Một đêm buồn thiu giữa canh khuya, mải miết chìm trong nỗi mỏi mòn,
Bên biết bao trang sách cổ kỳ bí, những tri thức xưa đã lãng quên,
Khi đầu gật gù, thiếp đi gần nửa giấc, bỗng vang lên tiếng gõ cửa khẽ khàng,
Như thể ai đó đang nhẹ nhàng gõ, gõ vào cánh cửa phòng ta.
“Chắc là có khách,” ta thầm lẩm bẩm, “đang gõ vào cửa phòng mình—
Chỉ thế thôi, chẳng có gì hơn.”
À, ta nhớ rất rõ, đó là một đêm tháng Mười giá lạnh,
Và từng tàn lửa đang lụi tàn tạo nên những bóng ma trên sàn nhà.
Ta tha thiết mong chờ trời sáng;—nhưng luống công ta tìm kiếm
Từ những trang sách sự nguôi ngoai nỗi buồn—nỗi buồn vì nàng Lenore đã khuất—
Vì thiếu nữ diễm lệ, ngời sáng mà các thiên thần gọi tên là Lenore—
Kẻ giờ đây không còn danh tính nơi chốn trần gian.
Và tiếng sột soạt buồn bã, đầy u hoài của từng tấm rèm nhung tía
Đã làm ta run rẩy—lấp đầy ta những nỗi sợ hãi lạ kỳ chưa từng có;
Để rồi giờ đây, cốt nén nhịp đập của trái tim, ta đứng lặp lại rằng
“Đó là vị khách nào đang nài nỉ xin vào phòng ta—
Một vị khách đến muộn đang nài nỉ xin vào cửa phòng ta,—
Chỉ thế thôi, và chẳng có gì hơn.”
Chẳng mấy chốc tâm hồn ta mạnh mẽ hơn; chẳng còn ngần ngại gì nữa,
“Thưa ngài,” ta cất lời, “hoặc thưa phu nhân, quả thực tôi xin ngài lượng thứ;
Nhưng ngặt một nỗi tôi vừa thiếp ngủ, và ngài gõ cửa quá đỗi nhẹ nhàng,
Và ngài gõ cửa quá đỗi khẽ khàng, gõ vào cánh cửa phòng tôi,
Đến nỗi tôi suýt chẳng chắc mình có nghe thấy”—đến đây ta mở toang cánh cửa;
Bóng tối ngoài kia, chẳng có gì khác.
Đăm đăm nhìn vào màn đêm sâu thẳm ấy, ta đứng lặng ngắm nhìn, hoang mang, sợ hãi,
Hoài nghi, mơ những giấc mơ chưa từng có người phàm nào dám mơ;
Nhưng sự tĩnh mịch vẫn bao trùm, bóng tối chẳng hề đáp lại,
Và từ duy nhất được thốt lên ở đó là tiếng thì thầm: “Lenore.”
Ta thì thầm từ ấy, và một tiếng vọng thầm thì đáp lại: “Lenore!”
Chỉ thế thôi, và chẳng có gì hơn.
Quay trở lại căn phòng, trong lòng bừng cháy ngọn lửa tâm can,
Chẳng mấy chốc ta lại nghe tiếng gõ còn lớn hơn lúc trước đôi chút.
“Chắc chắn rồi,” ta tự nhủ, “chắc chắn có cái gì ở khung cửa sổ kia;
Để ta xem đó là thứ gì, và khám phá bí ẩn này—
Hãy để tim ta thôi đập loạn một thoáng và khám phá bí ẩn này;—
Đó là gió và chẳng có gì hơn!”
Ta vung tay hất mạnh tấm chớp, và giữa tiếng vỗ cánh phành phịch,
Một con quạ đường bệ từ những ngày tháng thánh thiện của ngàn xưa bước vào;
Nó chẳng buồn cúi đầu chào lấy một chút; chẳng dừng lại hay chần chừ dù chỉ một phút;
Nhưng với dáng vẻ của một bậc vương giả, nó đậu lên phía trên cửa phòng ta—
Đậu lên bức tượng bán thân Pallas ngay phía trên cửa phòng ta—
Đậu ở đó, ngồi đó, và chẳng làm gì hơn.
Rồi con chim mun ấy khiến tâm tư buồn bã của ta phải mỉm cười,
Bởi vẻ uy nghiêm trang nghiêm và cứng cỏi trên nét mặt nó,
“Dù chỏm đầu ngươi có xơ xác trọc lóc, thì,” ta nói, “ngươi chắc chắn không phải kẻ hèn nhát,
Hỡi con quạ già ghê rợn, dữ dội từ bến bờ Đêm tối lang thang đến đây,
Hãy nói cho ta hay tên tuổi vương giả của ngươi trên bờ sông Pluton xứ sở Đêm là gì!”
Con quạ đáp: “Không bao giờ.”
Ta vô cùng kinh ngạc khi nghe con vật vụng về ấy cất lời rành mạch đến vậy,
Dù câu trả lời của nó chẳng mang mấy ý nghĩa—chẳng mấy liên quan;
Bởi chúng ta không thể không thừa nhận rằng chưa từng có một con người sống nào
Từng may mắn được nhìn thấy một con chim đậu trên cửa phòng mình—
Chim hay thú trên bức tượng bán thân điêu khắc phía trên cửa phòng mình,
Mang cái tên như là “Không bao giờ.”
Nhưng con Quạ, ngồi cô độc trên bức tượng bình yên, chỉ thốt lên
Mỗi một từ ấy, như thể nó trút hết tâm can vào một từ duy nhất ấy.
Nó chẳng thốt thêm điều gì nữa—lông vũ cũng chẳng buồn lay động—
Đến nỗi ta suýt chỉ lẩm bẩm rằng, “Những người bạn khác đã bay đi từ trước.
