Tấn Văn Công cai trị nước giỏi, lại muốn bành trướng thế lực sang khu vực Trung Nguyên, tranh bá với các nước chư hầu. Lúc này, nước Tề đã không còn như trước nữa, nước Sở ở phương Nam đã lớn mạnh lên. Sở Thành Vương đã nhanh chóng đem đất đai phía nam Hoàng Hà ở Trung Nguyên phiên chế vào phạm vi thế lực của mình, ngoài ra còn không ngừng phát triển lên phía Bắc. Như vậy là hai nước Tấn, Sở đã phát sinh xung đột rất gay gắt.
Năm 18 Chu Tương Vương (năm 634, trước Công nguyên), nước Sở mượn cớ là nước Tống đã đi theo nước Tấn, dấy binh đánh Tống. Tống Thành Công (con trai Tống Tương Công) sai Công Tôn Cố tới nước Tấn xin quân cứu viện. Tấn Văn Công lập tức triệu tập quần thần để thương nghị. Đại tướng Tiên Chẩn nói:
- Hiện tại chỉ có nước Sở là lớn mạnh nhất, nếu chúa công muốn xác lập uy tín, xây đắp nghiệp bá của nước Tấn, không thể không đánh bại nước Sở.
Hồ Yển bằng lòng với ý kiến của Tiên Chẩn, còn đề xuất việc di chuyển binh lực của nước Sở và nêu ra biện pháp cụ thể để giải vây cho nước Tống. Ông nói:
- Cách đây không lâu, nước Sở mới lôi kéo nước Tào về phía mình, gần đây lại kết thân gia với nước Vệ. Mối quan hệ giữa ba nước đúng là lúc tốt đẹp nhất. Tào và Vệ lại là thù địch của chúng ta. Nếu chúng ta xuất quân tiến đánh hai nước này, nước Sở nhất định phải tới cứu, như vậy nước Tống đã được giải vây. Mối thù của chúng ta đã trả được. Như vậy chẳng phải là nhất cử, lưỡng đắc đó sao?
Tấn Văn Công cho rằng những lời họ nói đều rất có lý, liền bằng lòng với yêu cầu của Công Tôn Cố, rồi quyết định xuất quân đánh nước Tào và nước Vệ.
Trước Khi xuất quân, Tấn Văn Công cho chỉnh đốn lại quân đội. Nước Tấn vốn chỉ có hai quân Thượng, Hạ; để tăng cường sức chiến đấu, Tấn Văn Công đem hai quân bổ sung, mở rộng thành ba quân Thượng, Trung, Hạ. Tiếp đó, tuyển chọn đề bạt Trung quân nguyên soái, bổ nhiệm tướng lĩnh, chánh, phó của hai quân Thượng, Hạ. Lực lượng quân sự của nước Tấn đã được tăng cường mạnh mẽ.
Tháng giêng năm 20 Chu Tương Vương (năm 632, trước Công nguyên), nước Tấn xuất quân trừng phạt nước Tào. Phía nam của nước Tấn là nước Vệ, phía nam của nước Vệ mới là nước Tào. Nước Tấn muốn đánh nước Tào thì phải đi qua nước Vệ. Nước Tấn hỏi mượn nước Vệ, nước Vệ không bằng lòng. Nước Tấn vin cớ này, trước tiên tới đánh nước Vệ. Tiếp đó, quân Tấn thọc sâu đánh thẳng, chưa đầy mấy ngày đã đánh vào đô thành nước Tào, bắt sống được Tào Cộng Công. Để tranh thủ lòng dân nước Tào, sau khi Tấn Văn Công vào thành, công bố tội trạng, tránh hỏi Tào Cộng Công ngay trước mặt quần chúng. Hơn thế, để biểu thi sự tôn trọng đối với các bậc hiền tài, không quên ân cũ, Tấn Văn Công lại ra lệnh cho quân Tấn không được tiến vào khu nhà ở của quan đại phu nước Tào là Hy Phụ Ky, bảo đảm an toàn của gia tộc Hy Phụ Ky. Nguỵ Triều, Điên Hiệt không tuân mệnh lệnh, phóng lửa đốt cháy nhà ở của Hy Phụ Ky, Tấn Văn Công đã xử tử Điên Hiệt và cách thức Ngụy Triều. Những biện pháp này của Tấn Văn Công đã giành được sự ủng hộ của dân chúng nước Tào, đã nâng cao được mạnh mẽ uy tín của nước Tấn.
