(Trích từ Báo cáo của Tướng Houston gửi ngài D. G. Burnet, Quyền Tổng thống nước Cộng hòa Texas, ngày 25 tháng 4 năm 1836.)
Tôi vinh dự xin được trình báo với ngài rằng vào chiều ngày mười tám vừa qua, sau một cuộc hành quân cưỡng bức dài năm mươi lăm dặm hoàn thành trong hai ngày rưỡi, quân đội đã tiến đến phía đối diện Harrisburg. Chiều hôm đó, một giao liên của địch đã bị bắt, và từ hắn, tôi hay tin Tướng Santa Anna cùng một sư đoàn tinh nhuệ đã hành quân về hướng phà Lynch trên sông San Jacinto, thiêu rụi Harrisburg trên đường rút qua. Quân đội được lệnh chuẩn bị sẵn sàng hành quân vào sáng sớm hôm sau. Chủ lực quân đã vượt qua nhánh sông Buffalo phía dưới Harrisburg vào sáng ngày 19, sau khi để lại phía sau quân tư trang, thương binh và một lực lượng canh gác trại đầy đủ. Chúng tôi tiếp tục hành quân suốt đêm, chỉ dừng chân ngắn ngủi một lần trên thảo nguyên và không có chút đồ ăn thức uống nào.
Vào lúc rạng đông, chúng tôi tiếp tục lên đường, và chẳng cách bao xa thì lực lượng trinh sát của chúng tôi đã chạm trán với quân địch, đồng thời nhận được tin báo rằng Tướng Santa Anna đang có mặt ở New Washington và trong ngày hôm đó sẽ lên đường tiến về Anahuac, vượt sông tại phà Lynch. Quân đội Texas dừng lại cách bến phà nửa dặm trong một khu rừng thưa và đang bận xẻ thịt bò thì phát hiện quân đội của Santa Anna đang tiến đến theo đội hình chiến trận, trước đó đóng quân tại Clopper’s Point, cách đó tám dặm về phía hạ lưu. Các lực lượng của chúng tôi lập tức được bố trí và chuẩn bị để đón tiếp hắn. Hắn triển khai bộ binh và pháo binh ở trung tâm, chiếm lấy một dải rừng, còn kỵ binh bảo vệ sườn trái.
Pháo binh địch, gồm một khẩu đại bác đồng cỡ trung bình, đúc dày hai lớp, loại mười hai pa-ao, bắt đầu khai hỏa vào trại của chúng tôi. Lực lượng bộ binh địch tiến lên theo đội hình hàng dọc với ý đồ xung phong vào chiến tuyến của chúng tôi, nhưng đã bị đẩy lùi bởi loạt đạn chùm và đạn ria từ pháo binh của ta, gồm hai khẩu sáu pa-ao [được gọi là “Cặp sinh đôi”]. Địch đã chiếm một dải rừng nằm trong tầm bắn của súng trường thuộc cánh trái quân ta, nơi hai bên đấu súng qua lại lẻ tẻ cho đến khi địch rút về một vị trí bên bờ sông San Jacinto, cách trại của chúng tôi khoảng ba phần tư dặm, và bắt đầu dựng công sự. . . . . .
Khoảng chín giờ sáng ngày 21, quân địch được tăng viện 500 quân tinh nhuệ dưới quyền chỉ huy của Tướng Cos, nâng tổng số quân chiến đấu của chúng lên hơn 1.500 người, trong khi tổng lực lượng ra trận của chúng ta là 783 người. Lúc ba giờ rưỡi chiều, tôi ra lệnh cho các sĩ quan quân đội Texas tập hợp lực lượng dưới quyền, đồng thời trước đó đã hạ lệnh phá hủy cây cầu trên con đường độc đạo nối liền với sông Brazos, cách trại chúng ta tám dặm, nhằm cắt đứt mọi đường tẩu thoát. Quân ta tập hợp với tinh thần hăng hái, sôi sục và vô cùng mong chờ trận chiến. Sự chênh lệch về quân số mà họ nhận thức rõ dường như chỉ càng làm tăng thêm nhiệt huyết và sự tự tin, đồng thời đẩy cao khao khát giao tranh.
