Triều Thương từ khi xây dựng tới lúc diệt vong, kéo dài khoảng 500 năm. Hơn 270 năm định đô ở đất Ân (thành phố An Dương, tỉnh Hà Nam ngày nay), cho nên triều Thương còn gọi là triều Ân, có khi cũng gọi là ân Thương hoặc Thương Ân.
Triều Thương định đô ở đất Ân bắt đầu từ Bàn Canh. Bàn Canh là cháu đời thứ chín của Thương Thang, là vị vua thứ 19 của triều Thương. Việc triều Thương từng có nhiều lần dời đô, Bàn Canh đinh đô ở ấn, không di chuyển nữa, đã phản ánh tính chất quan trọng của nghề nông lúc này đã vượt qua nghề chăn nuôi, con người cần phải được định cư lại.
Bàn Canh quyết định dời tới Ân, đó là một cuộc đấu tranh có tính lịch sử. Vốn là từ sau Thái Giáp, các vị vua và các quý tộc, chủ nô lệ của các triều đại nhà Thương đã trở nên thối nát và mục ruỗng.Họ mê tín quỷ thần, đặc biệt là thích uống rượu. Đó là những con ký sinh trùng, xa rời lao động, mọi việc đều trút cả lên đầu nô lệ. Giữa nô lệ và chủ nô lệ, mâu thuẫn giai cấp vô cùng gay gắt, các nô lệ bỏ trốn hàng loạt. Trong các quý tộc thuộc hàng vương thất, cuộc đấu tranh giành giật ngôi vua ngày càng kịch liệt, có người nói nên theo lệ anh chết truyền cho em, có kẻ nói phải theo luật cha chết truyền cho con. Giữa chú cháu, anh em thường phát sinh những cuộc đấu tranh kẻ sống người chết, làm cho đất nước đại loạn.
Mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn trong nội bộ chủ nô lệ đã làm suy yếu triều Thương, sản xuất đình đốn, một số nước nhỏ và các dân tộc thiểu số không chịu nghe theo chế độ lễ tiết của triều Thương nữa, cộng thêm những tai hoạ thiên nhiên như nạn lụt, nạn hạn hán v.v… đã khiến cho triều Thương, quốc gia theo chế độ nô lệ này quả thực không thể tiếp tục duy trì được nữa.
Chính vào lúc này, vị vua thứ 18 của triều Thương là Dương Giáp qua đời, em trai của Dương Giáp là Bàn Canh lên làm vua. Bàn Canh là người có nhiều tâm kế, giỏi quan sát tình thế, thấy đất nước không thể tiếp tục duy trì theo kiểu cũ được nữa, cần phải tìm ra một biện pháp hữu hiệu nhất để hoà hoãn mâu thuẫn, đặng cứu vãn sự suy vong của triều Thương. Biện pháp của ông là dời đô tới đất Ân, khai khẩn đất hoang, định cư lâu dài.
Thứ nhất, đất đai của đất Ân khá phì nhiều, thiên tai tương đổi ít và nhẹ, xây dựng đô thành ở đây sẽ có lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp. Thứ hai, sau khi dời đô, tất thảy đều được làm lại từ đầu, các quý tộc chủ nô không thể được hưởng thụ quá mức, như vậy thì mâu thuẫn giai cấp có thể tạm được hoà hoãn. Thứ ba việc dời đô có thể tránh được các thế lực làm phản nguy hiểm, đô thành tương đối an toàn, nền thống trị có thể ổn định hơn một chút.
Thế nhưng việc quyết định rời đô đã vấp phải phản ứng của rất nhiều người, chủ yếu là các quý tộc chủ nô; họ sợ rằng địa phương mới sẽ không có điều kiện để hưởng lạc như cũ. Bàn Canh là một người rất kiên quyết, không vì bị phản đối mà thay đổi chủ ý. Ông triệu tập các quý tộc chủ nô lại, phát biểu hai bài huấn cáo. Bài huấn cáo thứ nhất là khuyên nhủ, bảo cho mọi người biết rõ lợi ích của việc dời Ân. Ông nói:
- Ta phải noi gương các bậc tiên vương quan tâm tới dân các người, bảo hộ các người, dắt các người tìm đến nơi an toàn, sung sướng. Nếu các người không đồng tâm với ta, linh hồn của tiên vương ở trên trời sẽ trừng phạt các người, sẽ giáng xuống cho các người những điều chẳng lành.
