Ba triều đại Hạ, Thương, Chu là thời kỳ xây dựng, phát triển rồi dần dần suy tàn của xã hội nô lệ Trung Quốc. Xã hội nô lệ là xã hội tiến bộ hơn xã hội nguyên thuỷ, lại là xã hội đầu tiên hình thành giai cấp, có người bóc lột người, có người áp bức người. Nó được xuất hiện dần dần hình thành theo chế độ tư hữu tài sản ở cuối xã hội thị tộc phụ hệ. Triều Hạ ở vào khoảng năm 2200 đến năm 1700 trước Công nguyên. Triều Thương ở vào khoẩng năm 1700 đến năm 1100 trước Công nguyên. Triều Chu phân ra Tây Chu và Đông Chu. Tây Chu từ năm 1100 đến năm 771 trước Công nguyên.
Triều Hạ đã xác lập chế độ truyền ngôi vua theo kiểu thế tập cha truyền con nối, bộ máy nhà nước có quân đội, hình pháp, nhà tù v.v... đã có nền nông nghiệp lợi dụng ngòi lạch để tưới tiêu, đã có lịch pháp có quan hệ rất mật thiết với sản xuất nông nghiệp, đã có thể đúc được những công cụ bằng đồng đen như đỉnh, tước1, dao, dùi, đục v.v...Có khả năng đã có văn tự, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa phát hiện những ghi chép văn tự thành thiên. Việc sử dụng nô lệ còn rất phổ biến ở Triều Hạ.
Bộ máy nhà nước theo chế độ nô lệ triều Thương so với triều Hạ được tăng cường mạnh mẽ hơn, việc sử dụng nô lệ tương đối phổ biến hơn, nông nghiệp phát đạt hơn triều Hạ, đã có thể sản xuất được nhiều loại cây lương thực, đã biết dùng lương thực ủ rượu, các loại rau dưa và cây dâu cũng đã được trồng rộng rãi. Thủ công nghiệp phát đạt, nhấn là nghề đúc đồng đen, thứ nữa là nghề làm gốm và dệt vải. Triều Thương đã có văn tự tương đối hoàn hảo, biết khắc chữ trên mai rùa và xương thú, gọi là Giáp Cốt văn. Trong Giáp Cốt văn có ghi chép không ít các tư liệu về chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự v.v... bên cạnh đó là những tư liệu về các cuộc khởi nghĩa của nô lệ.
Tây Chu đã có một hệ thống chính trị của chế độ nô lệ, đó chính là Thiên tử - Chư hầu- Đại phu. Thiên tử là người thống trị tối cao, đất đai và nhân dân toàn quốc đều là vật sở hữu của thiên tử. Thiên tử dùng biện pháp phong hầu dựng nước giao cho chư hầu và đại phu của họ thống trị. Nền nông nghiệp của Tây Chu càng phát đạt hơn triều Thơng, khi đã biết dùng phân bón để tăng thêm sản lượng lương thực. Nghề thủ công vẫn lấy nghề đúc đồng đen, làm gốm và dệt vải làm chính. Văn tự được khắc nhiều trên đồng đen được gọi là Kim văn hoặc Chung đỉnh văn. Ghi chép trong Kim văn có những tư liệu về lịch sử và chế độ Lễ Nhạc, đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Người đời sau căn cứ vào các loại ghi chép này chỉnh lý thành mấy bộ điển tịch lịch sử nổi tiếng.