Chu Thành Vương qua đời, con trai ông là Khang Vương kế ngôi. Thành Vương, Khang Vương trước khi nhà Chu lập quốc không lâu, đã thấu hiểu được nỗi gian nan của việc lập cơ nghiệp, nên không dám sống buông thả, kiêu sa; lại được thêm một số đại thần tài ba phò trợ, trong hơn bốn chục năm dòng, nền chính trị của triều Chu tương đối sáng sủa, địa vị thốn trị phần nào được củng cố, lịch sử gọi đó là “sự thịnh trị của Thành Khang”.
Sau khi Khang Vương qua đời, con trai là Cơ Hà, tức Vi, tên gọi là Chiêu Vương. Chiêu Vương khác với tổ tiên của ông ta, về mặt đời sống thì xa xỉ, lãng phí, về mặt chính trị thì hồ đồ lẩm cẩm, do đó triều đinh nhà Chu bắt đầu suy yếu, có một số chư hầu được phân phong xem ra cũng không tôn kính vị Thiên Tử này.
Thứ mà Chiêu Vương thích nhất là hoa cỏ kỳ thú. Người nào thu thập được những thứ này cho ông, thì ông sẽ cho thăng quan hoặc thưởng hậu. Nếu có người nào viết thư báo tin nói ở một địa phương nào có nhiều cầm hiếm thú, Chiêu Vương sẽ chẳng quản, bỏ ngay việc đại sự quốc gia, lập tức dẫn tuỳ tùng di săn bắt.
Vào năm 19 Chiêu Vương, một hôm có một quan đại thần nói với Chiêu Vương.
- Thần nghe ông nội thần nói, vào thời Thành Vương, ở phương Nam có một người gọi là Việt Thường Thị, đã từng tới Hoạ Kinh triều cống một loài chim trĩ lông trăng muốt, thịt thơm ngon, có thể gọi là một loài phi cầm nhất nhìn thiên hạ.
Chiêu Vương nghe xong rất vui mừng, liền hỏi viên quan đại thần:
- Cớ sao cái tên Việt Thường Thị đó không đem chim trĩ trắng dân ta?
Quan đại thần trả lời:
- Tình hình ngày nay khác rồi, nước Sở ở phía Bắc Ngũ Lĩnh, ở phía Nam Hán Thuỷ, độc chiếm một phương, ngay cả đến Thiên tử chúng cũng chẳng coi ra gì. Phương Nam do vậy mà triều cống thất thường, Hạo Kinh lúc có lúc không. Vật cống chim trĩ trắng của Việt Thường Thị, theo ý thần đã bị nước Sở cản trở đó.
Chiêu Vương bực lắm. Nước Sở ngang ngược vô lí đến như vậy, làm sao có thể tha thứ cho hắn được? Để thực hiện rõ oai phong của Thiên tử và cũng vì muốn được tận mắt nhìn thấy loài chim trĩ trắng hiếm lạ, ông đã đích thân dẫn quân tới trừng phạt nước Sở. Chiêu Vương lựa chọn một số tướng lĩnh xuất chinh theo ông, điều động những đội quân tinh nhuệ, chọn ngày ra quân đánh Sở. Đồng thời Chiêu Vương sai người thông báo cho các quan lại địa phương ở hai bên đường, để họ chuẩn bị sẵn những chỗ ở thoải mái, những thức ăn ngon lành cho Chiêu Vương hưởng dụng trên đường đi.
Lần xuất chinh này của Chiêu Vương đã làm cho dân chúng ở hai bên đường rất khổ sở, đàn ông phải đi đẩy xe, quẩy gánh, vận chuyển lương thảo cho quân đội của Chiêu Vương; đàn bà bị lôi đi nấu cơm, giặt quần áo... Lương thực bị vơ vét hết, trâu bò, gà vịt đều bị cướp sạch. Chiêu Vương còn ra sức bắt dân chúng các địa phương tìm kiếm cho mình các loại rượu ngon, săn bắt về nhiều vị thú lạ; Như vậy, đâu có phải là xuất chinh đánh trận, mà là đi du lịch hưởng thú đó!
