Tề Hoàn Công dựa vào Quản Trọng, cai trị nước Tề trở thành nước giàu, binh mạnh, bước tiếp theo Hoàn Công muốn xưng bá chư hầu. Vào năm thứ 5 sau khi ông lên ngôi làm vua (Chu Ly vương nguyên niên, năm 681 trước Công Nguyên), một hôm Tề Hoàn Công với Quản Trọng:
- Hiện tại chúng ta có binh mạnh ngựa khỏe, đã đến lúc hội nhập các nước chư hầu được chưa?
Quản Trọng nói:
- Nay nước Sở ở phương Nam, nước Tần và nước Tấn ở phương Tây đều mạnh hơn chúng ta, thế nhưng họ chưa thể làm thủ lĩnh các nước chư hầu được. Vì sao vậy? Bởi vì họ không đủ sự tôn sinh đối với vương thất nhà Chu, không biết dùng danh nghĩa của Thiên Vương để hiệu triệu các nước chư hầu đình chỉ hỗn chiến. Nếu Chúa công biết dùng ngọn cờ “Tôn Vương nhưỡng Di”(1) để kêu gọi các nước chư hầu, thì uy danh của Chúa công sẽ ngày càng cao. Điều “Tôn Vương nhưỡng Di” mà Quản Trọng nói chính ta tôn trọng vương thất triều Chu, thừa nhận địa vị lãnh tụ chung của Thiên tử nhà Chu, liên hiệp với các nước chưa hầu, cùng phòng ngự chống các bộ tộc Nhung, Man... xâm nhập Trung Nguyên. Tề Hoàn Công nghe Quản Trọng nói có lý, bèn hỏi:
- Thế thì phải làm như thế nào?
Quản Trọng trả lời, nói:
- Nước Tống vừa qua nội loạn, cho đến nay vua mới vẫn chưa được các nước thừa nhận. Chúng ta chẳng ngại gì mà không lợi dụng cơ hội Chu Ly Vương vừa mới lên ngôi, một là tới chúc mừng, hai là xin Thiên Vương hạ lệnh để cho các nước chư hầu thừa nhận ngôi vua của nước Tống. Chỉ cần Thiên Vương đồng ý thì chúng ta có thể ra mặt trận triệu tập các nước chư hầu được.
Tề Hoàn Công lập tức cử sứ thần vào triều kiến Chu Ly Vương.
Như trên đã nói, đến thời đại Xuân Thu, rất nhiều nước Chư hầu đều coi thường Vương thất nhà Chu. Lần này, Chu Ly Vương trong lòng vui mừng không sao kể xiết, liền đem công việc tốt lành triệu tập các nước Chư hầu thừa nhận ngôi vua của nước Tống này, giao cho Tề Hoàn Công. Tề Hoàn Công nhận được mệnh lệnh của Thiên Vương, liền gửi thông tư đi khắp nơi: Đúng ngày mồng 1 tháng 3 đại hội các nước chư hầu ở Bắc Hạnh nước Tề (phía Bắc huyện Đông á, tỉnh Sơn Đông ngày nay) để cũng xác định ngôi vua của nước Tống.
Tại sao ngôi vua của nước Tống cần phải xác định lại từ đầu? Bởi lẽ, vị vua vốn có của nước Tống là Tống Mẫn Công đã bị đại tướng dưới trướng là Nam Cung Trường Vạn giết chết và lập người em họ của Tống Mẫn Công là công tử Du lên làm vua. Em trai của Tống Mẫn Công là công tử Ngự Duyệt chạy trốn ra nước ngoài. Về sau này công tử Ngự Duyệt đã liên hiệp với các tộc lớn của nước Tống, giết chết Công tử Du, đuổi Nam Cung Trường Vạn, rồi lên làm vua, đây chính là Tống Hoàn Công.
Quản Trọng liền mượn cơ hội Tống Hoàn Công vừa lên ngôi, đòi hỏi các nước chư hầu xác nhận, để cho Tống Hoàn Công cầm cờ hiệu của Thiên Vương, hội hợp các nước chư hầu lên làm bá chủ.