Nước Tấn đánh gục được nước Tào và nước Vệ, tuy uy tín đã có, song mục đích giải vây cho nước Tống lại không đạt được. Nước Sở vẫn vây chặt đô thành nước Tống. Tống Thành Công không còn cách nào đánh lại cử người đem lễ vật tới xin Tấn Văn Công viện trợ. Tấn Văn Công cảm thấy rất khó xử. Ông nói với Tiên Chẩn:
- Không cứu viện ư, tất nhiên nước Tống sẽ tuyệt giao với chúng ta, nếu đi cứu viện ư, lại phải đánh nhau một trận lớn với nước Sở! Chỉ dựa vào lực lượng của mình, e rằng hiện tại vẫn chưa thể đánh nổi nước Sở. Tốt nhất là phải liên hiệp với hai nước Tề Tần, nhưng hai nước Tề Tần lại chẳng có hận thù gì với nước Sở, làm sao họ có thể giúp đỡ ta được?
Tiên Chẩn nói:
- Điều này dễ thôi. Để cho phái viên nước Tống đem lễ vật tới hối lộ hai nước Tề Tần, nhờ hai nước này thay họ trình với nước Sở, thỉnh cầu nước Sở rút quân. Nếu nước Sở không đồng ý rút quân, hai nước Tề Tần sẽ oán hận nước Sở, lúc đó chúng ta sẽ liên hiệp với họ cùng đánh nước Sở, đảm bảo có thể chắc thắng.
Tấn Văn Công nói:
- Vạn nhất nước Sở đồng ý rút quân, nước Tề, nước Tần chẳng còn lý do gì để từ chối giúp đỡ chúng ta!
Tiên Chẩn nói:
- Chúa công khỏi lo. Nước Tào và nước Vệ là quốc gia bảo hộ cho nước Sở, nay đất đai của hai nước đều ở trong tay chúng ta, chúng ta lấy một phần đất đai của họ tặng cho nước Tống, khẳng định là nước Sở không cam tâm. Lúc đó, mặc dù cho hai nước Tề Tần nói tình như thế nào, e rằng nước Sở cũng sẽ không rút quân.
Tấn Văn Công luôn miệng khen hay, lập tức làm theo kế đó.
Một hôm, sứ giả của hai nước Tề Tần đang thay lời nước Tống nói với đại tướng nước Sở là Thành Đắc Trần, thì quan phòng thủ của hai nước Tào Vệ hốt hoảng chạy vào, kêu khóc kể lể với Thành Đắc Thần: nước Tống dựa vào thế lực của nước Tấn đã đuổi hết vua tôi của họ đi, chiếm hết đất đai của hai nước họ. Thành Đắc Thân vừa nghe, bỗng nhiên giận dữ, nói với sứ giả hai nước Tề Tần:
- Nước Tống đã ức hiếp các nước bảo hộ của chúng tôi, còn đâu ý tứ giảng hòa nữa?
Nói rồi phẩy tay áo, bỏ đi. Sứ giả hai nước cụt hứng, khó chịu rời khỏi đại bản doanh của quân Sở. Tấn Văn Công đã sớm cử người chờ sẵn ở trên đường, vừa gặp sứ thần hai nước liền mời họ tới đại bản doanh bày tiệc rượu khoản đãi, nói:
- Tướng lính nước Sở thật quá ngông cuồng, hai vị đã phải ngậm bồ hòn làm ngọt! Chúng tôi sẽ lập tức khai chiến với chúng, mong hai nước mau tay giúp đỡ!
