Trong chương trên có câu chuyện nước Tần cử Trương Nghi tới nước Sở, đề xuất việc dùng cái giá dùng sáu trăm dặm đất đổi lấy việc đoạn tuyệt ngoại giao giữa nước Sở với nước Tề, hòng phá vỡ liên minh Tề - Sở để cô lập và đả kích nước Sở. Sở Hoài Vương không nhận ra âm mưu này, đã nghe theo lời ngon tiếng đẹp của Trương Nghi, kết quả là đã bị mắc lừa: chẳng những sáu trăm dặm đất không đến tay, hơn thế còn tổn binh thất tướng, mất thành mất đất, mà ngay cả dải đất lớn vùng Hán Trung cũng bị nước Tần cướp mất. Hai nước Ngụy Hàn cũng thừa cơ xâm phạm biên cương nước Sở. Sở Hoài Vương nhìn thấy tình thế nguy cấp, không thể không mau chóng rút quân, thậm chí còn cử quan đại phu Khuất Nguyên tới nước Tề xin lỗi cầu hòa, yêu cầu lập lại liên minh cũ để cùng nhau chống lại nước Tần.
Khuất Nguyên là con người như thế nào? Ông là một nhà thơ yêu nước vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc, đồng thời là một nhà chính trị và một nhà tư tưởng kiệt xuất trong thời Chiến Quốc. Ông họ Khuất tên Bình, “Nguyên” là tên tự của ông, xuất thân từ tầng lớp quý tộc, họ đồng tông với Sở Vương. Từ nhỏ, ông đã được giáo dục về văn hóa tương đối tốt, khi hơn 20 tuổi đã có tri thức phong phú, giỏi làm thơ, viết văn, tài hùng biện cũng khá. Tuy còn trẻ mà đã làm tới chức quan Tả đồ của nước Sở (tên một loại quan của nước Sở), thường xuyên cùng nghiên cứu chính sự, đặt định pháp luật với Sở Hoài Vương. Trong việc tiếp đãi sứ thần các nước ông được Sở Hoài Vương đặc biệt tín nhiệm.
Những năm tháng mà Khuất Nguyên sống chính là thời kỳ giữa và sau Chiến Quốc, cuộc chiến tranh kiêm tính lẫn nhau giữa các nước càng ngày càng khốc liệt. Trong thất hùng thời Chiến Quốc, Tần là nước lớn mạnh nhất. Nước Tần đã dựa vào thực lực kinh tế và quân sự hùng hậu của mình, tích cực khuyếch trương ra ngoài, một lòng muốn thôn tính 6 nước kia. Sở, Tề tuy là nước lớn, nhưng không thể đơn độc chống đánh được nước Tần. Lấy nước Sở để nói, cho dù khu vực biên cương rộng lớn, quân đội nhiều nhất, thế nhưng do vì chính trị hủ bại, đang ngày một suy yếu xuống dốc, trái lại thường xuyên bị nước Tần lừa dối. Đối mặt với tình thế như vậy, Khuất Nguyên chủ trương: trong nước phải tích cực cải cách chính trị, tước bỏ, làm suy yếu đặc quyền của quý tộc chủ nô lệ, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân đân, tiến cử người hiền, gom góp tài năng thay đổi pháp chế để làm cho dân giàu, nước mạnh. Ngoài nước thì liên hiệp với các nước Tề, Ngụy, Triệu... để cùng chống Tần; những chủ trương này rất được nhân dân ủng hộ, nhưng bọn quý tộc hủ bại và thủ cựu thì kiên quyết phản đối. Vì ghen ghét đố kỵ với tài năng của Khuất Nguyên, chúng đã kín đáo hoặc trắng trọn đối đầu với Khuất Nguyên.
