du thuyết Tần Chiêu Vương. Vừa gặp Tần Chiêu Vương, Phùng Hoan đã nói:
- Đại vương đã biết chuyện Tề vương cách chức Mạnh Thường Quân chưa?
Vua Tần nói:
- Nghe rồi!
Phùng Hoan nói:
- Sở dĩ nước Tề có thể cai trị xây dựng được lớn mạnh như vậy, hoàn toàn là do công lao của Mạnh Thường Quân. Nay, Tề Vương đã đối xử với ông ta như vậy, làm sao ông ta lại không oán hận được? Mọi tình hình như nhân sự, điều cơ mật... của nước Tề, Mạnh Thường Quân đều nắm rõ ràng, nếu để cho ông ta đến với nước Tần, thì đại vương có thể chiếm được nước Tề, xưng hùng trong thiên hạ. Đây quả là một cơ hội tốt, ngàn năm khó gặp. Mong đại vương hãy nhanh chóng hạ thủ, nếu không, Tề Vương suy nghĩ lại sẽ tái bổ nhiệm Mạnh Thường Quân, nước Tề sẽ có cơ so tài cao thấp với đại vương đó.
Vua Tần rất vui mừng, lập tức sai sứ giả đem lễ hậu một nghìn cân vàng và một trăm xe hoa, tới mời Mạnh Thường Quân.
Lúc này, Phùng Hoan lại vội vã đi tắt đường tới đô thành Lâm Trung của nước Tề, cầu kiến Tề Mân Vương, thở hổn hển nói:
- Đại vương có nghe tin nước Tần sắp sửa đón Mạnh Thường Quân tới làm tướng quốc không?
Vua Tề nói:
- Chưa nghe thấy, thật vậy à?
Phùng Hoan nói:
- Chính mắt thần đã thấy nước Tần phái một trăm chiếc xe hoa, đem theo một nghìn cân vàng đi về phía chúng ta đây. Mạnh Thường Quân không đi thì còn tốt, nếu thực sự ông ta lên làm tướng quốc nước Tần thì chẳng phải là nước Tề ta sẽ hết hay sao? Đại vương nên tái bổ nhiệm ngay ông ta làm tướng quốc, rồi phong thêm nhiều đất đai nữa. Ông ta là lão thần của nước Tề, không thể không bằng lòng được. Tới lúc đó, nước Tần tuy lớn mạnh, cũng không thể lôi kéo được tướng quốc của người ta, có phải không?
Tề Vương bán tín bán nghi, sai người đi quan sát sứ thần của nước Tần có phải đã đến thật không, khi biết đã vào trong biên giới rồi thì rụng rời chân tay, vội sai người đón Mạnh Thường Quân tới, mời ông ta trở lại làm tướng quốc kèm theo bổng lộc một vạn hộ. Sứ giả của nước Tần vừa đặt chân tới Thành Tiết thì bị hẫng hụt vì biết Mạnh Thường Quân đã được mời trở lại làm tướng quốc nước Tề, ông ta đành bất lực, tay không trở lại nước.
Số môn khách đã bỏ đi hết kia biết tin Mạnh Thường Quân đã trở lại làm tướng quốc, liền về theo ông. Mạnh Thường Quân nổi giận, nói với Phùng Hoan:
- Khi ta thất thế, họ không thèm giúp đỡ ta, đều bỏ đi hết. May mà được tiên sinh dốc lòng bôn tẩu, ta mới được trở lại làm tướng quốc. Họ còn mặt mũi nào đến gặp ta nữa? Nếu có ai gặp ta, ta sẽ nhổ vào mặt, rồi chửi cho tới số.
Phùng Hoan nói:
- Xin công tử bất tài phải làm như vậy. Bây giờ ngài làm tướng quốc rất cần có sự giúp đỡ của mọi người, không thể vì bực bội mà đuổi hết khách đi được, như vậy thì còn ai hợp tác với ngài nữa? Chi bằng cứ nhiệt tình chiêu đãi họ như trước, ngài càng tỏ ra chỉ là người độ lượng lớn lao.
Mạnh Thường Quân nói:
- Lời nói của tiên sinh, ta đâu dám bỏ ngoài tai?
Do được sự giúp đỡ của rất nhiều môn khách, Mạnh Thường Quân lại vững vàng ổn định trên ghế tướng quốc thêm nhiều năm nữa.
Câu chuyện Phùng Hoan đốt văn tự vay nợ nói rằng, ở thời kỳ Chiến Quốc đã có chuyện việc cho vay nặng lãi. Lúc đó, thương nghiệp đã phát triển mạnh, đồng tiền được sử dụng rộng rãi trong việc mua bán hàng hóa. Một số bình dân cùng khổ, đặc biệt là nông dân, vì đã chịu sự bóc lột tàn khóc của giai cấp thống trị, nên không thể vay nợ để sinh sống, còn số địa chủ, quý tộc và đại thương nhân đã lợi dụng tình cảnh cho vay nặng lãi, mưu lợi. Sự giàu nghèo ở trong xã hội càng thêm chênh lệch. Phùng Hoan sử dụng biện pháp đốt văn tự vay nợ giúp Mạnh Thường Quân mua chuộc lòng dân, mặc dù có thể nhất thời mê hoặc được một số người, ở một số địa phương cục bộ tạm thời đã hòa hoãn được một số mâu thuẫn giai cấp. Nhưng vấn đề căn bản của xã hội là sự bóc lột giai cấp thì không trừ bỏ được.