Sứ thần hai nước đồng ý ngay.
Tấn Văn Công được sự giúp đỡ của nước Tề và nước Tần, ra sức củng cố lực lượng, cô lập nước Sở, giành thắng lợi trọng đại trên mặt ngoại giao, tích cực chuẩn bị khai chiến với quân Sở.
Sở Thành Vương biết tin ba nước Tấn, Tề, Tần đã thành đồng minh thì cảm thấy tình thế đã trở nên rất bất lợi, liền sai người tin cho Thành Đắc Thần lui quân; còn căn dặn:
- Tấn Hầu bôn ba ở bên ngoài suốt 19 năm dòng, nay đã hơn 60 tuổi, rất dày dạn kinh nghiệm, chúng ta đánh nhau với hắn, chưa chắc đã thắng được, hãy mau thu quân!
Thành Đắc Thần nhận mệnh lệnh trong tâm trạng không vui. Khi Trùng Nhĩ còn lánh nạn ở nước Sở, Thành Đắc Thần cho rằng Trùng Nhĩ coi trời bằng vung, nuôi dã tâm lớn, bây giờ Sở Thành Vương lại bắt Thành phải trốn tránh Trùng Nhĩ. Thành cam lòng sao được? Thành Đắc Thần liền nói với các tướng lĩnh dưới quyền:
- Lấy đô thành nước Tống chỉ là việc một sớm một chiều. Bây giờ phải rút quân, thật là đáng tiếc!
Sau đó, liền sai người trả lời Sở Thành Vương:
- Xin hãy để cho thần được ở lại đây vài hôm, chờ thần đánh bại nước Tống, rồi rút quân ngay. Nếu vấp phải quân Tấn thần sẽ quyết một trận sống chết với chúng, vạn nhất bị thua, thần tình nguyện chịu xử phạt theo quân pháp.
Sở Thành Vương thấy Thành Đắc Thần không phục tùng mệnh lệnh, rất không hài lòng. Có điều, Sở Thành Vương cũng không cam tâm để cho nước Tấn xưng bá Trung Nguyên, ngăn cản việc Bắc tiến của mình, cho nên đối với Thành Đắc Thần cũng không cấm đoán, chỉ dặn dò Thành cần phải chú ý thận trọng, chớ tùy tiện quyết chiến với quân Tấn.
Thành Đắc Thần không coi trọng lời nói của Sở Vương, trái lại còn gấp rút đánh vào thủ đô nước Tống. Quân dân nước Tống chiến đấu dũng cảm, kiên quyết trấn giữ, quân Sở không sao có thể đánh hạ nổi. Thành Đắc Thần thấy nước Tấn từng bước sáp tới gần, còn mình thì lại bị sa lầy ở nước Tống, không rút ra được, vừa bực tức lại vừa lo lắng. Thành nghĩ, thủ đô nước Tống mà còn không đánh nổi, làm sao có thể tranh hùng với nước Tấn được? Tức thì Thành Đắc Thần thay đổi sách lược, sai bộ tướng Uyển Xuân tới gặp Tấn Văn Công:
- Nếu ngài khôi phục lại nước Tấn và nước Vệ, chúng tôi cũng bằng lòng giải vây cho nước Tống...
Uyển Xuân còn chưa nói hết lời, Hồ Yển đã ra mặt chửi:
- Thành Đắc Thần tính toán như thần. Hắn rũ bỏ một nước Tống bất khả xâm phạm, lại đòi chúng ta cho hắn hai quốc gia đã bị diệt. Tuyệt làm sao!
