Câu Tiễn đã về đến nước Việt. Để ghi nhớ nỗi đại sỉ nhục ba năm trước bị vây khốn trên núi Cối Kê, ông đã dời quốc đô tới Cối Kê. Để tránh bị sa ngã trước những cám dỗ tầm thường, suy giảm ý chí báo thù, ông đã tự dấn thân vào cảnh sống cực kỳ gian khổ. Buổi tối Câu Tiễn ngủ trên cỏ rơm, lại treo một túi mật đắng ở trong phòng, khi ăn cơm phải nếm mật trước, ý rằng đừng quên đắng cay của quá khứ. Câu tiễn còn đích thân ra đồng cày cấy, để vợ se đay, dệt vải, mục đích là kể kích động dân chúng nỗ lực phát triển sản xuất, tăng thêm của cải cho đất nước. Ông quyết định trong bảy năm liền không thu tô thuế, cốt để tăng thêm tích lũy cho xã hội, nhân dân yên tâm sản xuất. Để tăng thêm nhân khẩu, tăng nguồn lao động, bổ sung binh lính, Câu Tiễn hạ lệnh không cho phép thanh niên lấy vợ già, người già không lấy vợ trẻ. Thanh niên nam nữ đến tuổi xây dựng gia đình mà không chịu thành hôn thì cha mẹ phải chịu xử phạt. Ai sinh con, nuôi được con khôn lớn, quan phủ đều có thưởng. Sinh được từ một con trai trở lên, quan phủ sẽ nuôi dưỡng. Và như vậy, ở nước Việt, vua dân trên dưới, tu chí phấn đấu vươn lên, chỉ trong mấy năm đất nước đã chuyển dần từ yếu sang mạnh, thực lực đã tương đối hùng hậu. Để che mắt Ngô vương Phù Sai, Câu Tiễn thường xuyên sai sứ giả tới nước Ngô triều kiến, tiến cống, hơn thế, còn tăng thêm cống phẩm mà không giảm. Phù Sai rất hài lòng, càng thêm quý trọng sự “trung thành” của Câu Tiễn.
Câu Tiễn được biết Phù Sai sắp xây dựng lại Cô Tô Đài, đã sai ngay Văn Chủng đưa gỗ tới. Phù Sai trông thấy những cây gỗ vừa dài vừa lớn, thì vồ vập ra mặt, lập tức hạ lệnh thiết kế lại từ đầu kiểu dáng của cung điện theo kích thước gỗ, cử thêm dân công tới phục vụ lao dịch. Cô Tô Đài được xây dựng suốt tám năm dòng mới xong, hao người, tốn của không biết đâu mà kể. Câu Tiễn lại sai Văn Chủng và Phạm Lãi tuyển chọn được cô gái xinh đẹp nhất nước Việt là Tây Thi và Trịnh Đán đem dâng Ngô Vương. Kể từ khi Phù Sai được hai mỹ nữ, suốt ngày lo hưởng lạc thú, việc quốc sự bỏ bê trễ.
Có một năm, nước Việt mất mùa, hỏi vay lương thực nước Ngô, Phù Sai nể tình Câu Tiễn “trung thành” nhất mực, bất chấp sự phản đối của Ngũ Tử Tư, đã bằng lòng cho nước Việt một lượng thóc khá lớn. Nước Việt đem số thóc này chia cho dân chúng. Sang năm sau, mùa màng nước Việt tương đối tốt. Câu Tiễn rất coi trọng chữ tín, lại thấy những hạt thóc mà Câu Tiễn hoàn trả căng mẩy, tròn trịa, bèn đem số thóc này chia cho dân chúng làm thóc giống. Mùa xuân, dân chúng nước Ngô đem thóc gieo trồng, nhưng mãi không thấy mọc mầm, tất nhiên cũng chẳng mọc được thành mạ, hậu quả đã gây ra thất bát thu hoạch một năm. Thì ra số thóc mà nước Việt trả nước Ngô đều đã bị luộc chín. Bọn Phù Sai thì vẫn cho rằng đất đai của nước Ngô không thích hợp với sự sinh trưởng của giống thóc nước Việt.
Năm 36 Chu Kính Vương (năm 484, trước Công Nguyên), Ngô Vương Phù Sai cất quân đi đánh Tề. Ngũ Tử Tư lại phản đối:
- Thần nghe nói sau khi Câu Tiễn về nước đã cùng đồng cam cộng khổ với dân chúng, lại cử Phạm Lãi đêm ngày luyện binh, mưu đồ phục thù. Đây chính là điều Chúa công lo trước nhất. Thế mà Chúa công lại đi đánh nước Tề. Đó chẳng phải là quá mạo hiểm sao?
