Triều Thương là một triều đại rất phát đạt của chế độ nô lệ Trung Quốc. Những người nô lệ chịu sự áp bức và bóc lột tàn khốc của chủ nô. Lương thực mà chủ nô ăn là do nô lệ khổ sở làm ra, quần áo mà chủ nô mặc là do nô lệ ngày đêm dệt vải may cho, phòng ốc cung điện chủnô ở là do nô lệ đổ máu, trào mồ hôi xây dựng lên, xe thuyền chủ nô ngồi là do nô lệ vất vả chế tạo ra. Nô lệ cũng giống như súc vật, công cụ, nhà cửa v.v… tất cả đều là tài sản riêng của chủ nô. Hàng ngàn hàng vạn nô lệ đã dùng máu và mồ hôi của mình để nuôi sống một số chủ nô cực kỳ ít ỏi.
Vậy thì những nô lệ mà chủ nô chiếm hữu tà đâu mà ra? Nguồn gốc chủ yếu, một là từ những bộ lạc, chủng tộc bị chinh phục, hai là từ đám tù binh trong chiến tranh. Một chủ nô lớn có thể có tới hàng ngàn hàng vạn nô lệ, chủ nô tương đối nhỏ cũng thường có tới mấy chục hoặc mấy trăm nô lệ. Để phân biệt với nô lệ của người khác, các chủ nô thường đánh dấu trên trán các nô lệ của mình. Nếu nô lệ quá nhiều thì có thể đem biếu người khác, những nô lệ thừa thì dùng dây thừng buộc thành từng xâu đem ra chợ bán. Giá nô lệ rất rẻ, trên một đồ đồng đen có tên gọi là “Hốt đỉnh” còn để lại ở cuối thời kỳ Tây Chu muộn hơn triều Thương mấy trăm năm đã ghi chép giá bán nô lệ thời đó, cho biết, năm nô lệ chỉ đổi được một con ngựa và một bó tơ. Triều Thương còn sớm hơn mấy trăm năm so với thời Tây Chu, giá bán nô lệ còn rẻ hơn nhiều. Đối với chủ nô triều Thương, việc để chết một con ngựa là chuyện rất đáng tiếc, còn như để chết mấy người nô lệ một lúc thì có đáng kể gì!
ở triều Thương sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp được tiến hành chủ yếu dựa vào nô lệ. Chủ nô xua từng bầy nô lệ đi khai hoang trồng trọt, nghe tiếng gà gáy là ra đồng, trời tối mịt mới được nghỉ.Buổi tối, nô lệ bị nhốt trong những căn nhà nhỏ thấp, chật chội, một số còn bị còng tay khoá chân, đề phòng chạy trốn. Lúc nông nhàn, trong vụ đông, nô lệ đàn ông phải xây dựng nhà cửa, đốt lò nung gốm, nấu luyện đồng đen cho chủ nô. Nô lệ đàn bà phải chạy xe đay sớm tối dệt vải cho chủ nô. Có những nô lệ phải làm việc suốt ngày đêm, cho nên trong sách cổ có ghi chép, một nô lệ siêng năng, một tháng có thể làm công việc của một tháng rưỡi. Khi chủ nô còn sống, được bóc lột đã quen, hưởng thụ đã nhàm, chúng mơ tưởng sau khi chết, linh hồn vẫn có thể được sống cuộc sống bóc lột, do vậy, khi chết chúng đã dùng nô lệ để tuẫn táng.
Tuẫn táng còn gọi là bồi táng, tức là đem người sống và người chết cùng mai táng. Chủ nô chết, lúc chôn cất, những nô lệ đang sống khoẻ mạnh kia cũng phải cùng chôn vào trong một phần mộ. Nếu nô lệ phản kháng thì giết chết rồi đem chôn cùng, hoặc dùng dây thừng trói chặt vứt xuống huyệt cùng chủ nô. Một chủ nô không chỉ dùng một người nô lệ để tuẫn táng, mà căn cứ vào địa vị cao thấp có thể tuẫn táng mấy người, mấy chục người, thậm chí mấy trăm người một lúc.
Xin hãy xem tình hình trong mộ táng của triều Thương đã khai quật được từ trong di chỉ thời Ân trước đây.
Di chỉ thời Ân ở thành phố An Dương tỉnh Hà Nam ngày nay, chính là Ân Thành, được xây dựng khi Bàn Canh dời đô tới. Sau khi triều Thương diệt vong, năm tháng xa xưa đã trôi về dĩ vãng, vương đô này dần dần thành hoang vu đổ nát, người đời sau gọi là di chỉ thời Ân. Gần năm mươi năm trở lại đây, những nhà khảo cổ học đã khai quật được hàng ngàn hàng vạn những văn vật lịch sử của triều Thương tại di chỉ thời Ân, ngoài ra là những di chỉ vương cung và di chỉ mộ táng của triều Thương. Những văn vật lịch sử và những di chỉ vương cung mộ táng này cho chúng ta biết tình hình sản xuất và đời sống xã hội nô lệ triều Thương, lại cũng thông báo cho chúng ta biết tình cảm bi thảm của tục tuẫn táng nô lệ.