Tiên Chẩn vờ không tán thành với ý kiến của Hồ Yển, quay lại nói với Uyển Xuân:
- Xin ngài cứ nghỉ ngơi trước đã, chúng tôi bàn lại, rồi sẽ trả lời Ngài sau.
Uyển Xuân vừa lùi ra, Hồ Yển liền hỏi:
- Phải chăng Ngài thực lòng muốn theo biện pháp của Uyển Xuân?
Tiên Chẩn nói:
- Biện pháp mà chúng nêu ra, vừa không thể nghe được, lại vừa không thể không nghe!
Hồ Yển nói:
- Lời nói này có nghĩa là sao?
Tiên Chẩn nói:
- Ngài không nhận ra ư? Đây là quỷ kế của Thành Đắc Thần! Nếu ta không bằng lòng thì ba nước Tấn, Vệ, Tống sẽ không yên ổn và đều hận chúng ta. Nếu ta bằng lòng, ba nước sẽ được yên ổn, công lao đó là của nước Sở, ba nước đều mang ơn nước Sở. Theo ý kiến của tôi, chi bằng chúng ta tương kế tựu kế, mật bàn kỹ với hai nước Tào và Vệ, nếu hai nước tuyệt giao với Sở, chúng ta bảo đảm sẽ khôi phục ngôi vua của họ. Như vậy là bài tính như ý của nước Sở sẽ là con số không. Sau đó chúng ta lại bắt giữ Uyển Xuân để kích thích nước Sở tức giận. Thành Đắc Thần thấy ta bắt giữ sữ thần của họ, nhất định sẽ quay lại đánh chúng ta, lúc đó vòng vây đối với nước Tống dĩ nhiên sẽ tự được phá bỏ.
Tấn Văn Công nghe xong, ngay lập tức cho bắt giam Uyển Xuân, quả nhiên Thành Đắc Thần đã đùng đùng nổi giận, quát chửi:
- Trùng Nhĩ là đồ thối tha, vừa mới lên ngôi đã vong ân bội nghĩa. “Lưỡng quốc tương tranh, bất tội lại sứ” là quy định của cổ nhân, sao lại giữ sứ thần của ta? Ta nhất định phải đích thân chất vấn hắn.
Vừa hay, lá thư tuyệt giao của hai nước Tào, Vệ đối với nước Sở cũng được đưa tới, Thành Đắc Thần quát hỏi:
- Hai lá thư này dứt khoát là do Trùng Nhĩ bắt họ phải viết. Lão già này ức hiếp người ta quá lắm, ngày hôm nay ta nhất định phải liều sống chết với hắn.
Nói rồi, hạ lệnh cho ba quân lớn nhỏ giải trừ trùng vây cho nước Tống, rồi kéo tới nơi đóng quân của quân Tấn. Một cuộc đại chiến đã xảy ra.
Lúc này, tình thế của hai nước Tấn, Sở đã có những biến đổi rất to lớn. Sở vốn là một nước mạnh, đất đai, quân đội và các nước phụ thuộc của Sở đều đã vượt xa nước Tấn. Lực lượng của nước Tấn tương đối yếu, lại tác chiến xa lãnh thổ của mình, nên tình thế rất bất lợi. Thế nhưng, kể từ khi Trịnh Văn Công thu nạp kiến nghị của các đại thần, trước hết ông cho chỉnh đốn quân ngũ, sau đó, đánh chiếm lại hai nước nhỏ Tào, Vệ ở gần nước Tấn, giành căn cứ địa để tiến lên, tiếp đó lại nhận được sự ủng hộ của hai nước Tề, Tấn, do vậy đã cải thiện được cảnh ngộ bất lợi của mình đồng thời giành được quyền chủ động trên mặt chiến lược.
Hai quân bày xong thế trận, đang sắp sửa khai chiến, Hồ Yển nói với Trịnh Văn Công:
- Năm xưa, khi Chúa công còn ở nước Sở, đã từng nói với vua Sở, vạn nhất hai nước giao chiến, nhất định quân Tấn sẽ lùi tránh ba xá. Chúa công, ngài không thể thất tín được!