Một hôm, Sở Hoài Vương giao cho Khuất Nguyên khởi thảo một bộ luật quan trọng. Khuất Nguyên vừa mới viết xong bản thảo, thượng quan đại phu là Cận Thượng đến, cướp lấy để xem. Khuất Nguyên vội thu lại bản thảo đó rồi lạnh lùng nói:
- Đây chỉ là bản thảo, chưa thành quyết định, không ai được xem!
Cận Thượng bị cụt hứng, thẹn thùng bỏ đi. Vừa đến chỗ Sở Hoài Vương, hắn liền hãm hại Khuất Nguyên.
- Tâu đại vương, đại vương đã bị lừa rồi.
Sở Hoài Vương hỏi:
- Sao kia?
Cận Thượng nói:
- Chẳng phải là đại vương đã để cho Khuất Nguyên khởi thảo văn kiện sao? Mỗi khi công bố pháp lệnh, hắn lại huyên thuyên khắp nơi: “Hừ! Ngoài ta ra, phỏng còn ai làm được kia chứ!”.
- Hắn còn nói gì nữa? - Hoài Vương hỏi.
- Hắn còn nói đại vương ngu muội, tàn bạo, tầm nhìn nông cạn, các quan đại thần đều tham lam, tự tư, bất tài. Các vị đại sư trong triều đình không có hắn là hỏng hết!
Sở Hoài Vương nghe xong cho là thật, lửa giận bốc cao ba trượng, từ đó mà xa lánh Khuất Nguyên.
Khuất Nguyên là một con người không tính toán sự được mất của cá nhân, chỉ lo lắng cho nước Sở bị bọn người như Cận Thượng quấy phá, nên hễ có cơ hội là lại khuyên can Sở Hoài Vương. Sở Hoài Vương chẳng những không nghe lọt những lời khuyên bảo trung thành của Khuất Nguyên, trái lại còn chán ghét những lời can gián thẳng thắn, nên đã cho ông đi làm chức quan Tam lư đại phu, quản lý một số công việc chẳng mấy quan trọng, còn việc quốc gia đại sự thì chẳng hề thương lượng gì với ông nữa.
Sở Hoài Vương bị bọn người như Cận Thượng xúi giục, sau khi mắc lừa Trương Nghi rồi liền nghĩ tới chủ trương “Liên Tề chống Tần” của Khuất Nguyên, cảm thấy có lý, tức thì lại khởi dụng Khuất Nguyên và cử ông đi sứ sang Tề. Sau khi tới nước Tề, Khuất Nguyên đã trổ hết tài năng ngoại giao của mình, khó khăn vất vả lắm mới khôi phục được khối liên minh giữa hai nước Tề và Sở.
Tần Vương nghe nói Sở - Tề lại sắp liên hệ với nhau, lại cử Trương Nghi tới lôi kéo nước Sở. Sở Hoài Vương vốn đã muốn giết chết Trương Nghi, thế nhưng không chống đỡ nổi những lời nói tốt đẹp của Cận Thượng và Trịnh Tụ tay cho Trương Nghi, nên lại hồ đồ tha cho hắn. Chờ tới lúc Khuất Nguyên từ nước Tề trở về thì hòng bóng Trương Nghi đã chẳng còn nữa.
Sở Hoài Vương thực tình cũng không rút ra được bài học gì từ những sự việc này. Đối với bọn người như Cận Thượng, Trịnh Tụ... Sở Hoài Vương vẫn vô cùng tín nhiệm và yêu quý; đối với Khuất Nguyên thì vẫn tỏ ra lạnh nhạt, xa lánh như trước. Tài năng của Khuất Nguyên đã không được triển khai thi thố, những hoài bão chính trị mà ông ôm ấp không được thực hiện, trái lại cứ phải nhắm mắt nhìn cảnh nước Sở ngày một suy yếu, lụn bại, trong lòng phẫn nộ khôn nguôi. Ông đã đem tình yêu nước nồng nàn trong tim dồn cả vào thơ ca và đã viết nên bài thơ dài tên gọi là Ly Tao nổi tiếng. Tác phẩm văn học vĩ đại tràn đầy tinh thần yêu nước, phản ánh một tâm hồn chính nghĩa mãnh liệt và lòng quyết tâm truy tìm chân lý của Khuất Nguyên này đã đạt được thành tựu huy hoàng, chiếm được địa vị cao trong lịch sử văn học Trung Quốc và thế giới.
