Trong chiến dịch giải vây cứu Hàm Đan, tám vạn quân Ngụy là bộ đội chủ lực, đã phát huy được tác dụng rất lớn. Thế nhưng, nước Ngụy đã xuất nhiều binh lĩnh đến cứu viẹn nước Triệu, mà An Hy Vương tuyệt nhiên không hay biết. Nguyên nhân vì sao?
Vốn dĩ, Bình Nguyên Quân và Tín Lăng Quân nước Ngụy là thông gia, phu nhân của Bình Nguyên Quân là chị gái của Tín Lăng Quân, Tín Lăng Quân là em trai của Ngụy An Hy Vương. Khi Hàm Đan bị vây, Bình Nguyên Quân quyết định đích thân tới cứu viện nước Sở, ông lại lần lượt viết thư cho Ngụy Vương và em vợ mình là Tín Lăng Quân nhờ họ cắt quân đi cứu viện.
Tín Lăng Quân là một người biết hạ mình trọng kẻ sĩ, dũng cảm làm điều nghĩa. Nhận được thư của chồng chị gái, tự nhiên ông thấy vô cùng lo lắng, lập tức tới tìm Ngụy Vương để thương nghị. Ngụy An Hy Vương không chịu đựng nổi nhiều lần cầu xin của Tín Lăng Quân, đã để cho lão tướng Tấn Bỉ thống soái 10 vạn binh mã kéo đi cứu Triệu.
Tín này đã rất nhanh chóng lan tới nước Tần, Tần vương vội vã cử sứ thần tới nước Ngụy, cảnh cáo vua Ngụy:
- Đánh chiếm Hàm Đan chỉ là công việc của một sớm một chiều. Ai dám đến cứu Triệu, chờ ta lấy xong nước Triệu, nhất định sẽ quay trở lại hỏi tội đó!
Sự uy hiếp này đã làm cho vua Ngụy hoảng sợ, tức thì An Hy Vương đã cử người hỏa tốc tới truyền mệnh lệnh cho Tấn Bỉ, trước hết không được vội vã cứu Triệu, cứ đóng chặt quân ở trên biên giới chờ lệnh.
Bình Nguyên Quân đâu biết sẽ gặp phải trắc trở, chỉ trách móc Tín Lăng Quân không chiếu cố đến tình nghĩa. Ông bực tức viết thư quở mắng Tín Lăng Quân: “Từ trước ta luôn luôn bái phục công tử là con người biết cứu người trong lúc nguy nan khẩn cấp, rất coi trọng nghĩa khí, cho nên ta mới kết thành thông gia với Công tử. Ngày nay, mắt nhìn thấy Hàm Đan sắp sửa rơi vào tay quân Tần, thế mà cứu binh của nước Ngụy lại chần chừ không đến, phẩm đức cứu người trong lúc nguy nan khẩn cấp của Công tử đã vứt bỏ đi đâu rồi? Cho dù Công tử xem thường ta, chẳng kể gì tới sự sống chết của ta, nhưng lẽ nào Công tử lại không thương xót đến chị mình, nỡ để cho chị mình đi làm tù binh của nước Tần hay sao?
Tín Lăng Quân vừa đọc xong bức thư gửi đến, vừa cảm thấy oan uổng, lại vô cùng lo lắng. Ông nghĩ đi nghĩ lại, đành phải tới thỉnh cầu Ngụy Vương, đi mấy lần liền, lại mời người tới trình rõ lợi hại, khuyên Ngụy Vương nhanh chóng xuất quân. Đứng trước sự uy hiếp của nước Tần, sống lưng của Ngụy Vương không sao ưỡn thẳng được, ông kiên quyết không chịu xuất quân. Tín Lăng Quân thấy Ngụy Vương quyết không chịu xuất quân, liền hạ quyết tâm một còn một mất với nước Triệu, ông đã tổ chức các môn khách của mình lại, tổng cộng được hơn một nghìn người, lại gom góp được hơn một trăm chiến xa, dự định kéo quân đội bị cô lập của mình đi cứu Triệu.
