Hạp Lư thấy thực lực nước Ngô đã được tăng cường, lại có hai viên đại tướng là Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ phò tá, sớm đánh vào nước Sở để tranh đoạt bá quyền. Tôn Vũ không đồng ý xuất xuân ngay, ông nói:
- Nước Ngô ta mấy năm liền đánh trận liên miên, dân chúng mệt mỏi quá rồi, nên chờ thêm hai năm nữa, để cho dân chúng được nghỉ ngơi đã.
Ngũ Tử Tư thì kiến nghị với Ngô Vương phân chia quân đội thành ba loạt. Trước tiên, cử loạt thứ nhất đến quấy phá biên giới nước Sở, chờ cho quân đội kéo ra nghênh chiến, quân Ngô lập tức lùi về, đợi cho quân Sở rút về, quân Ngô lại đổi loạt quân thứ hai tới quấy nhiễu. Như vậy, quân Ngô luân phiên quấy rối, quân Sở tất bật qua lại, không được nghỉ ngơi, thời gian kéo dài, tất nhiên sẽ mệt mỏi rời rã, mất hết ý chí chiến đấu. Tới lúc đó, nước Ngô hội hợp ba loại quân đó lại, tổng tấn công, nhất định sẽ giành được thắng lợi. Ngô Vương tiếp thu kiến nghị của Ngũ Tử Tư, một mặt tiếp tục chỉnh đốn nội chính, tích góp lực lượng; một mặt chia quân đi quấy rối nước Sở.
Ngô Vương Hạp Lư lại trải qua sáu năm chuẩn bị, đến năm 14 Chu Kính Vương (năm 506 trước Công Nguyên), liền quyết định đánh Sở Hạp Lư bổ nhiệm Tôn Vũ làm chủ tướng. Ngũ Tử Tư làm phó tướng, người em của mình là công tử Phù Khái làm tiên phong, đích thân làm thống soái, soái lĩnh sáu vạn quân Ngô xuất phát dưới sự chỉ huy của Tôn Vũ, trước tiên quân Ngô theo đường thủy qua sông Hoài, sau đó lại chuyển sang đường bộ, thông qua biên giới hai nước Thái và Đường, lặn lội hơn một nghìn dặm, vu hồi tới miền Đông Bắc nước Sở, tập kích vào mặt sườn, tiến thẳng vào ảnh Đô. Quân Ngô năm lần đánh năm lần thắng, đã đánh cho 25 vạn đại quân nước Sở tơi bời tan tác. Sở Chiêu Vương hoảng sợ quá đã phải bỏ cả ảnh Đô tháo chạy thoát thân.
Được Tôn Vũ, Ngũ Tử Tư... hộ vệ, Hạp Lư tiến vào ảnh Đô. Ngũ Tử Tư khuyên Hạp Lư tiêu diệt ngay nước Sở. Tôn Vũ không đồng ý, nói:
- Vì sao nước Sở lại rơi vào cảnh ngộ như ngày nay? Chính là vì Sở Bình Vương phế bỏ thái tử Kiến, lập con trai của Mạnh Doanh. Nếu chúng ta lập công tử Thắng lên làm vua Sở, khỏi phải nói công tử Thắng sẽ cảm kích chúng ta, sẽ nghe lời chúng ta, mà ngay cả đến dân chúng nước Sở cũng sẽ cảm kích chúng ta. Làm như vậy, ngoài mặt ta biểu thị sự khoan hồng đối với nước Sở, trên thực tế, có khác gì tiêu diệt nước Sở đâu, hơn thế, ta còn giành được tiếng tốt, há chẳng phải là càng tốt hơn hay sao?
Hạp Lư không nghe theo lời Tôn Vũ, quyết định phá sạch, đốt sạch tông miếu của nước Sở. Thời cổ, tông miếu là thứ đại biểu cho một quốc gia; hủy hoại hết tông miếu có nghĩa là quốc gia đó đã bị diệt vong. Tiếp đó, Ngô Vương đã bầy đại tiệc ở trên cung điện vua Sở để chúc mừng thắng lợi. Mọi người đều vui mừng sung sướng, riêng chỉ có Ngũ Tử Tư là buồn bã chẳng vui. Ngô Vương hỏi:
- Mục đích báo thù huyết hận của ngươi đã đạt được rồi, tại sao lại còn buồn nản như vậy?
Ngũ Tử Tư nói:
- Sở Bình Vương đã chết, Sở Chiêu Vương lại chạy trốn, thần không lột sống được da của chúng, không nhai sống được thịt của chúng, có chết thần cũng không nhắm được mắt.
Ngô Vương hỏi:
- Ngươi muốn được báo thù như thế nào?
Ngũ Tử Tư nói:
- Xin đại vương cho phép thần được khai quật mộ của Sở Bình Vương lên kéo thi hài của Sở Bình Vương ra, chặt đầu bêu chợ!
Hạp Lư đã đồng ý.