Năm thứ 8 Chu Nản Vương (năm 307 trước Công Nguyên) Tần Chiêu Vương lên ngôi, làm quốc quân. Tần Chiêu Vương sợ nước Sở lại kết liên minh với nước Tề sẽ khó đối phó, tức thì lại sử dụng một bàn tay mềm, để tìm cách lôi kéo nước Sở. Ông ta năng tặng lễ vật cho Sở Hoài Vương, đem cả con gái yêu cho làm con dâu Sở Hoài Vương. Sở Hoài Vương cho rằng nước Tần quả thực muốn giao hảo với nước Sở, nên đã kết liên minh với nước Tần. Nước Sở vốn đã ký kết một hiệp ước liên minh “Hợp tung” với các nước Tề, Triệu, Hàn, Ngụy.... để cùng phản đối nước Tần, ngày nay lại lật lọng một lời, điều đó đã gây nên sự bực bội của các nước khác trong hiệp ước liên minh “Hợp tung”. Năm 304 trước Công Nguyên ba nước Tề, Hàn, Ngụy liên hiệp lại, tiến đánh nước Sở đã đại phá được quân Sở. Sở Hoài Vương cử thái tử Hoành tới nước Tần làm con tin, xin nước Tần cứu viện. Cái gọi là con tin, thực chất là dùng người làm vật đặt cược, cốt giành chữ tín của đối phương. nước Tần vừa xuất quân, 3 nước kia cũng liền rút quân.
Lúc này, Thái tử Hoành vẫn còn ở lại nước Tần, chưa về nước. Thái tử thường xuyên bị người Tần làm nhục. Có lần Thái tử xung đột với một quan viên nước Tần, chàng không kìm nổi bực tức đã giết chết người đó, rồi bỏ chạy về nước Sở. Câu chuyện này đã gây nên vạ lớn. Nước Tần đã mượn cớ đó, liên hiệp với ba nước Tề, Hàn, Ngụy, cử đại quân tiến công nước Sở. Sang năm sau lại đơn động phát động cuộc tiến công, giết chết hai vạn quân Sở, chiếm giữ Tương Lăng và các thành trì khác của nước Sở. Sở Hoài Vương đành phải cầu cứu nước Tề. Lúc này, nước Tần sử dụng sách lược vừa đánh vừa lôi kéo, một mặt tiếp tục tấn công, mặt khác lại viết thư cho Sở Hoài Vương ước hẹn gặp nhau ở Vũ Quan nước Tần (nay là miền Đông Nam Bộ, tỉnh Thiểm Tây) để tiến hành cuộc hòa đàm. Sở Hoài Vương xem qua thư, trầm lặng suy nghĩ chủ ý: Đi ư, chỉ sợ quân Tần bắt giữ; không đi ư, lại sợ quân Tần cử thêm đại binh xâm phạm. Bèn triệu tập quần thần lại thương nghị. Trong các quan đại thần, có người chủ trương nên đi, có người phản đối. Đang lúc tranh luận gay gắt, bỗng nhiên có một người từ phía dưới điện đường hét to lên bước tới hét to:
- Xin đại vương ngàn vạn lần đừng đi, nước Tần không thể tin được!