Hầu gia trang hiện tại là một thôn nhỏ, ở triều Thương là khu mộ táng của các quý tộc chủ nô. Những mộ táng Ân Thương khai quật được ở đó chia làm hai khu Đông, Tây. Khu Tây có sáu ngôi mộ lớn, khu Đông có ba ngôi mộ lớn. Theo giám định khảo cổ học thì những mộ táng này đều là lăng mộ của các vua Thương. Khu Đông có hai ngôi mộ hình chữ nhật, một ngôi hình chữ á. Những ngôi mộ ở khu Tây đều có hình chữ á cả. ở chính giữa ngôi mộ hình chữ á là nơi đặt quan quách của chủ nhân ngôi mộ. Quan là cái hòm bằng gỗ hoặc bằng đá lớn hơn, bao bọc bên ngoài quan. ở bốn xung quanh hình chữ á là bốn lối đi trước mộ Đông Nam Tây Bắc, mỗi lối dài từ 20 đến 30 mét, rộng từ 5 đến 6 mét. Lối đi trước mộ chính giữa này là một cái dốc thoai thoải, quan quách được khiêng từ đây vào trong, còn ba lối đi trước mộ kia đều lầ bậc thang, từng cấp từng cấp một. Độ sâu của ngôi mộ ước khoảng 12 mét, ở chính giữa có một hố vuông nhỏ, gọi là hố eo lưng. Trước khi an táng, đầu tiên là giết chết nô lệ và một con chó tuẫn táng ở hố eo lưng, sau đó đậy ván gỗ lên, trên ván gỗ đặt một quan quách. Trong tám góc hình chữ á ở bốn xung quanh quan quách, mỗi góc có một góc vuông nhỏ, mỗi hố chôn sống một nô lệ tuẫn táng. Trên đỉnh quan quách bắc một cây gỗ lớn dùng để bảo vệ quan quách. ở đây cũng có rất nhiều nô lệ tuẫn táng, hơn thế còn được xếp hàng hết sức tề chỉnh, đại để đó như một đội quân danh dự. ở nơi chính giữa lối đi trước mộ gần trung tâm mộ có hơn hai chục nô lệ tuẫn táng, mỗi hàng mười người, tổng cộng hơn 200 người, đầu và thân đều không ở một nơi, chứng tỏ rằng nô lệ bị giết rồi mới đem chôn. Khi khai quật, phát hiện bùn đất ở phía dưới xương sọ hiện ra sắc xanh tím, hẳn là bị máu tươi ô nhiễm. Đủ thấy khi nô lệ bị chôn xuống đất máu tươi đã chảy tràn lênh láng. ở xung quanh ngôi mộ lớn, còn có hơn hai chục mộ nhỏ tuẫn táng, trong mỗi ngôi mộ đều chôn từ năm đến mười. Tính tổng cộng lại tổng số nô lệ tuẫn táng ở ngôi mộ này có tới trên dưới 400 người. Một số chủ nô chết đã có tới hơn 400 nô lệ khoẻ mạnh bị tuẫn táng theo. Đó là một chế độ vô cùng tàn khốc.
Tình hình không chỉ có như vậy. Về sau, gặp ngày lễ tết, giỗ chạp, con cháu của chủ nô còn phải giết nô lệ và bò cừu, chó, lợn làm vật hiến tế. Bởi vì nô lệ còn rẻ hơn bò, cừu, chó, lợn, khi hành lễ, số bò, cừu, chó, lợn bị giết nhiều lắm chỉ vài con, còn nô lệ thì có thể bị giết mấy chục hoặc hàng trăm người. Căn cứ vào ghi chép của giáp cốt văn, lần nhiều nhất đã có tới 2656 nô lệ bị sát hại!.
Chế độ chôn người sống theo người chết này, còn tồn tại mãi tới đầu thời kỳ xã hội phong kiến. Vào khoảng tháng 5, tháng 6 năm 1978, tại Lôi Cổ Đôn, huyện Tuỳ, tỉnh Hồ Bắc, các nhân viên công tác khảo cổ đã khai quật một di chỉ ngôi mộ trước thời Chiến Quốc cách hiện tại khoảng trên 1400 năm, đã phát hiện 21 bộ xương sọ nữ thanh thiếu niên bị tuẫn táng. Bọn chủ nô lệ đã bức hại nô lệ tàn khốc đến như vậy, tất nhiên đã gặp phải sức phản kháng kịch liệt. Những người nô lệ đã nhiều lần bạo động chống lại chế độ đẫm máu này. Trong giáp cốt văn khai quật được ở di chỉ thời Ân, không chỉ một lần chi chép những sự việc vua Thương đích thân truy kích, trấn áp nô lệ. Sự phản kháng của những người nô lệ đã làm chấn động nền thống trị của chủ nô. Trong bộ sách lịch sử cổ đại tên gọi “Thương thư” đã chép lại câu chuyện như sau: “Có một lần từng đoàn từng đội nô lệ xông vào đánh phá đám lễ lớn của vua Thương đang cúng tế trời đất và tổ tiên. Họ đã đuổi được chủ nô và ăn hết cả những tế phẩm như rượu và bò, dê, lợn v.v..., sau đó, đàng hoàng bỏ trốn cả lũ”.