(Trích từ một bức thư gửi Bộ trưởng Hải quân, năm 1854, được đăng trong cuốn Cuộc đời Maury của bà Corbin.[14])
Chiếc tàu brig “Dolphin” của Hải quân Hoa Kỳ, dưới quyền chỉ huy của Trung úy O. H. Berryman, vào mùa hè năm ngoái đã được giao làm nhiệm vụ đặc biệt liên quan đến văn phòng này. . . . Ông cũng được chỉ đạo thực hiện một tuyến đo độ sâu đáy biển từ bờ biển Newfoundland đến bờ biển Ireland.
Kết quả này mang ý nghĩa hết sức thú vị đối với vấn đề về một tuyến cáp điện báo ngầm vượt Đại Tây Dương, và vì vậy, tôi xin phép được biến nó thành đề tài cho một bản báo cáo đặc biệt.
Tuyến đo độ sâu đáy biển này dường như mang tính QUYẾT ĐỊNH đối với vấn đề tính khả thi của một tuyến cáp điện báo ngầm giữa hai lục địa, xét về mặt địa hình đáy biển sâu. Từ Newfoundland đến Ireland, khoảng cách giữa các điểm gần nhất là khoảng 1600 dặm, và đáy biển giữa hai nơi này là một cao nguyên dường như được tạo ra đặc biệt cho mục đích nâng đỡ những sợi dây cáp điện báo ngầm, cũng như giữ cho chúng tránh khỏi mọi nguy hại. Nó không quá sâu cũng không quá nông; tuy nhiên lại đủ sâu để những sợi cáp một khi đã đặt xuống sẽ mãi mãi nằm ngoài tầm với của mỏ neo tàu thuyền, băng trôi và mọi loại trôi dạt khác, đồng thời cũng đủ nông để có thể dễ dàng đặt nằm gọn trên đáy biển. . . . . . .
Một sợi cáp được thả nối từ bất kỳ địa điểm nào kể trên ở phía bờ chúng ta đến phía bắc của Grand Banks sẽ nằm trên cao nguyên tuyệt đẹp mà tôi vừa nhắc tới, nơi làn nước biển tỏ ra yên tĩnh và tĩnh lặng tuyệt đối như đáy của một cái hồ nước trong nhà máy xay. Thiết tưởng cũng cần phải nêu rõ những lý do dẫn đến suy luận rằng không hề có dòng hải lưu đáng kể nào hay bất kỳ tác nhân bào mòn nào hoạt động ở đáy biển trên cao nguyên điện báo này. Tôi rút ra suy luận này từ việc nghiên cứu một hiện tượng vật lý mà khi tìm kiếm nó, tôi không hề nghĩ rằng nó lại có những ý nghĩa như vậy.
Trung úy Berryman đã mang lên, bằng “thiết bị đo độ sâu đáy biển của Brooke”, các mẫu vật dưới đáy từ cao nguyên này. Tôi đã gửi chúng cho Giáo sư Bailey, tại West Point, để quan sát dưới kính hiển vi của ông. Ông đã vui vẻ nhận lời, và vị chuyên gia kính hiển vi lỗi lạc ấy vô cùng kinh ngạc khi phát hiện ra, cũng như tôi khi hay tin, rằng tất cả các mẫu vật đo độ sâu đáy biển này đều chứa đầy vỏ sò ốc vi thể. Dùng nguyên văn lời ông ấy, “không có một hạt cát hay sỏi nào tồn tại trong đó.” Do đó, những chiếc vỏ nhỏ bé này gợi lên một thực tế rằng không có dòng hải lưu nào dưới đáy biển nơi chúng xuất phát; rằng quảọi chì của Brooke đã tìm thấy chúng tại nơi chúng nằm yên trong chốn vùi lấp của mình. . . .
Nếu ở đáy biển có các dòng hải lưu, chúng đã cuốn đi, bào mòn và trộn lẫn với những tàn tích vi thể này các mảnh vụn dưới đáy biển như bùn nhão, cát, sỏi và các vật chất khác; thế nhưng không một hạt cát hay sỏi nào được tìm thấy lẫn trong đó. Từ đó suy ra rằng những vùng biển sâu này không bị xáo trộn bởi cả sóng lẫn dòng hải lưu. Do đó, một sợi dây cáp điện báo một khi đã được đặt ở đó sẽ nằm ngoài tầm với của mọi tai nạn một cách trọn vẹn, y như thể nó được chôn trong những chiếc hộp kín khí vậy.