Truyện Thông sử Trung Quốc

Lượt đọc: 764 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
52. Ba nhà phân chia nước Tấn

❊ ❊ ❊

Sau “Xuân Thu” là thời Chiến Quốc. Theo ý kiến của đại đa số các nhà sử học, thời Chiến Quốc bắt đầu từ Nguyên Vương nguyên niên triều nhà Chu (năm 474 trước Công Nguyên) kết thúc vào năm 26 Tần vương Chính (tức là năm Tần Thủy Hoàng thống nhất toàn quốc, năm 221, trước Công Nguyên), tổng cộng 255 năm. Tại sao thời kỳ này lại gọi là thời đại Chiến Quốc? Đây là một thời đại như thế nào?

Cuối thời đại Xuân Thu, quyền lực của thiên vương nhà Chu đã hoàn toàn suy yếu, giữa các nước xảy ra tình trạng mạnh xâm lược yếu, lớn nuốt nhỏ, tranh nhau làm bá chủ. Trong một vài nước chư hầu, một số Khanh đại phu (lúc đó trong các nước chư hầu, dưới nhà vua đặt ra tước vị gồm ba đẳng cấp là Khanh, Đại phu và sĩ) cũng liều lĩnh mở rộng đất phong của mình. Họ cổ vũ nông dân khai hoang, sử dụng phương thức bóc lột phong kiến mới, cho phép nông nô có quyền tự do thân thể ở mức tương đối. Nông dân nhờ họ mà cuộc sống đã khá hơn so với khi ở dưới ách thống trị của nhà vua. Có Khanh đại phu vì muốn mở rộng thế lực của mình còn sử dụng các biện pháp mua chuộc lòng dân, ví dụ như giảm nhẹ tô thuế... như vậy, đã đến lúc ngày càng có nhiều nông nô không chịu nổi sự áp bức bóc lột tàn khóc của nhà vua, họ đua nhau chạy trốn tới chỗ Khanh đại phu để làm tá điền. Thế lực của Khanh đại phu do vậy cũng ngày càng lớn, thậm chí đã vượt qua cả nhà vua. Nước Tấn chính là một ví dụ.

Ở thời Xuân Thu, nước Tấn là một nước lớn, nhì, thế nhưng đến cuối thời kỳ Xuân Thu, trên thực tế nước Tấn đã trở thành vài ba nước nhỏ, nhà vua chỉ còn là bù nhìn. Một số Khanh đại phu mỗi người cắt cử một địa bàn, lập ra quân đội, tấn công lẫn nhau, tranh giành đất đai của nhau. Về sau, một số nước nhỏ bị nước lớn thôn tính, chỉ còn lại bốn nhà là Trí, Triệu, Ngụy, Hàn. Đại phu của bốn nhà lúc đó là Trí Bá, Triệu Tương Tử, Ngụy Hàn Tử, Hàn Khang Tử, trong đó Trí Bá có thế lực lớn nhất. Trí Bá một lòng muốn phế bỏ vua Ai Công của nước Tấn, tự xưng vua. Thế nhưng Trí Bá sợ ba nhà kia cũng tới tranh giành đòi làm vua bèn nghĩ ra một biện pháp để làm suy yếu ba nhà: Trí Bá mượn cớ nhà vua muốn đi trừng phạt nước Việt, nhưng lực lượng không đủ, bắt bốn nhà mỗi nhà hiến cho nhà vua một khoản đất rộng một trăm dặm vuông. Do Ai Công trên thực tế đã bị Trí Bá khống chế, nên nếu ba nhà tuân theo lệnh thì Trí Bá có thể thu được khoảnh đất rộng ba trăm dặm vuông một cách ngon lành, thanh thế của Trí Bá sẽ càng mạnh hơn; nếu nhà nào không nghe thì Trí Bá sẽ tới hỏi tội vì đã dám cuỡng lệnh nhà vua. Đây chính là sự tính toán như ý của Trí Bá.

Trí Bá sai người tới ba nhà đòi đất. Hàn Khang Tử và Ngụy Hàn Tử sợ hãi quyền thế của Trí Bá, đều dâng đất theo con số đã ấn định, duy chỉ có họ Triệu là không tuân lệnh này. Triệu Tương Tử xông tới trước mặt người của Trí Bá cử đến, hét lên:

- Đòi đất ư? Đất này là của tổ tiên ta để lại, ta không thể dễ dàng lấy ra để gia ân được.

