Sau trận chiến ở Thành Bí, tiếng tăm Sở Trang Vương lừng lẫy cả Hoàng Hà, chấn động Bắc Phương, đúng là không ai bì kịp. Bởi phương Bắc có nước Tấn cản trở, nước Sở phải phát triển về phía Đông, thôn tính rất nhiều nước nhỏ, thống nhất lại vùng Trung du Trường Giang và lưu vực Hán Thủy; nền kinh tế và văn hóa đã có sự phát triển, trở thành một trong những quốc gia mạnh nhất lúc đó. Nước Tấn không cam tâm chịu thất bại, nhưng nhất thời lại không đủ sức tấn công nước Sở, đã phát triển lên phía Bắc, thôn tính rất nhiều nước nhỏ và bộ lạc Nhung Địch thuộc các dân tộc thiểu số phương Bắc, đem một bộ phận Sơn Tây, miền Tây Nam Hà Bắc, Hà Nam và Thiểm Tây hiện tại thống nhất lại; so với nước Sở vẫn là cờ trống tương đương, cân bằng lực lượng. Hai nước Tấn và Sở luôn luôn nhòm ngó lẫn nhau, rình mò cơ hội để đánh bại lẫn nhau.
Lúc này, nội bộ các nước đang phát sinh ra những biến hóa cực kỳ to lớn. Trong cuộc chiến tranh tranh bá, các nước chư hầu chủ yếu dựa vào lực lượng quan đại phu, cho nên họ đành phải đem đất đai, của cải cướp đoạt được trong chiến tranh, lấy ra phần lớn, để thưởng cho các quan đại phu. Từ trong số quan đại phu này nhà vua tuyển chọn ra một người hoặc vài người làm khanh, giúp đỡ nhà vua nắm giữ chính quyền đất nước. Khanh cũng là chế độ truyền đời cho con cháu. Lực lượng của quan đại phu không ngừng được tăng cường, thực quyền của nhà vua dần dần rơi vào trong tay thế khanh. Nước Tấn có mấy nhà đại quý tộc, họ Loan, họ Khích, họ Trung Hành, họ Phạm, họ Hàn, họ Triệu, họ Ngụy, đều rất có thế lực, thậm chí ngay cả việc phế hay lập nhà vua, họ đều có tiếng nói quyết định.
Năm 12 Chu Giản Vương (năm 574 trước Công nguyên) Tấn Lịch Công lợi dụng lực lượng của họ Loan tiêu diệt họ Khích. Lực lượng họ Loan càng ngày càng lớn mạnh. Từ Tấn Lịch Công tới Tấn Điệu Công, Tấn Bình Công, thay đổi mấy triều vua, vậy mà thế lực của nhà họ Loan chỉ có tăng mà không giảm. Bắt đầu từ Loan tân, qua Loan thư tới Loan Doanh, liền bảy đời nắm quyền ở triều đình. Các quan đại thần văn võ triều Tấn rất nhiều người xuất thân từ nhà họ Loan. Sau khi Tấn Bình Công lên ngôi cảm thấy quyền lực của họ Loan quá lớn, trực tiếp uy hiếp đến mình, liền tìm cách triệt họ Loan. Mấy nhà đại quý tộc khác cũng thấy họ Loan quá hống hách, nếu có thể bị tiêu diệt hết họ Loan, bớt đi được đối thủ cạnh tranh, thì họ cũng sẵn sàng ủng hộ kế hoạch của Tấn Bình Công.
Ông nội của Loan Doanh là Loan Thư; khi Loan Thư nắm quyền, đã bức tử Tấn Lịch Công. Tấn Bình Công liền vị cớ này buộc con cháu của Loan Thư phải đền tội. Tấn Bình Công dự định trước hết cho bắt hết vây cánh của Loan Doanh. Quan đại phu là Pham Cái nói:
- Loan Doanh còn sống, Chúa công bắt hết vây cánh của ông ta, đập cỏ cho rắn sợ, e sẽ hỏng việc. Chúa công nên điều Loan Doanh ra khỏi Giáng Thành (Đô Thành nước Tấn), sau đó hãy thanh trừ vây cánh của ông ta.