Trịnh Văn Công bỗng sững người, các bộ tướng tả hữu đều nhất tề phản đối, họ nói:
- Nước Tấn chúng ta là vua một nước, lại phải lùi tránh trước mặt thần tử của nước Sở hay sao?
Hồ Yển nói:
- Thành Đắc Thần tuy điên cuồng, nhưng ân huệ của Sở Vương thì chúng ta không thể quên được. Lại nói, chúng ta lùi tránh là để biểu thị lòng biết ơn đối với Sở Vương, chứ đâu phải chúng ta sợ Thành Đắc Thần.
Các bộ tướng lại hỏi:
- Chúng ta rút lại, quân Sở đuổi theo thì làm thế nào?
Hồ Yển nói:
- Chúng ta rút lại, chúng vẫn còn cứ đuổi theo thì chúng đã thua ta về lý, tới lúc đó chúng ta lấy lý thắng khí mạnh, dũng mãnh phản kích, nhất định thắng được.
Mọi người đều cho rằng lời của Hồ Yển là có lý.
Vào tháng tư năm 20 Chu Tượng Vương (năm 632 trước Công nguyên) Trịnh Văn Công hạ lệnh rút lui 90 dặm. Quân Tấn lùi mãi tới Thành Bộc (địa phận nước Vệ, phía Nam huyện Bộc, tỉnh Sơn Đông ngày này) mới dừng lại. Lúc này binh mã của nước Tề, nước Tần, nước Tống cũng lần lượt kéo dài.
Kỳ thực cái gọi là “Lùi tránh xa” không chỉ đơn thuần là thực hiện lời hứa, đó còn là một sách lược, để cho các binh sĩ thấy rõ nhà vua coi trọng chữ tín như thế nào, có thể nâng cao uy tín của mình trên mặt chính trị, lại tránh được mũi nhọn của quân Sở, làm tổn thương nhuệ khí của quân Sở, thời cơ thuận lợi để quyết chiến với địch đang đến gần. Đây chính là một tuyệt chiêu tích cực của việc phòng ngự, khích lệ sĩ khí.
Quân sở thấy quân Tấn lùi tránh cho rằng Trịnh Văn Công không dám đụng độ với nước Sở, thì lấy làm đắc ý. Có người nói, quân Tấn chưa giao phong đã hoảng sợ mà bỏ chạy, chúng ta đã giữ được thể diện rồi, chi bằng thu quân tại đây. Thế nhưng chủ tướng Thành Đắc Thần lại không làm như vậy. Thành Đắc Thần nói:
- Quân Tấn rút lui, chứng tỏ rằng chúng đã hoảng sợ, chúng ta càng cần phải thừa thắng truy kích, đánh cho chúng đại bại!
Tức thì, Thành Đắc Thần hạ lệnh cho toàn quân xuất kích, đuổi thẳng tới chân thành Thành Bộc. Các tướng sĩ quân Tấn nhìn thấy quân Sở điên cuồng như vậy, người nào cũng vuốt cánh xoa tay, sĩ khí dâng cao, quyết một trận sống mái với quân Sở.