Mọi người ngẩng đầu lên nhìn. Thì ra chính là Tam Lư đại phu Khuất Nguyên; ai nấy đều kinh ngạc. Tam Lư đại phu không được quyền tham gia nghị luận công việc quốc gia đại sự. Thế nhưng, Khuất Nguyên tha thiết yêu tổ quốc, từng giờ, từng phút quan tâm đến vận mệnh của quốc gia. Nay nghe nói triều đình thảo luận việc Sở Hoài Vương có nên hay không nên sang nước Tần đàm phán, chỉ sợ Sở Hoài Vương lại bị mắc lừa, không đừng được ông đã xông lên điện đường, xúc động nói với Sở Hoài Vương:
- Nước Tần từ xưa vẫn hung bạo, tàn ác như con lang, con hổ, từ xưa không giữ điều tín nghĩa. Chúng ta đã bị mắc lừa không chỉ một, hai lần. Lần trước Trương Nghi đã đánh lừa chúng ta, lẽ nào ngài quên? Lần này, Tần Vương ước hẹn họp mặt với đại vương chắc chắn là chẳng có lòng tốt gì đâu. Hễ đại vương đi, e rằng lại bị sa vào bẫy!
Quan lệnh Doãn Chiêu Tuy cùng phụ họa, nói:
- Quan đại phu Khuất Nguyên đã nói đúng, đại vương không thể đi được!
Sở Hoài Vương vẫn còn do dự chưa quyết. Số quan đại thần chủ trương thỏa hiệp đầu hàng đối với nước Tần, như con trai nhỏ của Sở Hoài Vương Tử Lam và thượng đại phu Cận Thượng, vừa nhìn thấy tình cảnh đó vội vã ngon ngọt ton hót thay cho nước Tần. Một người nói:
- Tần vương ước hẹn đàm với đại vương, tôi xem ra chẳng có ác ý gì đâu.
Một người nói:
- Thông qua đàm phán, có lẽ họ có thể trả lại cho chúng ta số đất đai mà nước Tần đã chiếm giữ. Nếu không đi thì phụ tấm lòng tốt của Tần Vương. Mắc tội với nước Tần đâu phải là chuyện đùa! - Chúng hăng hái khuyên Sở Hoài Vương nên đi. Sở Hoài Vương đã nghe và tin theo lời nói của bọn người này, cuối cùng đã quyết định sang nước Tần.
Sở Hoài Vương vừa tới Vũ quan của nước Tần, nước Tần liền cử binh cắt đứt đường về của Sở Hoài Vương, sau đó áp tải ông ta tới Hàm Dương. Tần Vương bức ép Sở Hoài Vương cắt đất đai. Sở Hoài Vương không chịu liền bị Tần Vương giam lỏng. Đến lúc này, Sở Hoài Vương mới hối hận vì đã không nghe lời khuyên trung thành của Khuất Nguyên. Muộn mất rồi! Sở Hoài Vương chạy trốn nhưng không thành, tức hận quá sinh ra ốm đau bệnh tật, đã phải bỏ thân ở nước Tần.
Khuất Nguyên nghe tin này, vừa đau thương, vừa phẫn uất. Đối với Sở Hoài Vương ngu muội bất tài, bị tù mà chết, ông đã cảm thấy đau buồn; còn đối với sự tàn ác gian trá, bỏ nghĩa bội tín của Tần Vương thì ông phẫn uất. Ông đã đem tình cảm tuôn trào này viết thành bài thơ Chiêu hồn.