Trí Bá tức tối muốn nổ tung lồng ngực, lập tức mang đội quân liên hợp của hai nhà Hàn Ngụy đến đánh Triệu - trước đó đã thỏa thuận, sau khi thắng lợi đất đai của nhà Triệu sẽ chia đều cho ba nhà. Thế là binh mã của ba nhà rầm rầm rộ rộ kéo thẳng tới Triệu. Triệu Tương Tử vấp phải thế hùng, không dám liều lĩnh, đành phải lùi về giữ Tấn Dương (thành phố Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây ngày nay). Thành Trì Tấn Dương này lần lượt trải qua sự kinh doanh khổ sở vất vả của hai gia thần nhà Triệu, chẳng những đã dựng được Cung điện nguy nga rộng rãi và tường thành vững chắc, mà sản xuất cũng được phát triển mạnh mẽ. Sau khi Triệu Tương Tử tới đó, thấy tường thành kiên cố, lương thảo sung túc, vô cùng sung sướng, thế nhưng lúc nhìn lại quân đội của mình, thấy sự chuẩn bị còn sơ sài, đao kiếm phần lớn đã bị hư hỏng, cũ kỹ, cung nỏ càng ít, lo sợ không chống nổi sự tấn công của Trí Bá, nên rất buồn rầu. Triệu Tương Tử triệu tập các quan đại thần tới bàn bạc. Quan đại thần là Trương Mạnh Đàm nói với Trương Tử:

- Thoạt đầu, khi xây dựng tường vây quanh Cung điện Tấn Dương, phòng tương lai sẽ gặp tình thế bất lợi, quanh phía bên trong tường đã chất đầy củi lau và cành gai, những thứ này đều là nguyên liệu tốt để làm cán cung; cột cung điện bằng đồng có thể làm đao, kiếm, giáo, mác.

Triệu Tương Tử tức khắc sai người đục tường vây rỡ cột đồng; thoạt nhìn thì thấy còn rất tốt, củi lau và cành gai đều vẫn rất rắn chắc. Tưởng Tử mừng rỡ cười ngoác miệng, nói:

- Tốt lắm! Tốt lắm! Giờ thì đã có phương cứu hộ rồi!

Tức thì Tương Tử sai người ngay đêm đó chế tạo các loại vũ khí như đao, thương, cung, nỏ... tăng cường chuẩn bị phòng thủ, chờ bọn Trí Bá tấn công.

Binh mã của ba nhà Trí, Hà, Ngụy vừa kéo đến đã vây chặt thành Tấn Dương tới mức nước không rỉ ra được, gió không thể thổi qua, rồi liều mạng đánh vào. Triệu Tương Tử dựa vào vũ khí tinh nhuệ, lương thảo dồi dào, quân dân anh dũng, kiên định giữ chắc được hơn ba tháng. Trí Bá thấy đánh thành không được, suốt ngày sùng sục như dầu sôi, lửa cháy.

Một hôm, Trí Bá trèo lên núi Long Sơn ở phía Tây Bắc thành Tấn Dương quan sát địa hình, nhìn sông Tấn Hà chảy qua góc phía Đông Bắc của thành chợt nghĩ ra một biện pháp phá thành, liền vội vàng mời hai nhà Hàn, Ngụy tới thương nghị, Trí Bá nói:

- Tôi nghĩ, thừa lúc này, nước sông không to lắm ta cho đắp một bờ đập lớn ở trong sông, để tích trữ nước, tới lúc đó, bọn trong thành sẽ chạy đi đâu?

Nói xong, Trí Bá cười khà khà. Hai nhà Hàn, Ngụy không dám không theo, đều nói đó là một kế hay. Binh lính của ba nhà đều tuân theo mệnh lệnh của Trí Bá lập tức hành động, đắp ngay bờ đập. Đến mùa mua, Trí Bá sai người phá vỡ con đập ở bờ nam, nước lũ cuồn cuộn vây quanh thành Tân Dương, ngay ở trong thành nước cũng đã ngập sâu tới hơn thước. Thế nhưng ở trong thành Tân Dương, trên từ Triệu Tương Tử, dưới tới dân chúng đều thề chết quyết không đầu hàng, ngày đêm phòng thủ, không chút chểnh mảng. Và như vậy, thành bị vây suốt ba năm trời, trong thành không ít nhà đã bị đổ sập, lương thực cũng sắp sửa cạn, binh lính ốm la liệt, trước mặt không thể giữ yên được nữa. Triệu Tương Tử vô cùng lo lắng, lại cùng bàn bạc với các quan đại thần tìm cách giải cứu. Quan đại thần Trương Mạnh Đàm nói:

