Truyện Thông sử Trung Quốc

Lượt đọc: 776 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
76. Nền kinh tế Chiến quốc phát đạt

❊ ❊ ❊

Chiến Quốc là thời kỳ lịch sử quan trọng cua Trung Quốc, ngoài viẹc gió mây biến ảo trên mặt chính trị, quân sự ra, nền kinh tế của thời kỳ Chiến Quốc cũng đã có sự phát triển rất to lớn.

Đã có một câu chuyện như thế này: Tần Vương Doanh chính hạ lệnh truy bắt đồng bọn của Thái tử Đan và Kinh Kha định ám sát mình, từng người một đều bị bắt tới rồi giết chết hết. Chỉ có Cao Tiệm Ly, thay tên đổi họ, tới một gia đình giàu có làm người giúp việc, để ẩn náu. Một hôm, bỗng nhiên Cao Tiệm Ly nghe thấy ở trong nhà khách truyền ra tiếng nhạc khúc của đàn trúc, liền đứng ở đó lắng nghe. Cao Tiệm Ly cứ nghe mãi, nghe mãi, rồi không kìm nén nổi, đã bắt đầu bình luận.

- Đoạn vừa rồi thì đúng, đoạn này đã đánh sai rồi!

Lời nói này đã để cho chủ nhân nghe tiếng. Ông chủ không ngờ được một tên nô bộc cũng hiểu được âm nhạc, liền bắt Cao Tiệm Ly tới diễn tấu. Cao Tiệm Ly đem đàn Trúc của mình tới, bước vào trong phòng, so lại dây, rồi vừa đàn vừa hát, mọi người nghe thấy ai ấy đều rơi nước mắt. Sự việc này, một truyền mười, mười truyền trăm ngay cả đến Doanh Chính cũng đã nghe nói liền sai người triệu ông ta vào trong cung. Có người đã nhận ra Cao Tiệm Ly, báo cho Doanh Chính biết. Doanh Chính nhìn thấy ông ta là một tay sành về đàn Trúc, không nỡ giết ông ta, chỉ sai người khoét đi mất đôi mắt của ông ta. Cao Tiệm Ly một lòng báo thù cho Kinh Kha, ông đã bí mật đặt một thỏi chì vào trong đàn Trúc, khi Doanh Chính bắt ông ta tiết tấu, ông đã cầm đàn Trúc nện mạnh, kết quả là đã không đánh trúng. Doanh Chính giận dữ, đã giết chết Cao Tiệm Ly.

Cao Tiệm Ly đã diễn tấu đàn Trúc cảm động lòng người như vậy, người kỹ năng biểu diễn cao siêu của ông ta, còn vì chiếc đàn Trúc của ông chế tạo rất tinh vi tốt đẹp. Phần trên đã nói qua, Trúc là một loại nhạc khí cổ hình dạng giống đàn tranh, do các bộ trúc, mộc, dây, trụ đồng... tổ thành, khi chế tác mỗi bộ phận đều đòi hỏi trình độ công nghệ tương đối cao, cần phải có những công cụ bằng kim loại sắc bén, nhanh nhạy và kỹ thuật đúc luyện, đẽo gọt tài tình. Cho nên nhạc khí tuy không lớn, nhưng đã phản ánh được trình độ phát triển kinh tế thời đó.

Từ những tài liệu văn hiến cổ đại và những văn vật cổ đào được ở dưới đất mà xét, trong thời đại Chiến Quốc không những nông nghiệp phát đạt, mà thủ công nghiệp và thương nghiệp đều phát triển rất mạnh, tỏ rõ sự phồn vinh mà từ trước tới nay chưa hề có.

Mọi người có lẽ vẫn còn nhớ trong câu chuyện thứ 69 Trộm phù cứu Triệu kể việc một dũng sĩ tên gọi Châu Hợi đã dùng một chiếc chùy sát nặng 40 cân đánh chết tướng quân Tần Bỉ. Như vậy, ở thời đó sắt đã được dùng để chế tạo vũ khí. Trên thực tế, trong thời đại Chiến Quốc đồ sắt đã được dùng tương đối rộng rãi, không kể vũ khí, các công cụ sản xuất nói chung, đặc biệt là nông cụ, việc dùng nguyên liệu sắt để chế tạo trở thành phổ biến. Năm 1955, người ta đã đào được một di chỉ thời Chiến Quốc tại thôn Trang, thành phố Thạch Gia, tỉnh Hà Bắc, trong đó có quá nửa số công cụ để sản xuất được chế bằng sắt, như cuốc, liềm, xẻng, búa... kỹ thuật đã khá tiên tiến, đặc biệt là rìu sắt. Lúc đó kỹ thuật đúc sắt rất tiên tiến, sau khi đổ nước sắt vào hình khuôn đúc sẵn, phải qua xử lý làm cho mềm dẻo hóa, liền biến thành tôn, khắc phục được tính giòn và dễ vỡ của đồ sắt mới đúc. Sự phát minh ra kỹ thuật đúc sắt của Trung Quốc so với nước ngoài sớm hơn khoảng 2000 năm. Việc sử dụng đồ sắt rộng rãi đã nâng cao mạnh mẽ sức sản xuất, đánh dấu việc cải tạo tự nhiên của con người đã bước vào một giai đoạn mới.