Khi đội ngũ đi qua cửa thành, Tín Lăng Quân tới cáo từ quan giữ cửa tên gọi Hầu Doanh, Hầu Doanh đã bảy mươi tuổi, là bạn già của Tín Lăng Quân, gia đình rất nghèo khổ, thế nhưng phẩm đức cao thượng thông minh cơ trí. Thường ngày Tín Lăng quân rất tôn trọng Hầu Doanh. Lúc này, Tín Lăng Quân đem dự định của mình nói cho Hầu Doanh biết, muốn lắng nghe ý kiến của Hầu Doanh, chẳng ngờ, vị Hầu lão tiên sinh đó chỉ lạnh nhạt nói một câu:
- Xin Công tử chú ý bảo trọng! Tôi thân già sức yếu, không thể đi cùng Công tử được!
Tín Lăng Quân từ biệt Hầu Doanh, vội vã đánh xe lên đường. Trên đường đi Tín Lăng Quân càng nghĩ càng thấy bực dọc, nghĩ thầm:
- Thường ngày ta đối đãi với lão có thể nói là tình sâu, nghĩa nặng. Hôm nay ta liều chết đi cứu Triệu, ngay đến một câu thân thiết lão cũng không nói, tại sao lão lại lạnh nhạt như thế này? Phải chăng là ta đã có điều gì sai sót? Ta phải quay trở lại hỏi hắn xem sao.
Tức thì, Tín Lăng Quân cho quay đầu xe trở lại cửa Thành. Chẳng ngờ, Hầu lão tiên sinh đang chờ Tín Lăng quân ở cửa, nói:
- Lão đã dự liệu từ trước là nhất định Công tử sẽ quay trở lại.
Tín Lăng Quân cảm thấy kỳ quái, hỏi:
- Tại sao tiên sinh lại biết được?
Hầu Doanh nói:
- Ngày nay Công tử tới nước Triệu liều mạng với quân Tần, điều này có khác gì đem miếng thịt béo tới làm mồi cho hổ, chỉ chết uổng mà thôi! Thường ngày Công tử đãi lão ơn nặng như núi, vào lúc sinh ly tử biệt này, ngay đến việc đưa tiễn tôi cũng không đi, một lời làm ấm lòng cũng chẳng có, tôi chắc rằng Công tử nhất định sẽ rất bực bội, không quay trở lại hỏi cho rõ rằng, thì đó mới là điều lạ!
Tín Lăng Quân nhìn thấy Hầu Doanh đã giãi bày tâm sự của mình, vô cùng bái phục, đoán chắc rằng nhất định lão sẽ có mưu sâu kế xa, liền vội vàng thỉnh giáo.
Hầu Doanh đã tách khỏi mọi người, mời Tín Lăng Quân vào trong một gian nhà nhỏ, khe khẽ nói với ông:
- Phi tử mà hiện nay Đại vương sủng ái nhất là nàng Như Cơ, Công tử là đại ân đại đức của Như Cơ, có lẽ nào Công tử không nhớ chăng?
- ừ, nhưng nói ra điều này để làm gì?
- Nghe nói cha của Như Cơ sau khi bị giết chết, nàng xin với Đại vương trả thù thay cho nàng, nhưng đã ba năm rồi vẫn chưa bắt được hung thủ. Về sau chính là môn khách của Công tử đã giết chết hung thủ, đem đầu lâu tới giao cho nàng. Vì việc này mà Như Cơ chỉ một lòng muốn báo đáp rất hậu đối với ân tình của Công tử. Hôm nay chẳng phải đúng là lúc cần tới nàng đó sao?
Tín Lăng Quân hỏi:
- Nàng chỉ là đàn bà, có thể giúp ta được gì đây?