Đại tá Sherman cùng trung đoàn của mình đã mở màn cuộc chiến ở cánh trái, toàn bộ chiến tuyến ở trung tâm và cánh phải vừa tiến với tốc độ gấp đôi vừa hô vang khẩu hiệu chiến đấu, “Hãy nhớ đến Alamo!”, hứng chịu làn đạn của địch và tiến vào trong tầm bắn thẳng trước khi một phát súng nào từ chiến tuyến của ta vang lên. Chiến tuyến của chúng tôi tiến thẳng không ngừng nghỉ cho đến khi làm chủ được khu vực rừng rậm và chiến lũy của địch, trong đó cánh phải của Burleson và cánh trái của Millard chiếm lấy công sự; pháo binh của ta đã hiên ngang xung phong cách đại bác địch chỉ bảy mươi thước trước khi chiếm được nó.
Trận chiến kéo dài khoảng mười tám phút tính từ lúc giáp lá cà cho đến khi chúng ta chiếm được trại địch, thu giữ một khẩu đại bác (đang nạp đạn), bốn lá cờ, toàn bộ trang thiết bị quân nhu, kho tàng và hành lý của chúng. Kỵ binh của ta đã xung phong đánh tan kỵ binh địch ở cánh phải và truy đuổi những kẻ chạy trôn không ngừng nghỉ cho đến khi đến cây cầu mà tôi đã nhắc tới trước đó — Đại úy Karnes, người luôn xông xáo nơi nguy hiểm nhất, chỉ huy lực lượng truy kích. Cuộc chiến ở chiến lũy chỉ kéo dài trong chốc lát; nhiều binh sĩ giáp lá cà cận chiến, và vì không có lợi thế về lưỡi lê bên phía ta, các xạ thủ súng trường đã dùng súng làm gậy chiến đấu, làm gãy gục nhiều khẩu ngay tại phần búa súng. Cuộc truy quét bắt đầu lúc bốn giờ rưỡi, và cuộc truy đuổi của đại quân kéo dài cho đến khi chạng vạng.
[Trong trận chiến này, bản thân Tướng Houston đã bị thương nặng, một viên đạn làm nát mắt cá chân ông. Sau đó, “tiểu đoàn bộ binh Texas đã dũng mãnh xung phong đối đầu với một sư đoàn bộ binh Mexico gồm hơn năm trăm quân. . . . Vị Tổng tư lệnh, nhận thấy hiểm nguy, phi ngựa lao thẳng vào giữa lực lượng bộ binh Texas và Mexico, rồi hô lớn, ‘Tiến lên nào các chàng trai dũng cảm, Tướng quân đang dẫn đường cho các bạn.’ . . . Lệnh khai hỏa được Tướng Houston đưa ra, . . . một loạt đạn duy nhất, một cuộc lao xuyên qua làn khói, những cú giáng búa rìu từ báng súng trường giơ cao đã quật ngã những kẻ chưa bị đạn gục ngã. Chỉ có ba mươi hai trong số năm trăm quân Mexico sống sót để đầu hàng làm tù binh chiến tranh. Trong khi đó, vết thương ở mắt cá chân của Tướng Houston vẫn đang chảy máu đầm đìa. Ngựa của ông đang hấp hối và chỉ có thể lê bước qua những thây ma đầy khó khăn. Mọi cử động của quân đội vẫn được vị Tổng tư lệnh quan sát tường tận, và khi đoàn quân cuồn cuộn quét qua chiến trường trong khúc khải hoàn, ông nhìn thấy dòng triều chiến trận đang trao cho những người lính dũng cảm của mình thứ thành công vô song.”—Xem Tác phẩm Cuộc đời Sam Houston của Crane.]