Giữa lúc Sở Hoài Vương bị giam giữ ở nước Tần, nước Sở đã lập Thái Tử Hoàn lên ngôi vua, đó chính là Sở Khoảnh Tương Vương. Vị vua Sở này chẳng hơn gì cha, cũng là giống bọn hồ đồ. Sau khi lên ngôi, ông ta đã để cho Tử Lan thay thế Chiêu Tuy làm quan lệnh doãn, đi lại thắm thiết với bọn Tử Lan, Cận Thượng.... suốt ngày ăn uống, chơi bời trong cung, chẳng bao giờ quan tâm tới việc quốc gia đại sự. Quân Tần đã xâm nhập giết chết 5 vạn quân Sở, cướp 15 toà thành trì, hắn cũng chẳng để ý đến. Khuất Nguyên thấy triều đình thối nát như vậy, vận mệnh của đất nước càng ngày càng nguy cấp, trong lòng nóng như lửa đốt. Thế nhưng, ông vẫn hy vọng Khoảnh Tương Vương sẽ một sớm một chiều tỉnh ngộ. Tức thì ông viết liền mấy bức thư, tấu sớ khuyên Khoảnh Tương Vương tránh vết xe xưa, khởi dụng người hiền, đuổi bọn gian thần, đổi mới nội chính, nắm chắc luyện quân, quật cường trả mối thù huyết hận. Những bước tấu sớ này rơi vào tay bọn Tử Lan. Tử Lan sục sôi lửa hận thề phải giết chết của Khuất Nguyên rất cao, bọn Tử Lan sợ công chúng sinh phẫn uất, nên không dám tùy tiện hạ thủ. Tức thì, hắn lại nghĩ ra thủ đoạn hãm hại Khuất Nguyên bằng cách sai Cận Thượng nói xấu Khuất Nguyên trước mặt Khoảnh Tương Vương. Cận Thượng nói với Khoảnh Tương Vương rằng:
- Khuất Nguyên quả là cuồng vọng lắm lắm! Khi tiên vương còn tại vị hắn đã không để tiên vương vào tầm mắt, nay hắn lại tự ngồi trên ghế lão thần, gần đây đã ngang nhiên dâng sớ dạy bảo đại vương. Sau lưng, hắn ăn nói rất bừa bãi, hắn bảo rằng Tử Lan không chủ trương đánh diệt nước Tần là bất trung, nói đại vương không chịu báo thù cho tiên vương là bất hiếu. Đại vương là một bậc hùng tài đại lược, chịu để hắn lăng nhục như vậy sao?
Khoảnh Tương Vương càng nghe càng tức, liền vung tay, hạ lệnh triệt bỏ chức quan Tam Lư đại phu của Khuất Nguyên, đưa ông đi đày ở vùng biên cương nước Sở thuộc phía Nam Trường Giang.
Biên cương phía Nam nước Sở chính là một vùng đất thuộc phía Nam tỉnh Hồ Bắc và phía Bắc tỉnh Hồ Nam ngày nay. Khi đó ở đây còn rất hoang vu. Đối với Khuất Nguyên cuộc sống tù đày thật vô cùng gian khổ. Thế nhưng, ông vẫn từng giờ, từng phút lo lắng vận mệnh của nước Sở, luôn luôn nghĩ tới Sở Vương hy vọng Khoảnh Tương Vương sẽ triệu ông về kinh đô, để cứu vãn vận mệnh của đất nước. Song, năm này năm khác trôi qua, chẳng có tin tức gì gọi ông trở lại triều đình. Nỗi bi phẫn trong lòng Khuất Nguyên thật khó có thể hình dung nổi.
Bị đày đọa nhiều năm, sự giày vò về mặt tinh thần, về mặt đời sống đã khiến cho mái tóc của Khuất Nguyên chuyển từ màu đen thành trắng, thân thể từ mạnh sang yếu. Màu da tiều tụy, thân hình gầy guộc, động tác chậm dần, đã biến ông thành một ông già hom hem, yếu đuối. Nhưng tinh thần yêu nước của ông vẫn còn rất mạnh mẽ, ý chí truy cầu chân lý vẫn rất kiên cường. Ông không chịu khuất phục trước thế lực tà ác, quyết tâm giữ vững phẩm cách cao thượng của mình. Có một hôm, ông đi dạo ở bên bờ sông, vừa đi vừa ngâm những câu thơ mà ông sáng tác ra. Một người dân đánh cá nhận ra ông, hỏi:
- Ngài chẳng phải là Tam Lư đại phu Khuất Nguyên hay sao? Sao lại phải ra nông nỗi này?
