Chuyên Húc ở ngôi được 78 năm, khi 91 tuổi thì qua đời; Đế Khốc kế tiếp địa vị của Chuyên Húc. Đế Khốc tên là Tuấn, bởi lúc đầu đặt cơ sở ở Tân (gần huyện Hợp Dương, tỉnh Thiểm Tây ngày nay), cho nên còn có tên gọi là Cao Tân Thị. Từ năm 15 tuổi Đế Khốc đã phó tá Chuyên Húc, năm lên ngôi đã 30 tuổi. Đế Khốc là con người chí công vô tư, biết xét rõ thiện ác. Khi tại vị ông biết tự nghiêm khắc với mình, nên người trong thiên hạ đều rất tín phục. Đế Khốc ở ngôi 70 năm, tới năm 105 tuổi mới qua đời, con trai ông là Chí tiếp ngôi. Bởi Chí hoang dâm vô độ, không biết tu sửa thiện chính, chín năm sau bị phế truất, Nghiêu được tiến cử làm lãnh tụ của liên minh bộ lạc.
Nghiêu họ Y Kỳ, tên là Phóng Huân, hiệu Đào Đường Thị, gọi tắt là Đường Nghiêu. Trong sách cổ nói Nghiêu rất giỏi trị thiên hạ. Nghiên hạ lệnh cho Hi và Hoà quản lý Thiên Địa, sai Hi Trọng, Hi Thúc, Hoà Trọng, Hoà Thúc lần lượt nắm giữ bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Ông còn đặt ra lịch pháp, quy định một năm có 366 ngày, chia thành 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, khiến cho nghề nông, nghề chăn nuôi, nghề đánh bắt cá và săn thú đều có thể căn cứ vào mùa tiết mà sắp xếp việc sản xuất.
Bắt đầu từ năm 16 tuổi Nghiêu đã cai trị thiên hạ, ở ngôI 70 năm. Đến năm 86 tuổi, sức đã yếu, ông muốn tìm một người thay thế. Ông phát công báo đi khắp nơi, kêu gọi tiến cử người có tài năng. Không lâu, mọi người tiến cử Ngu Thuấn, mội chàng trai tài giỏi, có thể kế thừa được.
Truyền thuyết nói rằng Ngu Thuấn họ Diêu, tên là Trùng Hoa, người Ký Châu (một vùng trong tỉnh Hà Bắc ngày nay). Cha của Ngu Thuấn bị mù, mẹ mất sớm. Người cha mù lại lấy vợ lẽ, đó chính là mẹ kế của Ngu Thuấn. Mẹ kế sinh được một người con trai đặt tên là Tượng. Tượng là một tên ma cà bông, hay ăn, biếng làm, lại vô cùng ngạo mạn, thường xuyên nũng nịu trước mặt cha mẹ, nói xấu người anh cùng cha khác mẹ là Ngu Thuấn. Người cha mù rất cưng chiều đứa con nhỏ là Tượng ấy, không thích đứa con lớn do vợ trước sinh ra là Ngu Thuấn. Hai vợ chồng già và Tượng thường ngồi lại bàn mật mưu, tìm cơ hội giết hại Ngu Thuấn, để một mình Tượng được thừa kế toàn bộ tài sản của cha mẹ. Ngu Thuấn không hề để ý. Ngu Thuấn rất hiếu thuận với người cha mù của mình, đối xử với mẹ kế và người em khác mẹ cũng rất tốt.
Đường Nghiêu nghe xong lời giới thiệu của mọi người, liền quyết định trước hết phải thử thách Ngu Thuấn, xem thử Ngu Thuấn có đầy đủ tư cách xứng đáng làm người thừa kế của mình không. Nghiêu đã đem hai người con gái của mình là Nga Hoàng và Nữ Anh gả cho Ngu Thuấn, rồi sai Ngu Thuấn tới các nơi để hoà nhập cùng với quần chúng.
Sau khi kết hôn Ngu Thuấn đem hai người vợ cùng đi trồng cấy, vẫn giữ hiếu thuận với cha mẹ và quan tâm đến em như xưa. Danh tiếng của Ngu Thuấn ngày càng lẫy lừng, mọi người đều nói Thuấn là một con ngoan, chồng tốt, anh hiền.
Ngu Thuấn tới chân núi Lịch cày cấy trồng trọt. Những người nông dân ở đó vì tranh giành đất đai mà gây chuyện xích mích dằng dai, không sao chấm dứt được. Có Ngu Thuấn bên cạnh, họ đã biết nhường nhịn lẫn nhau, giúp đỡ nhau, công việc sản xuất trở nên rất tốt. Ngu Thuấn tới vùng đất Lôi Trạch bắt cá, vốn dĩ ngư dân ở đây thường xuyên vì tranh chấp nhà cửa mà đánh nhau đến nỗi vỡ đầu chảy máu. Ngu Thuấn vừa đến, các ngư dân liền nhường nhà cửa cho nhau, hoà thuận như những người trong một gia đình. Ngu Thuấn tới bờ sông đốt lò nung gốm. Những người làm gốm ở đây từ trước vốn làm ăn cẩu thả, chất lượng đồ gốm rất kém, nay đã chịu khó làm việc, những đồ gốm chế tạo ra rất tinh xảo, đẹp đẽ. Mỗi khi Ngu Thuấn tới địa phường nào thì người nơi đó đều bám theo, chỉ một năm trời, ở đó đã hình thành thôn làng, hai năm hình thành phố xá, ba năm hình thành thành thị.