Tấn Bình Công sai Loan Doanh tới Trước ấp làm việc. Loan Doanh vừa đi, Trịnh Văn Công liền tuyên bố tội trạng của Loan Thư, đem bắt hết những người thuộc gia tộc họ Loan còn lại ở trong đô thành, sau đó cử người đuổi theo Loan Doanh. Loan Doanh được tin này, quay ngay đầu xe, chạy sang theo nước Tề. Tề Trang Công rất nhiệt tâm tiếp đãi Loan Doanh, bằng lòng giúp đỡ Loan báo thù.
Năm 22 Chu Linh Vương (năm 550, trước Công nguyên) Tề Trang Công đưa Loan Doanh tới Khúc ốc, chấn hưng cờ trống, đánh về Giáng Đô, thế nhưng Loan Doanh chưa chuẩn bị xong, quân đội do Tấn Bình Công cử đến đã bao vây chặt Khúc ốc. Trải qua hơn một tháng chiến đấu kịch liệt, Loan Doanh và những người đi theo đều bị giết chết. Từ đây, gia tộc họ Loan bị diệt vong.
Họ Loan đã bị diệt, trong lòng Tấn Bình Công vẫn không yên, mấy nhà quý tộc nổi lên về sau như họ Hàn, họ Triệu, họ Ngụy lại đã lớn mạnh lên. Họ đổi mới biện pháp thống trị, giảm nhẹ bóc lột, ban thưởng cho những người có quân công, nên đã tranh thủ được rất nhiều dân chúng, thực lực dần dần đã vượt qua nhà vua.
Hiện tượng này không chỉ phát sinh ra ở một nước Tấn, như họ Điền, họ Cao, họ Quốc ở nước Tề. Họ Quý Tôn, họ Mạnh Tôn, họ thúc Tôn ở nước Lỗ, qua cuộc chiến tranh tranh bá lâu dài, lực lượng đã không ngừng lớn mạnh. Tông tộc của họ đã trở thành dòng họ mạnh, thái ấp của họ đã biến thành nước mạnh, tạo thành sự uy hiếp cực kỳ đối với nhà vua. Nhà vua vì sợ ngôi báu của mình không vững, chẳng còn lòng dạ nào đi tranh bá với các quốc gia khác nữa? Nước Sở cũng có sự phiền phức của nước Sở. Nước Ngô vốn dĩ là nước phụ thuộc của Sở, lúc này cũng dần lớn mạnh lên, thường hay quấy rối biên cương của Sở; khi nước Sở tiến lên phía Bắc tranh bá, vẫn cứ phải canh cánh lo hậu phương. Các quan đại phu ở trong những nước nhỏ còn lại cũng đang tiến hành thôn tính, Hồ Yển vọng giảm bớt các cuộc chiến tranh đối ngoại. Trong tình hình như vậy, các chư hầu và quan đại phu của rất nhiều quốc gia đều bằng lòng tạm thời đình chiến, tức thì cục diện các nước lớn tranh bá có xu hướng hòa hoãn xuất hiện.
Năm 26 Chu Linh Vương (năm 546, trước Công nguyên), quan đại phu nước Tống là Hướng Tuất hẹn hò với hai nước lớn là Tấn và Sở, mở hội nghị để bàn việc dẹp yên chiến sự. Hướng Tuất và quan đại phu nước Tấn là Triệu Vũ, quan đại phu nước Sở là Khuất Kiến đều rất có tình bạn thân thiết, muốn thuyết phục hai nước đình chiến. Khi hai nước đều rơi vào tình trạng không đủ sức chiếu cố tới bên ngoài nữa, nghe Hướng Tuất đề nghị, họ đều tán thành ngay.