Đến mai nó cũng sẽ bỏ ta đi, y như những niềm hy vọng đã bay đi trước đây.”
Rồi con chim liền nói: “Không bao giờ.”
Giật mình vì sự tĩnh lặng bị phá vỡ bởi câu trả lời thật trúng ý,
Ta tự nhủ, “Chắc hẳn những gì nó thốt ra chính là toàn bộ gia tài vốn có
Học được từ một ông chủ bất hạnh nào đó mà Tai họa tàn nhẫn
Đã bám đuổi ráo riết, bám đuổi dồn dập cho đến khi những bài ca của người ấy chỉ chung một điệp khúc
Cho đến khi khúc điệu sầu thương của Niềm hy vọng mang điệp khúc ảm đạm ấy
Về hai tiếng ‘Không—không bao giờ.’”
Nhưng con quạ vẫn khiến tâm hồn buồn bã của ta dịu lại thành nụ cười,
Ta liền kéo ngay một chiếc ghế đệm đặt trước con chim, bức tượng và cánh cửa;
Rồi, thả mình chìm xuống lớp nhung êm ái, ta bắt đầu gắn kết
Ý nghĩ này với ý nghĩ khác, tự hỏi không biết con chim điềm gở thời cổ xưa này—
Không biết con chim điềm gở khắc khổ, vụng về, ghê rợn, hốc hác và mang điềm gở thời cổ xưa này
Có ý gì khi cất tiếng kêu quàng quạc “Không bao giờ.”
Ta ngồi đó mải mê đoán già đoán non, chẳng thốt ra lấy một âm tiết nào
Với con vật có đôi mắt rực lửa giờ đây đang thiêu đốt tận đáy lòng ta;
Ta ngồi đó phỏng đoán điều này và nhiều thứ hơn thế, đầu ngả thật thoải mái
Trên lớp lót bằng nhung của chiếc gối mà ánh đèn đang mải miết soi rọi,
Nhưng lớp nhung tím ấy, dẫu đang được ánh đèn soi rọi,
Nàng sẽ chẳng bao giờ còn được tựa đầu vào nữa, ôi, không bao giờ!
Rồi, ta ngỡ như bầu không khí trở nên đặc quánh, thoang thoảng mùi hương từ chiếc lò xông vô hình
Do các seraphim tung cánh bước đi khua tiếng lanh canh trên sàn nhà thảm dày.
“Đồ khốn khổ,” ta kêu lên, “Chúa đã ban cho ngươi—qua những thiên thần này Ngài đã gửi đến cho ngươi
Sự chợp nghỉ—sự chợp nghỉ và thứ nước giải sầu quên lãng khỏi những ký ức về Lenore!
Hãy uống đi, ôi hãy uống chén nước giải sầu nhân từ này và quên đi người nàng Lenore đã mất!”
Con quạ đáp: “Không bao giờ.”
“Hỡi nhà tiên tri!” ta nói, “hỡi sinh vật quỷ quái!—vẫn là nhà tiên tri, dẫu là chim hay quỷ!—
Dù Kẻ cám dỗ đã sai ngươi đến, hay dạt dào bão tố đã cuốn ngươi dạt vào bờ bến này,
Hoang dại, mà vẫn chẳng hề nao núng, trên mảnh đất hoang vu bị yểm bơ này—
Trên mái nhà bị Nỗi sợ hãi ám ảnh này—xin hãy nói thật cho ta biết, ta khẩn khoản van xin—
Liệu ở Gilead có nhũ hương chăng?—xin hãy nói—xin hãy nói cho ta biết, ta khẩn khoản van xin!”
Con quạ đáp: “Không bao giờ.”
“Hỡi nhà tiên tri!” ta nói, “hỡi sinh vật quỷ quái!—vẫn là nhà tiên tri, dẫu là chim hay quỷ!
Vì Thiên đàng đang uốn mình bên trên chúng ta, vì vị Chúa mà cả hai chúng ta cùng sùng kính,
Hãy nói cho tâm hồn đầy tang tóc này hay, liệu ở chốn Aidenn xa xôi kia,
Nó có được ôm lấy một thiếu nữ thánh thiện mà các thiên thần gọi tên là Lenore—
Ôm lấy thiếu nữ diễm lệ, ngời sáng mà các thiên thần gọi tên là Lenore.”
Con quạ đáp: “Không bao giờ.”
“Hãy lấy từ đó làm dấu hiệu chia tay giữa chúng ta, hỡi chim hay yêu tinh!” ta thét lên, vùng đứng dậy—
“Hãy cút về lại cơn bão tố và bờ sông Pluton xứ sở Đêm đi!
Đừng để lại một chiếc lông đen nào làm kỷ vật cho lời dối trá mà linh hồn ngươi vừa thốt ra!
Hãy để sự cô đơn của ta được yên thân!—cút khỏi bức tượng bán thân phía trên cửa của ta!
Hãy rút cái mỏ của ngươi ra khỏi trái tim ta, và cất cái thân hình ngươi khỏi cửa phòng ta!”
Con quạ đáp: “Không bao giờ.”
Và con quạ, chẳng hề bay đi, vẫn đang ngồi, vẫn đang ngồi
Trên bức tượng Pallas nhợt nhạt ngay phía trên cửa phòng ta;
Và đôi mắt nó mang trọn vẻ bề ngoài của một con quỷ đang chìm trong giấc mơ,
Và ánh đèn hắt chiếu qua người nó đổ bóng xuống sàn nhà,
Và linh hồn ta từ vũng bóng tối đang trải dài trôi nổi trên sàn nhà ấy
Sẽ được nâng lên—không bao giờ có chuyện đó nữa!