Ngày hội họp sắp tới gần, Tống Hoàn Công đến trước, cảm ơn Tề Hoàn Công người đã tổ chức cuộc hội họp này. Hôm sau, các chư hầu như nước Trần, nước Châu, nước Thái cũng lần lượt tới, thế nhưng các nước chư hầu khác vẫn chưa có mặt. Tề Hoàn Công nói với Quản Trọng:
- Các nước chư hầu chưa đến đủ, ta chuyển sang ngày khác, nên chăng?
Quản Trọng nói:
- Lần đầu tiên ta hội họp các nước chư hầu, không thể để thất tín được. “Tam nhân thành chúng” (ba người thành số đông). Bây giờ đã có bốn nước, có thể họp được rồi!
Ngày mồng 1 tháng 3, đại hội vẫn tiến hành đúng kỳ đã định. Cuộc gặp gỡ của 5 nước chư hầu đã kết thúc, Tề Toàn Công nói:
- Ta phụng mệnh Thiên Vương mời các vị hội họp cùng thương lượng việc phò trợ Vương thất. Trong đại hội ngày hôm nay, trước hết phải chọn một người làm minh chủ. Xin mọi người nêu ý kiến.
Lúc đó, mấy vị chư hầu chụm đầu, ghé tai bàn bạc. Tuyển chọn Tề Hoàn Công chăng? Nước Tống là Công tước, có tước vị cao nhất, thế nhưng nếu tuyển chọn Tống Hoàn Công thì sao? Ngôi vua của Vua Tống còn phải dựa vào các nước để xác định sao có thể làm minh chủ được? Đang lúc khó khăn như vậy, Trần Tuyên Công đứng dậy nói:
- Thiên Vương đã giao sứ mệnh hội họp các nước chư hầu cho Tề hầu, lẽ dĩ nhiên là nên bầu Tề Hầu là minh chủ.
Các vị chư hầu đều tán đồng. Tề Hoàn Công khiêm tốn từ chối, rồi đĩnh đạc ngồi lên vị trí của minh chủ. Tề Hoàn Công dẫn đầu mọi người vái lạy ngôi Thiên Vương dựng lên tượng trưng ở trên đài, sau đó lại vái lạy lẫn nhau, cuối cùng thì tuyên đọc minh ước. Bản minh ước quy định: Tôn trọng vương thất, phù trợ các quốc gia nhược tiểu, chống lại sự xâm nhập của Di Địch. Minh ước còn viết rõ, nếu quốc gia nào vi phạm minh ước, thì sẽ bị các quốc gia khác liên hiệp lại trừng phạt. Đối với nội dung của minh ước, các nước chư hầu đều đồng ý. Tiếp đó Quản Trọng bước lên đài, nói với:
- Bốn nước Lỗ, Vệ, Trịnh, Tào không nghe mệnh lệnh của Thiên vương, không tới tham gia đại hội, đây là sự bất trung đối với Thiên Vương, nên cất quân tới hỏi tội.
Tiếp đó Tề Hoàn Công nói:
- Những nước nghèo không đủ lực lượng, mong các vị giúp đỡ nhiều cho!
Ba nước Trần, Thái, Châu đều đồng thanh nói:
- Nhất định sẽ làm như vậy!
Chỉ có Tống Hoàn Công là yên lặng.
Buổi tối hôm đó, Tống Hoàn Công về tới chỗ ở, nói với quan đại phu là Đới Thúc Bì:
- Tề Hầu ỷ vào sự lớn mạnh của mình, chẳng coi ta ra gì, vừa mới lên chức minh chủ đã đòi chỉ huy ta ngay. Điều đó đâu có được!
Đới Thu Bì nói:
- Nếu nước Tề xưng bá, thì nước Tống sẽ xúi quẩy đó. Lần này chúng ta tới đây chẳng qua chỉ là để xác định ngôi vua của Chúa công. Bây giờ mục đích đã đạt được rồi, còn chờ đợi gì nữa? Chúng ta đi về thôi!
Tống Hoàn Công nghe xong, vội vã thu xếp hành trang, bỏ về ngay đêm đó.
Ngày hôm sau, Tề Hoàn Công nghe nói Tống Hoàn Công không từ mà biệt, giận lắm, muốn sai quân đuổi theo. Quản Trọng nói:
- Mời người ta đến cốt để hội hợp liên minh, người ta về rồi, chúng ta sai quân đuổi theo, thì trái đạo lý quá. Lại nói nước Tống ở xa, nước Lỗ ở gần, chi bằng trước hết chúng ta đi trừng phạt nước Lỗ.