- Thần cho rằng, hai nhà Hàn, Ngụy với nhà họ Trí chỉ bằng mặt mà không bằng lòng. Thần sẽ tới tìm họ để bàn bạc, tranh thủ họ để cùng chúng ta đối phó với nhà họ Trí.

Triệu Tương Tử đồng ý cho Trương Mạnh Đàm đi thử xem.

Trương Mạnh Đàm nhân lúc trời tối lẻn trốn vào doanh trại của Hàn, Ngụy, nói với Hàn Khang Tử và Ngụy Hàn Tử:

- Tục ngữ nói chẳng sai, “môi hở răng lạnh”. Hiện nay Trí Bá dẫn đầu binh mã của hai nhà các ông tới đánh nhà Triệu chúng tôi. Nếu nhà Triệu mất thì sẽ đến lượt các ông đó!

Hai nhà Hàn, Ngụy vốn từ trước vẫn có ý thức cảnh giác đối với Trí Bá, họ nghĩ, dù cho ba nhà có chia nhau họ Triệu, kẻ mạnh vẫn là nhà họ Trí. Trí Bá tâm địa ghê gớm, lòng tham vô đáy, tương lai mình cũng khó tránh khỏi kết cục của nhà họ Triệu. Nghe Trương Mạnh Đàm nói họ càng thêm lo lắng; thế nhưng sợ bắt hổ không thành tất bị hổ cắn, có điều thằng cha Trí Bá này vừa xảo trá lại vừa độc ác, sự việc chúng ta bàn bạc vạn nhất bị tiết lộ ra, thì đại họa sẽ giáng xuống đầu đó.

Trương Mạnh Đàm an ủi họ mấy câu, bằng lòng bảo đảm giữ bí mật. Chẳng mấy chốc cả ba cùng thương lượng xong biện pháp tiêu diệt nhà họ Trí.

Hôm đó, Trí Bá cùng với Hàn Khang Tử, Ngụy Hàn Tử quan sát thế nước. Trí Bá chỉ xuống thành Tấn Dương đang bị nước lũ vây chặt bốn bề, dương dương tự đắc nói:

- Giờ ta mới được biết thế nào là lợi hại của nước: nước có thể làm diệt vong một quốc gia! Các ông nhìn kìa, nước này nếu lại dâng cao thêm một chút nữa thì toàn bộ thành Tấn Dương sẽ bị lấn chìm!

Hai người Hàn, Ngụy vừa nghe xong, liền nói:

- Đúng vậy! Đúng vậy!

Thế nhưng con tim họ hoảng hốt cứ nhảy nhót, phập phồng. Thì ra là đô thành của Ngụy và Hàn đều có sông chảy qua. Nếu trong tương lai Trí Bá cũng dùng nước đối phó với họ thì sẽ ra sao? Họ vội sai người bí mật liên hệ với Triệu Tương Tử, ước định hành động sớm hơn.

Nửa đêm hôm đó, hai nhà Hàn, Ngụy phá vỡ con đập ở bờ Bắc, nước liền chảy vào doanh trại của nhà họ Trí. Quân Trí đại loạn, vội vàng đi ngăn nước. Binh mã của Hàn, Ngụy thừa cơ tấn công từ hai bên. Triệu Tương Tử dẫn quân đánh vào doanh trại nhà họ Trí từ mặt chính diện, hét to:

- Ai bắt sống được Trí Bá sẽ có trọng thưởng!

Trí Bá đang say trong cơn mộng, bừng tỉnh dậy, đã thấy đại quân người ngựa của Hàn, Ngụy đã áp sát, còn quân mình thì đang rối loạn. Biết thế lớn đã mất, đành phải liều mình chạy trốn. Hắn muốn lên thuyền sang bờ bên để lên núi Long Sơn, rồi tới nước Tần cầu viện binh. Chẳng ngờ Triệu Tương Tử đã sai quân mai phục sẵn ở đó, chờ Trí Bá. Hắn vừa lên bờ, quân Triệu đã xông tới như ong vỡ tổ, bắt sống. Trí Bá rồi giết chết ngay. Quân đội nhà họ Trí, đứa chết, đứa bị thương, rất nhiều tên bị bắt làm tù binh.