Tháng 7, tại đô thành Thương Khâu nước Tống đã triệu tập hội nghị “nhị binh” (dẹp yên chiến sự, đình chỉ chiến tranh), tổng cộng có mười quốc gia tham dự. Những người tham dự hội nghị liên minh lần này khác hẳn với lần trước. Hội liên minh lần trước là đích thân chư hầu tới tham dự, những người tới dự hội liên minh lần này hoàn toàn là những quan đại phu có quyền lực của các nước: Nước Tấn và Triệu Vũ, nước Sở và Khuất Kiến, nước Tống là Hướng Tuất, nước Lỗ là Thúc Tôn Báo, nước Vệ là Thạch ố, nước Trịnh là Lương Tiêu. Hội nghị phân thành hai tập đoàn do Tấn và Sở cầm đầu. Tập đoàn phía nước Tấn bao gồm các nước Lỗ, Vệ, Trịnh, Tào... phía nước Sở bao gồm các nước Thái, Trần, Hứa,... nước Tống là Đông đạo chủ, lại là người phát khởi hội nghị, dĩ nhiên đã tham gia đại hội. Nước Tề và nước Tần là nước lớn độc lập, có địa vị ngang hàng với Tấn và Sở, không phụ thuộc phía nào cả nên không tham gia hội nghị. Hai bên tham gia hội nghị cùng bàn bạc quyết định: Hai nước Tấn và Sở cùng làm bá chủ. Từ đó về sau, thuộc quốc của nước Sở cũng phải triều cống nước Tấn; thuộc quốc của các nước Tấn cũng phải triều cống nước Sở. Số nước nhỏ này cần phải chuẩn bị hai phần cống phẩm, thế là phần phải gánh vác đương nhiên đã tăng thêm.
Khi các điều kiện được ấn định xong xuôi, sắp sửa uống máu ăn thề, Khuất Kiến của nước Sở lại tìm Hướng Tuất nói:
- Hai minh chủ, tất nhiên phải có trước sau chứ? Ông hãy tới bàn với nước Tấn, khi uống máu ăn thề nước Sở phải đứng ở trên đầu.
Hướng Tuất rất khó xử, thế nhưng ông là người đề xướng ra, đành phải đi tìm Triệu Vũ của nước Tấn. Triệu Vũ không đồng ý, nói:
- Tiên quân Văn Công của chúng tôi đã làm minh chủ sớm nhất, nước Sở làm sao có thể đứng ở trên đầu chúng tôi được?
Hướng Tuất nói lại lời này với Khuất Kiến, Khuất Kiến nói:
- Mọi người đều nói Tấn Sở là bá chủ bình đẳng, nếu như vẫn cứ để nước Tấn đứng ở trước vô hình trung nước Sở chúng tôi chẳng phải bị coi là đứng hàng thứ hai rồi hay sao? Lần này muốn nói gì cũng phải để cho nước Sở chúng tôi đứng trên đầu.
Kỳ thực, người nước Sở tới khai hội đã có sự chuẩn bị sẵn sàng, bên trong quần áo của họ đều là giáp sắt, giấu sẵn binh khí; văn không được thì dùng đến võ, muốn giết chết Triệu Vũ ngay tại hội nghị, độc chiếm chức bá chủ hội liên minh lần này, tiếp đó sẽ xưng bá thiên hạ. Triệu Vũ nhận thấy tình thế đã xấu đi, đành phải nhượng bộ, để cho nước Sở làm chủ liên minh.
Hai bên Tấn Sở ước định, nếu ai phá hoại minh ước, thì sẽ bị các nước khác đến trừng phạt. Từ đây về sau, hai nước Tấn Sở chia đều bá quyền, nước Sở có thể tập trung lực lượng đối phó với nước Ngô, nước Tấn cũng có thể chuyên tâm tiến hành tranh đoạt nội bộ. Do vậy, trong thời gian mười mấy năm sau hội nghị dẹp yên chiến sự này, giữa mười quốc gia đó không có giao chiến, vì thế toàn bộ các cuộc chiến tranh đối ngoại của các nước chư hầu đã giảm đi nhiều. Thế nhưng, các cuộc đấu tranh giành quyền đoạt thế giữa các tập đoàn khác nhau trong nội bộ chư hầu, trái lại, đã trở nên vô cùng gay gắt. Cho nên có thể nói, hội nghị dẹp yên chiến sự lần này là một đường ranh giới rất quan trọng. Trước hội liên minh, chủ yếu là chư hầu thôn tính lẫn nhau, thứ đến là quan đại phu thôn tính lẫn nhau. Sau hội nghị liên minh thì chủ yếu là quan đại phu thôn tính lẫn nhau, thứ đến là chư hầu. Xã hội của từng nước đang ấp ủ một sự biến đổi cực kỳ lớn lao.