Tề Hoàn Công nói:
- Cách đánh như thế nào?
Quản Trọng nói:
- Nếu chúng ta tiến đánh các quốc gia phụ thuộc nước Lỗ trước, nước Lỗ nhất định sẽ sợ hãi, ắt sẽ cử người tới trách hỏi nước Lỗ. Đại binh áp sát biên giới, nước Lỗ dám không tới bồi lễ xin lỗi chăng?
Tức thì, Tề Hoàn Công đích thân đón đại quân đánh vào nước Toại. Quan đại thần Thi Bá và Tào Quệ đều chủ trương hoà hảo. Chính trong lúc này, Tề Hoàn Công sai người đưa thư đến trách móc Lỗ Trang Công không tới hội liên minh ở Bắc Hạnh. Lỗ Trang Công viết thư trả lời ngay nói:
- Lúc đại hội liên minh đang họp, tôi bị ốm, không tham dự được, quả thật là có lỗi. Nếu ngài rút hết quân đội về trong biên giới nước Tề, tôi sẽ tới hội liên minh.
Tề Hoàn Công nhận được thư trả lời, rất vui vẻ, lập tức rút quân.
Lỗ Trang Công đem theo Tào Quệ tới nước Tề hội liên minh. Đất kha của nước Tề, ở các phía trước, sau, trái, phải của hội trường đều bố trí dày đặc binh lính, không khí vô cùng căng thẳng. Lỗ Trang Công hoảng sợ đến thần người ra, khi bước lên bậc thềm, hai chân cứ run lẩy bẩy. Tào Quệ tay xách kiếm sắc đi sau Lỗ Trang Công. Hai vua Tề, Lỗ vừa gặp mặt, một quan đại thần bưng một chậu máu bò tới, mời hai vị vua cùng uống ăn thề. Theo quy định thời đó, những người tới gặp lập minh ước cần phải bôi máu bò lên môi để chứng tỏ thành ý. Hai vị vua vừa mới dơ tay nhúng vào máu, Tào Quệ đã bước lên trước một bước túm chặt lấy ống tay áo của Tề Hoàn Công, nâng cao kiếm báu. Lúc này Quản Trọng lao tới dùng thân thể của mình che chở Tề Hoàn Công, nghiêm giọng hỏi:
- Nhà ngươi muốn làm gì?
Tào Quệ nói:
- Nước Lỗ tiến hành chiến tranh đã nhiều năm, nguy cơ mất nước đã rõ ràng. Các ông chẳng đã nói phải “phù trợ các quốc gia nhỏ yếu đó sao”? Tại sao các ông không nghĩ thay cho nước Lỗ?
Quản Trọng hỏi:
- Nhà ngươi có yêu cầu gì?
Tào Quệ trả lời:
- Nước Tề ỷ vào sự lớn mạnh của mình, ức hiếp nước Lỗ nhỏ yếu, cướp đất Vấn Dương của chúng tôi, bây giờ chỉ xin các ông trả lời cho chúng tôi, nếu không đừng hòng chúng tôi lập minh ước với các ông.
Quản Trọng quay đầu lại nói với Tề Hoàn Công:
- Thưa Chúa công, xin Chúa công bằng lòng cho!
Tề Hoàn Công nhìn chằm chằm vào lưỡi kiếm của Tào Quệ, luống cuống nói:
- Ta bằng lòng! Ta bằng lòng!
Lúc này, Tào Quệ mới chịu thu kiếm lại, tiếp nhận chậu máu, mời hai vị vua cùng uống máu ăn thề.
Nghi thức đã xong, Tào Quệ lại nói với Quản Trọng:
- Ngài là tướng của nước Tề, tôi muốn cùng ngài uống máu ăn thề, xin ngài thực hiện lời hứa của vua nước ngài.
Quản Trọng nói:
- Cần gì phải thế? Ta thề với người đó.
Nói xong liền chỉ lên trời nói với Tào Quệ:
- Có trời xanh chứng dám, ta nhất định sẽ hoàn trả đất đai ở Vấn Dương.
Lúc này, Tào Quệ mới chắp tay vái Tề Hoàn Công hai vái, biểu thị lòng cảm tạ.