Chiêu Vương đi tới bờ sông Hán Thuỷ, cướp hết thuyền dân chúng đưa quân đội qua sông. Lái đò chỉ cần chậm một chút liền bị binh lính đánh roi. Dân chúng trên bờ sông Hán Thuỷ thấy Chiêu Vương tàn bạo như vậy thì vô cùng căm hận. Họ quyết định chờ khi Chiêu Vương trở lại nhất định sẽ bắt ông ta phải chịu khổ, để dạy cho ông ta một bài học, để cho ông ta biết rằng không dễ dàng bị ức hiếp được dân chúng.
Sau khi Chiêu Vương qua sông Hán Thuỷ, hạ lệnh cho quân đội tấn công vào đô thành Đan Dương (huyện Chi Giang, tỉnh Hồ Bắc ngày nay) của ở nước Sở. Thế nhưng đã đánh mấy trận mà chẳng thu được lợi lộc gì, Đan Dương trước sau không hạ được. Quân độ của Chiêu Vương trút hết bực tức lên đầu dân chúng, cướp sạch, vét sạch của cải, rồi rút quân.
Dân chúng ở bên bờ sông Hán Thuỷ biết Chiêu Vương sắp trở lại, họ liền nghĩ ra một diệu kế, chọn mấy con thuyền lớn, trước tiên dùng rìu bổ toác thuyền ra, rồi dùng nhựa dán hợp lại những chỗ đã bị rìu bổ toác, rồi vẽ đè lên một số hoa văn xanh xanh đỏ đỏ để che lấp những vết rìu, sau đó cho thuyền neo đậu ở bờ sông, chờ bọn Chiêu Vương sa bẫy.
Quân đội của Chiêu Vương tới bên bờ sông Hán Thuỷ, thấy có mấy chiếc thuyền to neo đậu ở đó, thì cả mừng, tranh giành nhau bước lên thuyền, đem theo vô số xe ngựa và tài sản cướp được, rồi vội vội vàng vàng dong thuyền qua sông. Chẳng ngờ, vừa ra tới giữa sông, gió mạnh sóng to, thuyền mới chòng chành mấy cái, nhựa dán trên thuyền đã bị tan ra. Chỉ nghe có tiếng “oạp”, “oạp”, mấy con thuyền lớn đều bị tan ra. Chỉ nghe có tiếng những mảnh ván. Quân đội của Chiêu Vương cùng với xe ngựa, của cải, đều chìm xuống cả lòng sông. Khúc sông sâu bỗng ồn ào náo nhiệt hẳn lên bởi những tiếng kêu cứu, gọi cha, cầu mẹ, bởi những âm thanh “òm ọp” của bọn lính sặc nước. Tên nào biết bơi thì ôm mảnh ván liều mạng sang bờ bên kia, những tên không biết bơi thì giãy giụa trên mặt nước, uống no bụng rồi từ từ chịm nghỉm. Chiêu Vương không biết bơi, toàn thân lại ních đầy các loại trang sức nặng nề, khi rơi xuống nước chỉ chới với vài đã bị chìm mất tăm. Tên đánh xe của Chiêu Vương là Tân có sức khoẻ, lại biết bơi, nhìn thấy Chiêu Vương mắt trợn ngược, mồm há hốc đang chìm xuống nước, liền lướt tới cứu hộ, một tay kẹp chặt Chiêu Vương, một tay rẽ nước vượt sông, khó khăn lắm mới đưa được Chiêu Vương lên bờ. Nhìn cái bụng Chiêu Vương căng dầy nước, trương to như cái trống, hắn đưa tay sờ lên lỗ mũi. Chiêu Vương, thì thấy không thấy còn thở nữa, thì ra Chiêu Vương đã bị chết đuối từ lâu rồi.
Đường đường là một đấng Thiên tử triều đình nhà Chu, cuối cùng chỉ vì một con chim trĩ bạch mà phải chôn vùi tính mạng. Sự việc xấu xa như vậy dĩ nhiên cần phải tìm cách bưng bít dư luận. Cho nên triều đình nhà Chu, một là không có cáo phó cho thiên hạ, hai là không cử hành lễ mai táng long trọng, chỉ lặng lẽ đào một cái huyệt để chôn Chiêu Vương, rồi cho xây phần mộ rất giản đơn, coi là xong việc.
Việc dân chúng ven sông Hán Thuỷ dùng kế dán thuyền làm cho Chu Chiêu Vương chết đuối đã chứng tỏ một sự thật là bất kỳ sự thống trị tàn bạo nào, cuối cùng cũng sẽ phải hứng chịu sự phẫn nộ và trừng trừng phạt của nhân dân.