Thời đó tại một số địa phương còn phát minh ra thuật luyện thép. Ngô và Việt là địa phương phát minh ra luyện thép sớm nhất. Căn cứ vào truyền thuyết, vào cuối thời kỳ Xuân Thu, loại kiếm báu do Can Tương và vợ ông là Mạc Da người nước Ngô đúc ra, vô cùng sắc nhọn, tiếng tăm vẫn còn truyền đến tận thời Hán. Gần đây, tại huyện Bình Sơn, tỉnh Hà Bắc, đã khai quật được di chỉ nước Trung Sơn vào thời kỳ Chiến Quốc, đã đào được một khối lượng những văn vật quý hiếm, trong đó có một pho đỉnh đồng lớn chân sắt, thân đỉnh được chế bằng đồng đen rắn chắc, bên trên khắc 77 hàng, mỗi hàng có 6 chữ. Đồng đen là thứ kim loại rất rắn, muốn khắc được lên trên đỉnh hơn 480 chữ, nếu không dùng loại cho phép cứng rắn hơn đồng đen, thì khó có thể khắc được.

Việc sử dụng nông cụ sắt tạo thuận lợi cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp. Vốn dĩ lúc đầu nông cụ được chế ra bằng đá, bằng xương thú hoặc bằng gỗ, công hiệu không cao, sau khi sử dụng sắt để chế nông cụ, hiệu suất canh tác đã được nâng cao, đồng thời, có khả năng khai khẩn được nhiều đất hoang. Ngoài ra, có được những nông cụ chế bằng sắt mới có điều kiện xây dựng những công trình thủy lợi nông điền với quy mô lớn. Lúc đó, ngoài những công trình Đô Giang Yển, Dẫn Chương Quán Nghiệp... ở khu vực Quan Trung, nước Tần còn đào được con mương nước Trịnh nổi tiếng, dài hơn 300 dặm, có thể tưới tắm được bốn vạn khoảnh ruộng, khiến cho Quan Trung lúc đó trở thành vựa thóc vô cùng giàu có. Nước Ngụy, nước Tề... cũng đều xây dựng được rất nhiều công trình thủy lợi.

Về phương diện kỹ thuật nông nghiệp so với thời đại Xuân Thu cũng có những tiến bộ rất rõ rệt. Lúc này việc dùng trâu bò cày kéo cũng đã được mở rộng từng bước, hơn thế người ta đã hiểu được tầm quan trọng của việc cải tạo làm cho ruộng đất tốt lên, đã biết sử dụng rộng rãi phân bón, nắm vững mùa tiết thời vụ, phương pháp tưới tắm cũng đã được cải tiến, do đó sản lượng nông nghiệp cũng đã được nâng cao mạnh mẽ.

Sự phát triển của nông nghiệp đã thúc đẩy tốc độ phát triển của thủ công nghiệp. Thủ công nghiệp chủ yếu lúc đó có các nghề luyện kim, mộc, sơn, gốm, thuộc da, nấu muối, dệt vải... đặc biệt, nghề thủ công nghiệp luyện sắt và thủ công nghiệp luyện đồng đen có sự tiến bộ nổi bật. Năm 1973, tại Lôi Cổ Đôn huyện Tùy, tỉnh Hồ Bắc đã khai quật được ngôi mộ từ thời kỳ đầu Chiến Quốc, phát hiện một khối lượng lớn nhạc cụ như chuông, khánh, trống, đàn sắt, sênh, sáo... trong đó đặc sắc nhất là các loại chuông chế bằng đồng, những chiếc chuông đồng lớn nhỏ có tới 65 chiếc, tổng cộng nặng trên 5 nghìn cân, chia thành ba tầng treo trên xà gỗ, những chiếc cột chống đỡ mỗi thành xà lớn là hai người đồng đeo kiếm, kết cấu vô cùng vững chắc, cảnh tượng trông hết sức tráng lệ. Trên những chiếc chuông đồng đó đều có khắc chữ, tổng cộng có tới trên 2800 chữ, có đánh dấu rõ ràng và được xếp đặt theo thứ tự và âm luật tiết tấu. Dựa theo quy định của chúng, những khúc nhạc trong ngoài gõ ra hiện nay, âm phát của cả mấy chục chiếc chuông vẫn còn rất chuẩn xác, mà âm điệu thì chiếc nào giống chiếc nào, không có khuôn đúc độ cao và gia công kỹ thuật nào không làm được.