Phù Sai không chịu nghe, thân chinh dẫn quân đi đánh Tề. Trận này đã đại thắng. Phù Sai ca khúc khải hoàn trở về, tất cả các quan trong triều đều tới chia vui. Việt Vương Câu Tiễn cũng đích thân tới chúc mừng. Phù Sai vô cùng sung sướng, bày tiệc chiêu đãi Câu Tiễn, rồi ban thưởng tức khắc cho Câu Tiễn một bộ phận đất phong. Ngũ Tử Tư chứng kiến cảnh này, lại đứng ra phản đối, khiến Phù Sai mất vui. Về sau, Phù Sai đã cử Ngũ Tử Tư đi sứ tới nước Tề. Ngũ Tử Tư đã lường trước mối họa mình phó thác cho một vị đại thần nước Tề nuôi dưỡng, đổi họ thành Vương Tôn Thị, sau đó mới trở về Ngô. Phù Sai biết sự việc này, lập tức sai người đưa cho Ngũ Tử Tư một thanh bảo kiếm, bắt phải tự sát. Ngũ Tử Tư bị bức phải tuốt kiếm tự vẫn. Trước lúc chết ông còn căn dặn:
- Sau khi tôi nằm xuống, xin hãy trồng lên mộ tôi một cây Thu, khi cây Thu lớn thì nước Ngô cũng sẽ diệt vong. Ngoài ra xin hãy khoét đôi con ngươi mắt của tôi treo lên trên lầu cửa phía Đông Đô Thành. Chả là tôi muốn được tận mắt chứng kiến quân Việt kéo tới!
Phù Sai giết chết Ngũ Tử Tư, để cho Bá Phỉ kế nhiệm chức tướng quốc. Năm 38 Chu Kính Vương (năm 482 trước Công Nguyên), Phù Sai cùng các nước chư hầu Tấn, Lỗ... tới hội thề lập liên minh ở Hoàng Trì, (phía Tây nam huyện Phong Khưu, tỉnh Hà Nam ngày nay). Câu Tiễn cho rằng cơ hội đã tới, tức thì thống soái 5 vạn đại quân đánh thẳng vào nước Ngô. Qua ba ngày kịch chiến, quân Việt đã đánh hạ được Đô Thành nước Ngô, bắt sống Thái tử nước Ngô. Phù Sai đang ở Hoàng Trì được tin này, vội vàng dẫn quân trở về nước, cử người tới nước Việt cầu hòa. Câu Tiễn hiểu rằng nước Ngô còn thực lực, chưa dễ mà tiêu diệt được, liền bằng lòng giảng hòa, rồi rút quân ra khỏi nước Ngô.
Bốn năm sau, Việt Vương Câu Tiễn lại một lần nữa cất quân đi đánh nước Ngô. Ngô Vương nghênh chiến ở Lạp Trạch, quân đội hai bên dàn thế trận cách nhau một dòng sông. Việt Vương chia quân đội ra thành hai đường tả, hữu, lợi dụng đêm tối, luân phiên tấn công, thúc trống la hét tiến quân. Quân Ngô chỉ dám chống cự một cách bị động. Lúc này, Câu Tiễn chỉ huy quân Việt lén lút qua sông, phát động cuộc tiến công mãnh liệt vào đại bản doanh của quân Ngô. Quân Ngô phút chốc rối loạn, nhanh chóng bị đánh tan rã trên toàn tuyến, quân lính đại bại phải chạy trốn.
Quân Việt thừa thắng đuổi theo, liên tiếp đánh bại quân Ngô. Phù Sai bị vây khốn ở Dương Sơn (phía Tây huyện Ngô, tỉnh Giang Tô ngày nay), cùng đường hết lối, đành phải cầu hòa với Câu Tiễn. Bá Phỉ sớm đầu hàng. Phạm Lãi và Văn Chủng đều cho rằng trong giờ khắc mấu chốt này không thể mềm lòng được, họ nói:
- Đại vương đã nằm gai, nếm mật, gắng sức tự cường, cố sức suốt 22 năm, giờ là lúc phải trừ diệt Phù Sai tận gốc, tiêu diệt nước Ngô, tuyệt đối không để lại hậu họa.
Lúc này, Phù Sai mới cảm thấy hối hận vì đã không nghe lời khuyên trung thực của Ngũ Tử Tư. Tự thẹn với đời, ông ta ngậm lời tự sát. Trước khi chết còn dặn dò:
- Sau khi ta chết, các ngươi hãy dùng vải che kín mặt ta, bởi ta thực sự không còn mặt mũi nào gặp lại Ngũ Tử Tư!
Năm 44 Chu Kính Vương (năm 476, trước Công Nguyên) Việt Vương Câu Tiễn đã tiêu diệt xong nước Ngô, lại giết chết Bá Phỉ. Tiếp đó, Câu Tiễn thống soái quân Việt thừa thắng vượt qua Hoàng Hà tiến lên phía Bắc, tới hội thề liên minh với các nước chư hầu như Tề, Tấn, Tống, Lỗ... ở đất Từ (phía nam huyện Đằng, tỉnh Sơn Đông ngày nay); rồi sai người đem cống phẩm tới cho Thiên Tử nhà Chu. Chu Nguyên Vương sai sứ giả đem thịt đến tế miếu Câu Tiễn, thừa nhận địa vị làm lãnh tụ các nước Chư hầu của Câu Tiễn. Như vậy là Việt Vương Câu Tiễn cũng đã xưng bá, trở thành một bá chủ cuối cùng của thời đại Xuân Thu.
Ngô Vương Phù Sai sau khi đánh bại nước Việt, đã bị thắng lợi làm cho mụ mị đầu óc, bị tha hóa trong an nhàn hưởng lạc, buông lỏng cảnh giác, kết quả là đã bị nước Việt tiêu diệt. Còn Việt Vương Câu Tiễn, sau khi bị thảm bại, đã phấn đấu gian khổ, tự lực tự cường, cuối cùng đã tiêu diệt được nước Ngô, hơn thế đã tiến vào xưng bá ở Trung Nguyên.