Sau khi kết thúc hội liên minh, các quan đại thần của nước Tề tỏ ra bực tức, đều yêu cầu Tề Hoàn Công giết chết Lỗ Trang Công, có như vậy mới giải được nỗi uẫn giận. Tề Hoàn Công không đồng ý. Ông nghĩ thầm: đất tai so với niềm tin, thứ nào quan trọng hơn? Có được niềm tin rồi, mới có thể xưng bá, xưng được bá rồi thì thứ gì mà không có? Hà tất phải căng thẳng vì một mảnh đất nhỏ bé? Cho nên, ông đã nói với các quan đại thần:
- Ta đã bằng lòng rồi. Nói lời phải giữ lời!
Các quan đại thần đành phải thôi. Ngay hôm sau, Tề Hoàn Công bày tiệc tiễn Lỗ Trang Công. Sau đó đem toàn bộ đất đai ở Vấn Dương hoàn trả đủ cho nước Lỗ. Lỗ Trang Công đem theo tiền bạc sung sướng trở về nước.
Các nước chư hầu biết sự việc này đều bái phục Tề Hoàn Công đã coi trọng chữ tín và đều muốn đi theo nước Tề. Hai nước Vệ và Tào cũng cử người tới tạ lễ xin lỗi và thỉnh cầu được gia nhập liên minh. Tề Hoàn Công liền mời họ cùng đi diệt nước Tống.
Năm thứ 2 Chu Ly Vương (năm 680 trước Công nguyên), Tề Hoàn Công sai sứ thần tới chỗ Thiên vương dâng cáo trạng nói rằng Tống Hoàn Công coi thường Thiên Vương, không chịu nghe theo hiệu lệnh, xin Thiên Vương cho xuất binh đi tiêu diệt nước Tống. Chu Thiên Vương chấp thuận. Tức thì Tề Hoàn Công dẫn quân Tề, Tấn và Tào rầm rộ kéo tới biên giới của nước Tống. Quan đại phu là Ninh Thích nói với Tề Hoàn Công:
- Chúa công phụng mệnh của Thiên Vương hội họp chư hầu, cách tốt nhất là dụng lễ trước, dùng binh sau, xin Chúa công hãy cho thần tới khuyên Tống Hoàn Công giảng hoà có được không?
- Tề Hoàn Công một lòng muốn các nước chư hầu thật sự tâm phục mình, bèn truyền lệnh cho quân đội đình chỉ hành động để Ninh Thích đi gặp Tống Hoàn Công.
- Ninh Thích gặp Tống Hoàn Công vái chào một lễ rất cung kính, Tống Hoàn Công không để ý, coi như không biết. Ninh Thích thấy tình cảnh như vậy, ngẩng đầu thở dài một hơi, nói:
- Nước Tống thật sự nguy hiểm rồi!
Tống Hoàn Công nói:
- Người nói như vậy là có ý gì?
Ninh Thích hỏi vặn lại Tống Hoàn Công:
- Theo ông, thì ông và Chu Công ai tài ba sáng suốt?
Tống Hoàn Công trả lời, nói:
- Chu Công là thánh nhân, ta làm sao so sánh với thánh nhân?
Ninh Thích nói:
- Khi Chu Công ở vào thời điểm cường thịnh nhất triều Chu, nghe nói có người tới xin gặp, dù đang nhai cơm, ngài cũng nhổ ngay miếng cơm ra để đón khách. Như vậy đấy mà ngài vẫn còn sợ thất lễ, còn ông, ông đã làm thế nào? Nước Tống suy yếu như vậy, trong nước liên tiếp xảy ra chuyện giết vua. Ngôi vua của ông đâu có chắc chắn gì, cho dù ông được như Chu Vương biết gồng mình đãi kẻ sĩ, sợ rằng những người có bản lĩnh cũng chẳng chịu tới chỗ ông, vậy mà ông còn ngạo mạn? Cảnh ngộ nước Tống lại không nguy hiểm sao?
Tống Hoàn Công nghe xong, vội vã nói:
- Ta không có kinh nghiệm cai trị đất nước, mong tiên sinh đừng để ý.