Trí Bá vừa chết, địa bàn của hắn đã bị ba nhà Hàn, Triệu, Ngụy, chia nhau. Đây là sự kiện xảy ra vào năm 16 Trinh Định Vương nhà Chu (năm 453 trước Công Nguyên).

Chẳng bao lâu, Triệu Tương Tử bị ốm rồi qua đời, người cháu của Trương Tử là Triệu Hoàn trở thành thủ lĩnh của nhà Triệu. Triệu Hoàn thương lượng với hai nhà Ngụy, Hàn nhân lúc vua mới của nước Tấn là U Công vừa lên ngôi, dứt khoát đem địa bàn của hắn chia đều nhau. Như vậy là nước Tấn chỉ còn lại ba nhà Triệu, Hàn, Ngụy mỗi người đứng riêng biệt. Sự kiện này sử sách gọi là “Ba nhà chia nhau nước Tấn”, gọi Hàn, Triệu Ngụy là “Tam Tấn”. Tấn U Công tuy vẫn còn giữ được danh vị của nhà vua, thế nhưng chỉ có dựa vào hai thành nhỏ mà Tam Tấn lưu lại để duy trì cuộc sống, quyền lực chẳng có gì khắp nơi phải làm việc theo sắc mặt của “Tam Tấn”, hệt như được xếp đặt vậy. Từ đấy, nước Tấn chiếm hữu nô lệ đã chuyển hóa thành ba nước Triệu, Hàn, Ngụy theo chế độ phong kiến.

“Tam Tấn” tuy là ba quốc gia, nhưng không được kể là chư hầu, danh phận của họ vẫn còn là Khanh, khi trao đổi qua lại với vua các nước chư hầu khác luôn luôn phải chịu thấp hơn người một mức. Nếu muốn được làm chư hầu cần phải được sự bổ nhiệm của Chu Thiên Vương. Năm 23 Chu Uy Liệt Vương (năm 403 trước Công Nguyên), mỗi người “Tam Tấn” đều cử đại biểu của mình cùng tới Vương thất nhà Chu để xin phong. Kỳ thực lúc này Chu Thiên Vương chỉ là một bộ khung trống rỗng, không đủ sức quản công việc của các chư hầu, “Tam Tấn” tới xin phong chẳng qua là để thực hành thủ tục hợp pháp mà thôi. Uy Liệt Vương trước sự việc đã rồi đành phải lỏng tay phong cho thủ lĩnh nhà Hàn là Hàn Kiền làm Hàn Hầu, thủ lĩnh nhà Ngụy là Ngụy Tư làm Ngụy Hầu, thủ lĩnh nhà Triệu là Triệu Tịch làm Triệu Hầu. Từ đây “Tam Tấn” đã chính thức trở thành ba nước chư hầu độc lập. Sự kiện này đánh dấu việc giai cấp địa chủ mới trỗi dậy đã giành được chính quyền của nước Tấn và chế độ phong kiến đã hình thành ở nước Tấn.

Trong khi ấy, chế độ nô lệ ở các quốc gia khác cũng đang dần dần tan rã, giai cấp địa chủ mới nổi lên, lần lượt giành được chính quyền ở các nước. Lịch sử Trung Quốc bắt đầu bước vào thời kỳ mới của xã hội phong kiến.

Tới lúc này, mười mấy nước lớn ở cuối thời Xuân Thu, trải qua các cuộc chiến tranh và thôn tính kịch liệt, một số quốc gia đã bị diệt vong, số khác thì mạnh lên, chỉ còn lại bảy nước lớn là Tề, Sở, Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, Tần và vài nước nhỏ. Bảy nước lớn này được gọi là Chiến Quốc thất hùng. Để bảo tồn và mở rộng thế lực của mình, họ nghĩ kế đi xâm chiếm đất đai, tiêu diệt thực lực của các nước khác, không ngừng gây chiến trên quy mô ngày càng lớn. Các sách sử sau này gọi là thời kỳ chiến tranh triền miên không dứt đó là thời Chiến Quốc.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.