Hầu Doanh nói:
- Thưa Công tử, xin Công tử hãy nghĩ mà xem, muốn cứu nước Triệu, đội ngũ một nghìn người này của Công tử liệu có ích gì? Còn cần phải dựa vào quân đội nước Ngụy nữa. Hiện tại Tấn Bỉ đang soái lãnh đội quân 10 vạn người ngựa đóng giữ ở trên biên giới hai nước Ngụy Triệu. Nếu sử dụng được đội quân này thì còn sợ gì không cứu được nước Triệu nữa?
Tín Lăng Quân nói:
- Thế nhưng đội quân người, ngựa cần điều động này thì trong tay ta lại không có Hổ phù!
Hổ phù nói chung có hình dạng giống con hổ được đúc ra bằng đồng, chia thành hai nửa, một nửa lưu giữ trong tay nhà vua, một nửa giao cho Đại tướng đem quân đi. Khi nhà vua muốn điều đồng quân đội thì sai sứ thần đem một nửa Hồ phù đi truyền lệnh. Đại tướng lấy nửa phần hổ phù kia đối nghiệm với nửa phần của sứ thần, thấy hoàn toàn khớp thì mệnh lệnh phát mới có hiệu lực. Hầu Doanh liền nói:
- Hiện tại một nửa Hổ phù đang nằm trong tay Tấn tướng quân, còn một nửa Đại vương cất giữ. Cho nên chỉ có được một nửa Hổ phù của Đại vương mới điều động được 10 vạn binh mã của Tấn Bỉ. Người vẫn sớm tối cận kề Đại vương, chẳng phải là Như Cơ đó sao?
Nghe tới đây Tín Lăng Quân mới bỗng nhiên tỉnh ngộ, nói:
- ý của tiên sinh là để cho Như Cơ...
Hầu Doanh nói:
- Sự việc đã tới nước này rồi, cũng chẳng còn cách nào khác được. Đành phải nhờ nàng lấy trộm nửa phần hổ phù đó.
Thế nhưng Tín Lăng Quân vẫn chưa dám hạ quyết tâm, nói:
- Cho dù có được Hổ phù ở trong tay rồi, nếu Bấn Bỉ không chịu nghe theo thì làm thế nào? Tục ngữ nói “Tướng tại ngoại, có thể không tiếp nhận mệnh lệnh vua” đó!
Hầu Doanh nói:
- Cho nên lão xin tiến cử cho Công tử một người. Lão có một người bạn tên gọi là Châu Hợi, võ nghệ cao cường, đặc biệt là trong tay có một chiếc chùy sắt lớn, không ai địch nổi, để cho hắn đi cùng Công tử. Tới lúc đó, nếu Tấn Bỉ nghe theo sự điều khiển thì rất tốt; nếu không thì chỉ một chùy là tính mạng của Tấn Bỉ đi toi.
Tín Lăng Quân thấy tình hình quân sự rất khẩn cấp, lại chẳng nghĩ ra kế gì khác, đành đồng ý theo cách này.
Tín Lăng Quân đem việc cần Hổ phù khẽ nói với Như Cơ, quả nhiên Như Cơ đã trộm lấy được đưa ra, Tín Lăng Quân cầm được Hổ phù, dắt theo Châu Hợi, ngay đêm đó vội vã đi điều binh.
Họ tới doanh trại của quân Ngụy, vào gặp Tấn Bỉ. Tín Lăng Quân nói:
- Tướng quân vất vả quá, đại vương có đặc ý đến ta tới thay ông đây!
Ngay lập tức Tín Lăng Quân lấy Hổ phù ra đưa cho Tấn Bỉ đối chứng. Tấn Bỉ khớp xong Hổ phù, biết không phải là giả, thì tin ngay. Thế nhưng Tấn Bỉ lại nghĩ:
- Đại vương đã giao phó cho ta 10 vạn đại quân, ta lại chẳng phạm phải lỗi lầm nào, tại sao lại đột ngột cách chức của ta? Tuy đã có Hổ phù đây, nhưng việc lớn nhường này, sao lại không có thư tới? Xem ra không thể sơ xuất được!