Khuất Nguyên nói:
- Thiên hạ đều bẩn đục cả, chỉ có riêng ta là trong sạch thôi, mọi người đều say cả, chỉ có mình ta là tỉnh thôi, vì thế ta mới bị lưu đày tới đây.
Người đánh cá lại hỏi:
- Sai ngài không thuận dòng theo sóng? Nếu không, có lẽ cũng chẳng tới nông nỗi này!
Khuất Nguyên thở dài nói:
- Quần áo trên thân mình sạch sẽ ai dám nhúng xuống bùn nhơ để bẩn cả thân mình? Ta thà nhảy xuống giữa lòng sông, chôn vùi trong bụng cá, thế không cùng bọn gian thần dày xéo lên nước Sở.
Trong thời gian bị lưu đày, Khuất Nguyên đã có rất nhiều cơ hội tiếp xúc với nhân dân. Ông hiểu, nhân dân còn đói ăn, thiếu mặc, cuộc sống hết sức bi đát, thật biết bao thương cảm. Quần chúng cũng rất yêu mến ông. Ông cùng chung vui thú, cùng hưởng hoạn nạn với quần chúng nhân dân, tư tưởng tình cảm của ông đã có những biến hóa sâu sắc, khiến ông viết nên những áng thi ca tuyệt vời. Những tập thơ rực rỡ ánh hào quang như Cửu ca, Cửu chương... đại bộ phận được viết ra trong thời kỳ ấy.
Năm 37 Chu Nản Vương (năm 278 trước Công Nguyên), nước Tần cử đại tướng là Bạch Khởi dẫn binh đánh phá nước Sở, chiếm lĩnh ảnh Đô(1) của nước Sở, đã phá hoại các lăng mộ của các tiên vương nước Sở. Sở Khoảnh Tương Vương chạy trốn tới Thành Trần (nay là huyện Hoài Dương, tỉnh Hà Nam), nước Sở đã lâm vào cảnh sớm chẳng giữ được chiều. Khuất Nguyên nghe tin này, biết rằng nước Sở sắp bị diệt vong, thương xót ngậm ngùi quá đỗi mà oan ức khóc nức nở. ông không cam lòng nhìn nước Sở tan nát, không cam tâm thấy nhân dân bị nước Tần tàn hại và áp bức. Thế là vào ngày mồng 5 tháng 5 năm ấy, ông đã ôm một tảng đá to nhảy xuống Mịch La giang tự tử (đây là một chi lư của Tương Giang ở Đông Bắc tỉnh Hồ Nam). Hưởng dương 62 tuổi.
Nhân dân quanh vùng nghe tin sét đánh này đều vô cùng đau đớn, tranh giành nhau tìm vớt thi thể của ông. Cũng không biết là có bao nhiêu con thuyền tìm vớt và đã mất bao nhiêu thời gian, kết cục là vẫn không tìm thấy thi thể ông. Có người đã dùng lá lau gói cơm nếp lại ném xuống sông để cúng tế Khuất Nguyên, còn có người sợ giao long dưới sông cướp những đồ cúng đó, đã buộc chặt những sợi chỉ màu ở bên ngoài lá lau để hù dọa quái vật, đảm bảo cho Khuất Nguyên được thụ hưởng. Hoạt động mang tính chất tưởng niệm này đã lưu truyền hàng năm, rồi dần dần trở thành phong tục. Ngày nay, mỗi năm tới tết Đoan Ngọ mùng năm tháng năm âm lịch, rất nhiều địa phương tổ chức bơi thuyền rồng, nhà nhà hộ hộ đều gói bánh, có người còn dùng chỉ màu sắc buộc những vật gióng như hình trạng bánh treo trên cổ các bé tái để trừ tà. Theo truyền thuyết thì những họat động này đều có liên quan tới Khuất Nguyên!