Ngũ Tử Tư dẫn đầu các binh sĩ dưới quyền tìm được phần mộ của Sở Bình Vương, cho đào lên, bật mở quan quách, kéo thi thể của Sở Bình Vương ra. Với mối thù hận tràn ngập trong lòng Ngũ Tử Tư tay xách roi da, xông tới chỗ thi thể Sở Bình Vương, ra sức quật mạnh, quật một mạch được hơn 300 roi mới dừng tay. Sau đó, Ngũ Tử Tư đã cắt đầu Sở Bình Vương, đem thi thể của Sở Bình Vương chặt thành từng miếng, vất rải rác khắp đồng ruộng.
Sự việc Ngũ Tử Tư dùng roi quất vào thi thể Sở Bình Vương để phục thù đã được lan truyền đi rất nhanh. Sau khi người bạn cũ của Ngũ Tử Tư là Thân Bao Tư nghe nói vậy đã sai người đưa tới cho Ngũ Tử Tư một bức thư, đại ý trong thư nói rằng:
“Việc báo thù này của ông thật là quá đáng, chỉ dựa vào vũ lực, lẽ dĩ nhiên cũng có thể nhất thời giành được thắng lợi, thế nhưng quá ư tàn bạo, cuối cùng cũng sẽ bị thất bại. Mong ông hãy mau mau rời khỏi nước Sở, nếu không, lời tôi nói là thiêng lắm đó!”.
Ngũ Tử Tư đọc xong lá thư của Thân Bao Tư, suy nghĩ rất lâu, cuối cùng đã nói với người đưa thư:
- Ngươi hãy thay ta chuyển lời nói với Thân Bao Tư, giữa trung và hiếu không thể trọn vẹn cả hai được. Ta cũng ví như người đi đường, trời đã rất tối rồi, mà đi đường vẫn còn rất xa. Chỉ cần đạt tới mục đích thì còn đếm xỉa gì đến cách đi nữa?
Lúc đầu, Thân Bao Tư đã chẳng từng tiết lộ với Ngũ Tử Tư: “Nếu bạn diệt Sở thì tôi nhất định phục Sở”; bây giờ nghe xong câu trả lời của Ngũ Tử Tư, Thân Bao Tử cảm thấy nếu còn khuyên nữa cũng chẳng có ích gì, mà cần phải nhanh chóng nghĩ cách cứu vãn lại nước Sở. Thân Bao Tư nghĩ đến người mẹ của Sở Chiêu Vương là em gái của Tần ái Công; liền tới nước Tần để cầu cầu cứu binh lính. Tấn ái Công thấy nước Ngô cường thịnh, không muốn đắc tội với nước Ngô, nên không chịu xuất binh. Trước tình thế tổ quốc sắp bị diệt vong, nghĩ tới quê hương của cha mẹ bị người dày xéo mà không phương cứu vãn, Thân Bao Tư đau đớn cực độ, đứng ngay giữa triều đình nước Tần khóc lóc thảm thiết. Mọi người đều bỏ đi, ông vẫn đứng yên không động. Ông đã khóc như thế liền suốt bảy ngày, bảy đêm. Người nghe tiếng ông khóc, không ai là không cảm động trước tấm lòng yêu nước của ông.
Tần ái Công nói:
- Không ngờ Sở Chiêu Vương u mê ngu muội mà lại có kẻ hạ thần tốt như vậy, thật là hiếm có vậy.
Tức thì Tần ái Công cử 500 chiếc binh xa tới cứu viện nước Sở.
Quân Tần vừa kéo tới biên giới nước Sở, đã chạm trán ngay với quân Ngô. Lúc này, em trai của Hạp Lư là Phù Khái, tiên phong của quân Ngô đã lén lút chạy về nước Ngô, Phù Khái lừa dối mọi người dân trong nước nói:
- Hạp Lư bị quân Tần đánh bại rồi, không biết sống chết thế nào.
Sau đó Phù Khái tuyên bố kế thừa ngôi vua. Hạp Lư nhận được tin này vô cùng kinh ngạc. Đang cùng bàn bạc đối sách với Ngũ Tử Tư, lại có tin nước Việt thừa cơ đánh úp nước Ngô; đúng là đợt sóng này chưa yên, đợt sóng khác lại dồn tới. Hạp Lư chờ cho quân Tần vừa rút về, Hạp Lư lập tức hạ lệnh chuyển hướng đầu đoàn quân hỏa tốc trở về nước Ngô, trừng phạt Phù Khái.
Phù Khái vốn dĩ chẳng có uy tín gì, các tướng sĩ trong Đô Thành nghe nói Hạp Lư dẫn đầu đại quân trở về, liền hăng hái chạy ra đầu hàng, rồi ngả theo. Phù Khái biết là đại thế đã mất, liền chạy trốn. Cuộc phản loạn đã được dẹp yên, Hạp Lư vẫn tại vị. Thế nhưng, từ đây về sau, nước Ngô và nước Việt đã hóa thành địch thủ của nhau. Ngô Vương đã thề phải trừng phạt nước Việt.