Đường Nghiêu chứng kiến thành tích tốt như vậy của Ngu Thuấn, lại được quần chúng ủng hộ nhiệt thành, lẽ dĩ nhiên cảm thấy rất vui mừng, bèn ban thưởng cho Ngu Thuấn một bộ quần áo mới và một cây đàn, còn xây dựng cho Ngu Thuấn một kho chứa lương thực, tặng Thuấn cả một đàn trâu và cừu.
Người cha mù và em trai Tượng của Ngu Thuấn nghe nói Thuấn được nhiều thứ như vậy, lại sinh lòng dạ xấu xa. Người cha mù sai Thuấn trèo lên đỉnh kho thóc lợp lại mái, đoạn ở dưới phóng lửa đốt muốn thiêu chết Thuấn đi. May mà âm mưu này đã sớm bị Nga Hoangà và Nữ Anh phát hiện, các nàng dặn dò Thuấn đem theo hai chiếc nón lên làm việc ở đỉnh kho. Thuấn nhìn thấy ở dưới bốc lửa, vội vã mỗi tay cầm một chiếc nón, giống hệt như trải rộng đôi cánh nhảy xuống đất, thoát khỏi nguy hiểm. Người cha mù và Tượng thấy kế đó không thành lại thi hành kế khác. Sau mấy ngày, người cha mù sai Thuấn đi đào giếng và khi đón chắc giếng đã đào rất sâu rồi, liền đổ đất, đổ đá xuống, muốn chôn sống Thuấn. Họ không biết rằng ở dưới đáy giếng, Thuấn đã làm thêm một ổ ngách để nghỉ. Giếng bị lấp rồi, Thuấn lại đào một cửa ra theo lối ổ ngách, trèo lên thoát ra ngoài. Tên ma cà bông Tượng cho rằng nhất định Thuấn đã chết ở dưới đáy giếng liền chạy vào phòng của Ngu Thuấn, ngồi ở trên giường của Ngu Thuấn gảy đàn kêu tích tịch tình tang. Bỗng Tượng ngẩng đầu lên nhìn thấy Thuấn trở về, thì bàng hoàng thất kinh, vội giả bộ thương xót, nói:
- Anh ơi! Em đang nhớ anh đây. Anh đào giếng thế nào mà mãi chẳng thấy về, làm cho em nhớ muốn chết!
Thuấn không hề oán trách em, trái lại đã nói:
- Em tốt quá, em quan tâm tới anh như vậy, thật đúng là người em ruột thịt cùng cha sinh ra.
Đường Nghiêu nghe nói Ngu Thuấn độ lượng khoan hồng như vậy, nên càng yên tâm đối với Thuấn, liền đem đại quyền cai trị thiên hạ giao cho Thuấn, còn mình thì đem theo một đoàn người tới các nơi thị sát. Ngu Thuấn nắm đại quần cai trị thiên hạ được hai mươi năm, mọi việc đều sắp xếp đàng hoàng nền nếp khiến người trong thiên hạ đều vô cùng bái phục. Lúc này, Đường Nghiêu đã hơn một trăm tuổi rồi, sau khi Nghiêu đi thị sát trở về, liền đem toàn bộ chức quyền lãnh tụ của liên minh bộ lạc nhường lại hết cho Ngu Thuấn, bản thân thì lùi về phía sau dưỡng già. Điều này được lịch sử gọi là “Nghiêu Thuấn thiện nhượng”- Nghiêu nhường ngôi cho Thuấn.
Ngu Thuấn đảm nhiệm chức lãnh tụ được tám năm thì Nghiêu qua đời.Thuấn càng cần cù phấn đấu làm việc, cai trị thiên hạ càng tốt hơn so với thời Nghiêu.
Vào những năm cuối đời, Thuấn cũng đi thị sát các nơi. Lần cuối cùng ông đi tuần tra khu vực Thương Ngô (vùng Đông Bắc khu tự trị tộc Choang, tỉnh Quảng Tây và vùng phía Nam tỉnh Hồ Nam ngày nay) thì mắc bệnh qua đời. Hai người vợ của ông là Nga Hoàng và Nữ Anh vô cùng thương nhớ ông, thường tựa vào cây trúc trước cửa khóc lóc bi ai, nước mắt của các bà giỏ trên cây trúc, ngưng đọng kết thành những chấm hoa văn loang lổ rất đẹp. Loại cây trúc có hoa văn vàng này về sau được nhân dân gọi là Tương phi trúc, kỳ thực chính là Ban trúc.
Câu chuyện Nghiêu nhượng ngôi cho Thuấn, đã được lưu truyền suốt mấy nghìn năm. Thời đó không để lại bất kỳ ghi chép văn tự nào, cho nên chỉ là truyền thuyết. Câu chuyện này nói rõ tổ tiên Trung Hoa ta lúc đó còn ở hậu kỳ xã hội nguyên thuỷ, không có giai cấp, lãnh tụ của liên minh bộ lạc do tuyển chọn mà ra, lãnh tụ không có các chức vụ và quyền lực đặc quyền của riêng. Thế nhưng lúc đó cũng đã bắt đầu xuất hiện một bộ phận tư hữu tài sản. Chuyện nông dân ở Lịch Sơn tranh giành đất đai, ngư dân ở Lôi Trạch tranh giành nhà cửa, Nghiêu đem bò, cừu, tài sản thưởng cho Thuấn, người cha mù và Tượng muốn chiếm đoạt tài sản của Ngu Thuấn v.v… đều minh chứng rõ xã hội nguyên thuỷ đã dần dần quá độ sang xã hội nô lệ, chế độ tư hữu đang từng bước hình thành.