Tuy quân lính được chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, Tấn Văn Công vẫn rất không yên tâm; đặc biệt, khi quân Sở dựa vào thế núi để hạ trại, chiếm giữ một địa hình có lợi, thì ông càng thấp thấp thỏm, buồn rầu. Tấn Văn Công nghĩ: trận này đánh thắng thì có thể xưng bá được. Nếu thua thì từ đây nước Tấn phải nghe theo nước Sở rồi. Nước Sở binh khỏe tướng mạnh, nhiều năm trở lại đây rất ít khi bị thua trận. Thành Đắc Thần lại là danh tướng của nước Sở, liệu trận này ta có thể đánh thắng được không? Đúng là ban ngày suy nghĩ làm sao thì ban đêm mộng thấy như vậy. Tấn Văn Công đang mơ màng trong giấc ngủ thì liền sa vào một cơn ác mộng. Mộng thấy bản thân mình vật lộn với Sở Thành Vương. Sở Thành Vương đã đánh ngã ông, trèo lên thân ông, hút khô hết nước óc của ông. Trịnh Văn Công sợ quá choàng tỉnh dậy, đầu đau nhức. Càng nghĩ ông càng sợ hãi. Trời vừa sáng, Tấn Văn Công liền hỏi Hồ Yển tới, kể lại tường tận giấc mộng đêm qua. Hồ Yển nghe xong cười khà khà, chúc mừng Tấn Văn Công. Hồ Yển nói:
- Giấc mộng thật là đại cát đại lợi. Xin Chúa công cứ yên tâm! Trận này nhất định thắng lợi.
Tấn Văn Công nghe thấy kỳ quái, liền hỏi:
- Lời nói này nên giải thích thế nào?
Hồ Yển nói:
- Nhà vua mặt ngửa lên trời, điều đó chẳng phải là đã được sự giúp đỡ của trời đó sao? Sở Vương phục thân xuống đất, chẳng phải là đang thỉnh tội đại vương đó sao? Khà Khà! Trận này nhất định đại vương sẽ thắng!
Biết Tấn Văn Công rất không yên tâm về trận đánh này Hồ Yển đã cố ý bịa ra những lời trên để củng cố niềm tin cho ông. Tấn Văn Công tin là thật, bỗng chốc đầu không đau nữa, niềm tin tăng lên gấp bội, ý chí quyết chiến càng thêm mãnh liệt.
Thành Đắc Thần sai Đẩu Bột tới hạ chiến thư, lời lẽ vô cùng ngạo mạn: “Thuộc hạ của ta yêu cầu được chơi một trận với thuộc hạ của ngài, mời ngài cứ ngồi yên trên xe mà xem. Ta cũng sẽ tiếp ngài cùng xem đánh trận”.
Hồ Yển nói với Tấn Văn Công:
- Thành Đắc Thần coi việc đánh trận như trò chơi, thái độ khinh xuất như vậy sao lại không thua cho được!
Trịnh Văn Công liền sai người trả lời thư cho Thành Đắc Thần:
- Ta chưa hề quen việc làm tốt đẹp của Sở Vương đối với ta, cho nên ta đã lùi tránh đến đây, không dám đối trận với quân đại phu. Quan đại phu cứ nhất định đòi xem đánh trận, ta cũng đành tiếp vậy. Sáng sớm ngày mai chúng ta sẽ gặp mặt nhau ở trên chiến trường nhé!
Xe chiến của quân Tấn có tổng cộng 700 chiếc, binh lính có hơn năm vạn người, toàn bộ nai nịt mũ và áo giáp, hàng ngũ chỉnh tề. Tấn Văn Công đứng ở trên đồi cao, kiểm duyệt toàn quân. Tấn Văn Công nói:
- Thượng hạ một lòng, kỷ luật nghiêm minh, có thể quyết chiến được!
Chủ tướng Thành Đắc Thần đích thân thống soái trung quân, hắn cho rằng từ xưa tới nay quân Sở đánh đâu thắng đấy, lại tận mắt thấy quân Tấn không chịu nổi một đòn, hắn liền lên giọng khoác lác với các tướng sỹ:
- Hôm nay phải quyết đánh cho quân Tấn tan tác!