Trong các di vật nước Trung Sơn đào được ở huyện Bình Sơn, tỉnh Hà Bắc, có “mười lăm chiếc đèn liền nhau”, chia thành tám tầng với 15 ngọn đèn, xếp đặt liên tiếp theo 8 tầng lớn nhỏ, sự lớn nhỏ và góc độ lắp mộng của mỗi tiết đều khác nhau, nối cằm vào nhau rất khớp, khi không dùng có thể tháo ra, đem đi đem lại rất tiện lợi. Hình dạng của toàn bộ chiếc đèn giống như một cây lớn sầm uất xen kẽ đều nhau. Trên cành cây có một đàn khỉ đang đùa giỡn, một đàn chim sẻ đang kêu hót; trên bệ đèn ở phía dưới, có hai gia nô cởi trần đầu đội đèn, một tay cầm thức ăn, một tay đưa thức ăn ra nhử đàn khỉ; trên cành cây có hai con khỉ nhỏ một tay nắm cành cây, toàn thân treo trên không đang ngắm nhìn gia nô ném thức ăn, tay giơ ra xin ăn. Cây đèn này không những vẻ bề ngoài mỹ quan, mà cấu tứ cũng rất tinh xảo khéo léo, nó phản ánh một cách đầy đủ trí tuệ thông minh sắc xảo tuyệt vời của nhân dân lao động, chứng minh trình độ thủ công nghiệp lúc đó đã phát triển tương đối cao.

Theo đà phát triển của sản xuất, sự phân công xã hội càng ngày càng tỉ mỉ, thương nghiệp cũng phát triển thịnh vượng. Nhà tư tưởng Tuân Tử lúc đó đã hình dung sự lưu thông hàng hóa khi ấy như sau: “Chó và ngựa phương Bắc, ngà voi và da tê phương Nam, cá biển và muối biển phương Đông, da thuộcvà hàng dệt phương Tây đều có thể mua được ở thị trường Trung Nguyên. Những người sống ở vùng đầm nước có thể mua được đồ gỗ, những người sống trên núi có thể mua được thủy sản; nông dân không động tới dao, rìu, không làm đồ gốm nấu sắt cũng có thể mua được khí giới, công nhân, thương nhân không trồng cấy lúa cũng có thể mua được lương thực”. Qua đoạn miêu tả này của Tuân Tử có thể thấy rõ, việc giao dịch giữa các khu vực lúc đó tương đối sầm uất, hoạt động thương nghiệp cũng rất phồn vinh. Có người nhờ vào buôn bán kinh doanh mà trở nên giàu có. Các thương nhân lớn như Bạch Khuê, Y Đốn, Quách Túng... mức độ giàu có giống như Vương hầu. Do sự phát triển của công thương nghiệp, không ít địa phương dần dần hình thành những đô thị lớn phồn vinh. Ví dụ, như Lâm Truy của nước Tề, Hàm Đan nước Triệu, Đại Lương nước Ngụy và Đô Thành Lạc Dương của triều Chu, đều là những đô thị thương nghiệp lớn. Lúc đó, những đồng tiền kim loại cũng được lưu thông tương đối rộng rãi. Điều này ngược trở lại, đã thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp cùng với sự phồn vinh của thương nghiệp.

Vào thời đại Thương Chu, đất đai đã thuộc về nhà nước, thực chất là thuộc về toàn thể các quý tộc chủ nô, không được tự do mua bán. Nhà nước dựa vào số mẫu nhất định, đem số ruộng đất canh tác quy hoạch thành từng thửa đất vuông, phân phối cho các nô lệ cày cấy phát triển nông nghiệp, giống như hình dạng chữ Tỉnh(1), cho nên gọi là “Chế độ tỉnh điền”. Đồng thời nhà nước lại đem ruộng đất kèm theo nông nô phân phối cho quý tộc theo đẳng cấp để cho họ bóc lột. Dưới chế độ này, nô lệ không được tự do thân thể, phải chịu sự áp bức và bóc lột cực kỳ tàn khốc, sống cuộc sống vô cùng bi thảm. Họ đã sử dụng các phương thức bãi công, bỏ trốn thậm chí bạo động, không ngừng chống đối. Sau thời kỳ Xuân Thu, chế độ tỉnh điền dần dần bị tan rã. Đến thời đại Chiến Quốc, do đã biết sử dụng nông cụ chế bằng sắt, sản xuất phát triển mạnh mẽ, có một số quý tộc lợi dụng sức lao động thặng dư của nô lệ, đã khai khẩn được một khối lượng lớn đất đai hoang, trở thành ruộng tư của mình, còn có một số nô lệ bỏ trốn hoặc nông dân tự canh tác cũng có ruộng đất khai hoang riêng. Như vậy là, ruộng tư đã càng ngày càng nhiều. Do sự phát triển của thương nghiệp, đất đai cũng có thể tự do mua bán được. Công cuộc biến pháp của Thương Ưởng ở nước Tần “phế bỏ tỉnh điền, khai thiên mạch (mở ra đường bờ ruông”, “cho dân cày cấy, không hạn chế nhiều ít” đã triệt để cải cách ở những mức độ khác nhau, từ sau đó chế độ tư hữu ruộng đất đã chính thức được xác lập. Sự biến đổi cực kỳ lớn này, về căn bản đã làm lung lay cơ sở kinh tế của xã hội nô lệ. Quan hệ giai cấp cũng theo đó sinh ra biến hóa. Các cuộc chiến tranh thôn tính một mất một còn giữa các nước đã kể ở các phần trên, cùng với cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị và ngoại giao khác, chính là phản ảnh của cuộc đấu tranh này.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.