Thế rồi Tấn Bỉ khách khí nói với Tín Lăng Quân.
- Xin công tử hãy đợi vài hôm, để tôi đem sổ danh sách kiểm kê lại chu đáo, sau đó sẽ làm thủ tục bàn giao, ý công tử thế nào?
Tín Lăng Quân liền lo lắng, nói:
- Ta phụng mệnh dẫn quân đi cứu Triệu, Hàm Đan đang nguy trong sớm tối, dù có đi suốt đêm ta còn sợ chẳng kịp, sao lại có thể chờ đợi để lỡ dở việc lớn được?
Tấn Bỉ đành nói:
- Thực tình không dám giấu công tử, việc quân cơ đại sự như thế này, cần phải báo cáo lại với Đại vương một tiếng, sau đó mới dám tuân...
Chữ “mệnh” còn chưa kịp nói ra, Châu Hợi ở bên cạnh đã gào to:
- Tướng quân không tuân theo vương miện, chính là phản bội đó!
Nói rồi rút ngay chiếc chùy sắt nặng 45 cân từ trong ống tay áo ra, bổ dọc xuống đầu Tấn Bỉ. Chiếc đầu lâu của Tấn Bỉ trong giây lát đã nát như bột. Tín Lăng Quân tay cầm hổ phù, trèo lên cao hét lớn:
- Đại vương hạ lệnh cho ta thay Tấn tướng quân dẫn binh đi cứu Triệu, Tấn Bỉ không phục tùng mệnh lệnh của nhà vua, nên phải chịu tội chết. Mọi người không việc gì phải kính sợ, hãy nghe lệnh của ta!
Trong doanh trại quân im phăng phắc, chỉ nghe thấy Tín Lăng Quân tuyên bố:
- Hai cha con đều làm lính, người cha có thể trở về nhà, hai anh em đều ở trong quân ngũ, người anh có thể về nhà, người nào gia đình là con một vào lính, cũng không phải đi đánh trận nữa, trở về mà phụng dưỡng cha mẹ!
Và như vậy, mười vạn quân đội chỉ còn lưu lại tám vạn tướng sĩ, thế nhưng sức chiến đấu càng mạnh hơn. Tín Lăng Quân soái lãnh đội quân này, ngay đêm đó tấn công vào Hàm Đan.
Quân nước Tần thấy quân đội nước Ngụy từ sau lưng đánh tới, hốt hoảng ứng chiến, vừa đánh vừa lùi. Lúc này Bình Nguyên Quân dẫn quân từ trong thành xông ra, hai quân đánh khép gọng kìm quân Tần. Trước mặt và sau lưng đều gặp địch, quân Tần không thể đứng vững nổi, binh mã tổn thất quá nửa, đành phải rút lui. Cuối cùng Hàm Đan đã được giải cứu. Đây là sự kiện xảy ra vào năm 58 Chu Nản Vương (năm 257 trước Công Nguyên).
Ngụy Vương biết được sự việc Tín Lăng Quân trộm Hổ phù cứu Triệu, giết chết Tấn Bỉ, thì vô cùng tức giận, nổi trận lôi đình, trước tiên giam Như Cơ vào lãnh cung. Về sau nhìn thấy quân Ngụy thắng trận, khải hoàn trở về, lại chuyển giận thành vui. Tín Lăng Quân biết chắc Ngụy Vương bất mãn đối với mình, không dám trở về nước Ngụy nữa, mà sống ở nước Triệu suốt 10 năm. Mãi cho tới khi nước Tần phát binh đánh Ngụy, Ngụy Vương nhiều lần khẩn khoản mời, ông mới quay trở về nước Ngụy, trù hoạch đại kế chống Tần.