Ninh Thích nói
- Nay nhà vua đã suy yếu, các chư hầu cũng không quản được nhau, những việc giết vua, cướp quyền vẫn thường xuyên xảy ra. Tề hầu không nỡ tâm nhìn thiên hạ hỗn loạn mới phụng vương mệnh hội họp các nước chư hầu ở Bắc Hạnh, khó khăn lắm mới xác định được ngôi vua cho ông, định lập ra minh ước. Không ngờ chữ chưa ráo mực ông đã bí mật bỏ chạy, trong con mắt của ông còn có Thiên Vương nữa không? Bây giờ Thiên Vương đại nộ cử Tề hầu đem quân tới hỏi tội. Trước hết, ông đã không phục tùng mệnh lệnh của Thiên Vương, bây giờ lại chống lại quân đội của Thiên Vương, khiến dân chúng phẫn nộ, khỏi phải đánh, sự thắng bại chẳng phải đã phân rõ rồi sao?
Tống Hoàn Công vội hỏi:
- Tiên sinh, ngài có cao kiến gì không?
Ninh Thích nói:
- Theo tôi, chi bằng đem theo một chút lễ vật hội thề với nước Tề, như vậy thì Thiên Vương và Minh chủ đều vui vẻ, chiến trận sẽ không xảy ra nữa, nước Tống cũng được an toàn.
Tống Hoàn Công lại nói:
- Trước mắt, binh mã của nước Tề đã tới, liệu họ có đồng ý giảng hoà không?
Ninh Thích an ủi ông:
- Tề hầu luôn luôn khoan hồng đại lượng, không để bụng thù hận, ông biết đấy, nước Lỗ không tới đại hội, về sau đã nhận được sai sót, nước Tề không những đã định minh ước với nước Lỗ, mà cả đất đai đã bị mất từ trước cũng đều được hoàn trả lại, huống hồ là ông!
Tống Hoàn Công vội vàng sai sứ thần đem theo lễ vật cùng Ninh Thích tới chỗ Tề Hoàn Công để nhận sai.
Tề Hoàn Công rất vui mừng đem lễ vật mà nước Tống đưa tới cho sứ giả của Thiên Vương, đồng ý với yêu cầu được gia nhập liên minh lại từ đầu với nước Tống.
Năm thứ ba Chu Ly Vương (năm 679 trước Công nguyên) Tề Hoàn Công lại hẹn họp với các nước không tới dự hội liên minh ở Bắc Hạnh như nước Vệ, nước Trịnh, nước Trần và nước Tống nửa chừng tháo chạy để kết hội liên minh ở đất Quyên (phía Tây Nam huyện Phạm, tỉnh Sơn Đông ngày nay). Như vậy là đại đa số các nước chư hầu đều thừa nhận sự xưng bá của nước Tề. Tề Hoàn Công liền trở thành bá chủ thứ nhất trong thời kỳ Xuân Thu.
Từ đây về sau các nước chư hầu lớn liên tiếp tranh bá, chiến tranh càng ngày càng khốc liệt. Nguyên nhân vì sao? Chủ yếu là vì nền kinh tế xã hội lúc đó tăng trưởng khá nhanh trong khi sự phát triển của từng nước lại không đồng đều. Các quốc gia và dân tộc lớn mạnh không thoả mãn với việc ngồi ngang hàng với các quốc gia và dân tộc nhược tiểu, yêu cầu chiếm hữu địa bàn lớn hơn, để có nhiều sức lao động hơn, nắm vững quyền lực lớn hơn, do đó mà thường xuyên nảy sinh xung đột, cục diện tranh bá giữa các nước lớn xuất hiện. Cổ kim đều nói “Thời Xuân Thu không có chiến tranh chính nghĩa”. Lúc đó tầng lớp thống trị của các nước vì lợi ích của riêng mình đã không ngừng đánh nhau, để lại hậu quả cực kì to lớn cho dân chúng. Thế nhưng về khách quan mà nói, cuộc tranh bá cũng đã góp một phần quan trọng đẩy mạnh sự tiến bộ của xã hội. Trong quá trình chiến tranh nhân dân các dân tộc qua lại nhiều với nhau, chịu ảnh hưởng lẫn nhau, càng tăng nhanh tốc độ đồng hoá và dung hợp giữa nhân dân các dân tộc, thúc đẩy tốc độ tiến lên phía trước và phát triển của toàn bộ dân tộc Trung Hoa. Mấy trăm các nước nhỏ dần dần quy tụ thành mấy chục, thậm chí vài nước lớn, đặt cơ sở cho việc xây dựng đế quốc phong kiến nhiều dân tộc thống nhất.