Hôm sau, tức là ngày mồng 4 tháng 4 năm 20 Chu Tương Vương, cuộc hội chiến bắt đầu. Thống soái quân Tấn là Tiên Chẩn đã phái Hạ quân trong Tam quân đánh vào Hữu quân của Sở. Hữu quân của Sở là liên quân của Trần và Thái, lực lượng đơn mỏng; đó chính là điểm yếu để Tiên Chẩn chọn làm đột phá khẩu. Một hồi trống thúc vừa nổi lên, Hạ quân của Tấn xông ra trước. Những chiến mã kéo xe toàn bộ khoác da hổ, ngựa chiến của quân Sở nhìn thấy hoảng sợ, nhảy cuồng lên. Quân Tấn thừa thế đánh tới. Hữu quân của nước Sở bỏ trận địa chạy trốn, đứa chết, đứa bị thương vô số. Tiên Chẩn lại ra lệnh cho chủ tướng của Thượng quân là Hồ Mao giả vờ sung làm trung quân đem lá cờ lớn chủ soái Trung quân cắm ở trên xe chiến của Hồ Mao để mê hoặc đối phương. Chủ tướng Tả quân của Sở là Đẩu Nghi Thân từ xa đã nhìn thấy lá cờ chủ soái của quân Tấn, quả nhiên đã xông tới. Hồ Mao đánh trả mấy hiệp, rồi quay đầu bỏ chạy. Chủ tướng Hạ quân của Tấn là Loan Chi sai mấy người dùng chiến xa kéo cành cây cho đất cát bụi mù, giả vờ bại trận thua chạy. Đẩu Nghi Thân cho rằng quân Tấn đã thua, liền chỉ huy quân Sở dốc toàn lực truy kích. Đang hăng hái truy đuổi, bỗng nhiên thấy tiếng trống nổi ầm vang, chủ tướng của quân Tấn là Tiên Chẩn thống lĩnh quân tinh nhuệ đã mai phục sẵn từ trước, kéo tới đánh thọc ngay vào sườn quân Sở, Hồ Mao lại quay đầu trở lại đánh, hai quân đánh khép giọng kìm, tả quân của nước Sở chân tay rối loạn, không chống đỡ nổi, cũng bị đánh tan. Quân Sở hoàn toàn rối loạn, Thành Đắc Thần nhận thấy thế trận xấu rồi, liền vội vàng thu binh, mới may thoát khỏi cảnh toàn quân bị tiêu diệt. Tới ngày mồng 8 tháng 4, quân Tấn đã kéo tới trận đại của quân Sở, dùng lương thực của quân Sở bỏ lại nhóm lửa nấu cơm.
Cuộc chiến ở Thành Bộc đã được kết thúc bằng thắng lợi huy hoàng của quân Tấn và sự đại bại của quân Sở.
Tin tức thất bại của quân Sở đã được truyền tới ảnh Đô. Sở Thành Vương vốn đang không hài lòng vì Thành Đắc Thần đã không phục tùng mệnh lệnh, trước kết cục thảm hại thế này lại càng thêm tức giận, liền quát chửi Thành Đắc Thần:
- Để cho các chiến sĩ xuất chinh chết nhiều như vậy, hắn còn dám dẫn xác về đây à?
Thành Đắc Thần cảm thấy không còn mặt mũi nào để trở về nữa, liền tự sát.
Tin nước Tấn đánh bại nước Sở truyền tới Lạc Dương. Chu Tương Vương cử khanh sĩ là Vương Tử Hổ đến úy lạo Tấn Văn Công. Tấn Văn Công đem một nghìn hàng binh Sở và một trăm chiếc binh xa chiến lợi phẩm, dâng lên Thiên Vương. Thiên Vương đã thưởng cho Tấn Văn Công một trăm mũi tên nỏ màu hồng và một trăm mũi tên nỏ màu đen. Thiên Vương cũng thưởng tên nỏ cho các chư hầu, đó là một phần thưởng cao quý, mang ý nghĩa cho phép nước chư hầu này có quyền tự do đi chinh phạt các nước chư hầu khác. Tấn Văn Công mượn cơ hội này để hội họp chư hầu, uống rượu ăn thề hợp thành liên minh, lên làm bá chủ.