Bài huấn cáo thứ hai có tính uy hiếp, khẩu khí cứng nhắc, cảnh cáo mọi người phải nhất tề phục tùng mệnh lệnh dời đô, nếu không sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc. Bàn Canh dùng thủ đoạn vừa mềm vừa rắn, cuối cùng đã dời được thủ đô tới Ân. Thế nhưng cuộc đấu tranh vẫn chưa kết thúc. Dân chúng không quen với nơi ở mới, cãi lộn nhau đòi về nhà cũ. Các quý tộc chủnô liền thừa cơ gây rối, khuấy động mọi người đòi hồi hương. Bàn Canh lại phát biểu một bài huấn cáo nữa, ngữ khí rắn chắc mạnh mẽ, cấm chỉ những sự phản đối của quý tộc chủ nô. Sau mấy năm trôi qua, cụ diện mới được ổn định. Các chủ nô lệ ở đây đa bị bức phải lao động suốt ngày suốt đêm, xây dựng đất Ân trở thành thành một đô thị rất phồn vinh. Từ đó đô thành của triều Thương được cố định ở Ân Thành, chính trị tương đối ổn định, kinh tế và văn hoá của xã hội cũng có sự phát triển rộng. Vào thời đó, kỹ thuật luyện chế đồng đã được nâng cao, phạm vi chế tác đồ đồng đen cũng được mở rộng. ở vùng phụ cận Ân Thành đã có một phường chế tạo đồ đồng đen có tới hàng ngàn nô lệ lao động. Các nô lệ sử dụng ba loại kim thuộc là đồng, thiếc và chì làm nguyên liệu, nung chảy đúc ra hàng ngàn hàng vạn thứ võ khí như búa rìu, giáo mác, dao, đầu mũi tên v.v…, các đồ ăn uống như đỉnh, cốc ba chân, hồ, mâm, thau v.v… ; các công cụ như cuốc, đục, dùi đạt tới trình độ công nghệ cao siêu, tạo nên nền văn hoá đồ đồng đen nổi tiếng thế giới. Có một chiếc đỉnh vuông Tư Mẫu Mậu Đại rất nổi tiếng, cao gần 133 centimet, dài 110 centimet, rộng 78 centimet, nặng 876 kilôgam mới được các nhà khảo cổ học khai quật từ trong di chỉ cũ đổ nát thời Ân, đã được bảo quản chu đáo trong nhà bảo tàng lịch sử Trung Quốc. Đây là một dụng cụ đồng đen lớn nhất được khai quật trên thế giới từ trước đến nay. Qua những đồ đồng đen từ đời Thương cũng có thể thấy rõ, nền văn hoá cổ đại sáng lạn của Trung Quốc là do quần chúng lao động, trong đó nô lệ chính chủ thể sáng tạo.
Trong các di chỉ thời Ân còn có hàng loạt mai rùa và xương bả vai trâu, có khắc rất nhiều văn tự khác với văn tự hiện nay; đó là loại văn tự cổ nhất mà Trung Quốc phát hiện, gọi là giáp cốt văn, tổng cộng có hơn ba ngàn chữ đơn, đa số đã được các nhà khảo cổ học giải mã. Quý tộc vương thất triều Ân vốn rất mê tín, làm việc gì cũng thu lượm mai rùa và xương để bốc bói. Nhưng chữ khắc trên mai rùa và xương trâu phần lớn đều là do nguyên nhân và kết quả của bốc bói, chẳng biết sau này có ứng nghiệm hay không. Những lời bốc bói đã đưa lại nhiều thông tin về các việc đại sự của triều Ân, cung cấp những tư liệu xác tín cho chúng ta nghiên cứu lịch sử Ân Thượng.
Bàn Canh dời Ân lại một độ nữa hưng triều Thương, khiến cho Ân Thương, quốc gia nô lệ này toả hào quang chói lọi trong lịch sử phát triển văn hoá Trung Quốc và trở thành một cường quốc văn minh trên thế giới thời đó.