Bên ngoài vạn quân vây thành, trong thành lại chỉ có nghìn lẻ quân thủ, vả lại tường thành thấp bé, giáp binh yếu kém. Kỷ Duy cũng có chút tự biết mình, y ngoan ngoãn nghe theo lời “thỉnh cầu” của Tử Hạ, mở cửa thành, đồng ý để quân Lỗ “mượn đường”, và sẵn lòng cung cấp không bồi thường mười ngày lương thảo cho quân Triệu. Tổng dân số nước Kỷ chưa đến ba vạn, dù muốn nhiều hơn y cũng không lấy ra nổi.
Sau đó, Kỷ Duy giao mọi việc cho các đại phu thành Thuần Vu xử lý, còn bản thân chạy về cung thất đơn sơ của mình mà hờn dỗi. Điều khiến y tức giận không phải là ý đồ của Tử Hạ khi đến nước Kỷ thám lộ cho Triệu Hầu, mà là giận y không chịu nói lời thật lòng, chưa từng coi mình là bạn hữu.
Tử Hạ cũng là bậc quân tử, thấy Kỷ Duy như vậy, trong lòng sinh thẹn thùng. Dưới sự điều đình của y, đội quân nước Lỗ này cũng xem như chiếu cố nước Kỷ, đại quân không tiến vào thành Thuần Vu mà đóng quân bên ngoài. Sau khi nghỉ ngơi một đêm, họ liền lên đường tới Duyên Lăng, chỉ để lại một ít người theo Tử Hạ trông coi hậu phương, trù tính lương thảo.
Đúng như Tử Hạ đã nói, lần này họ hành quân qua nước Kỷ, quả thực là để mượn đường. Thống soái của đội quân này chính là Nhiễm Cầu, người đã lập đại công trong chiến tranh Triệu - Ngô. Sau khi chiến tranh vùng Hoài Tứ kết thúc vào năm kia, Nhiễm Cầu được điều đến Đông Lỗ, phối hợp với Quốc, Cao, Yến tam gia đang trấn thủ thành Cử phản công Lang Nha.
Cử Tử đầu quân cho nước Tề không có sức hiệu triệu trong nước, các đại phu thà đầu quân cho nước Triệu còn hơn điên cuồng cùng ông ta. Cuộc tấn công rất thuận lợi, sau khi giành lại Lang Nha, giải cứu Từ Thừa và tướng sĩ thủy quân đã làm "người rừng" gần một năm trên núi Lang Nha, Nhiễm Cầu lại phụng mệnh đóng quân ở nước Cử. Trong cuộc chiến tranh Triệu phạt Tề, ông là thống soái chiến tuyến phía Đông, dưới trướng ngoài một quân Đông Lỗ ra, còn có gia binh của Yến thị và Bào thị.
Nước Tề ở biên giới phía Đông cũng có mấy đoạn trường thành, kéo dài từ ải Mục Lăng đến thành Tức Mặc, thế nhưng Nhiễm Cầu sớm đã nhìn ra, đoạn trường thành này cũng có một nhược điểm chí mạng, đó chính là nước Kỷ.
Nước Tề đóng trọng binh ở thành Tức Mặc và ải Mục Lăng, duy chỉ có nước Kỷ là vùng trắng. Tử Hạ lấy thân phận du sĩ vào nước Kỷ thăm dò, cũng là xảy ra trong tình huống này. Đào mở một đoạn trường thành, men theo sông Duy vào Thuần Vu, rồi tiến sâu vào nơi hiểm yếu của nước Tề, đã trở thành chiến lược định sẵn của chiến tuyến phía Đông.
Hiện nay chiến lược đã hoàn thành được một nửa, thế nhưng đối với chủ soái Nhiễm Cầu, cũng như nhiều người nước Lỗ mà nói, họ vốn dĩ chưa từng có thiện cảm gì với nước Kỷ dưới chân.
Năm xưa nước Kỷ nhỏ bé, kẹp giữa nước Tề, nước Lỗ, thường xuyên bị xâm nhiễu. Trong lịch sử, nước Lỗ nhiều lần lấy cớ Kỷ Quân không kính, nhiều lần đánh nước Kỷ, chiếm đoạt ruộng đất của nước Kỷ. Nước Kỷ vì để tự bảo toàn, liền kết minh với nước Tấn. Kỷ Ẩn Công làm được một vụ mua bán một vốn bốn lời: ông gả con gái cho Tấn Đạo Công làm thiếp, kết quả sinh ra Tấn Bình Công.
Thế này thì nước Kỷ coi như đã ôm được một cái đùi to. Đợi đến khi Tấn Bình Công trưởng thành, không thắng nổi lời rỉ tai của mẹ, quyết định phù trợ nước Kỷ, giúp họ dời đô về Thuần Vu. Chẳng những vậy, nước Tấn còn đòi lại ruộng Kỷ từ nước Lỗ cho nước Kỷ, nước Lỗ buộc phải đồng ý.
Thế nhưng trong bóng tối, người Lỗ vô cùng phẫn nộ trước việc nước Tấn thiên vị nước Kỷ quá mức, họ bất bình nói: "Nước Kỷ là hậu duệ nhà Hạ, mà dùng lễ Di. Nước Lỗ là hậu duệ Chu Công, mà cùng họ với nước Tấn. Nay nước Tấn không lo nhà Chu suy vi, trái lại bảo vệ tàn dư nhà Hạ, thật là đạo lý gì thế này! Đem toàn bộ nước Kỷ ban cho nước Lỗ còn hơn, sao có thể tổn hại lợi ích nước Lỗ mà làm béo nước Kỷ!"
Chuyện này đã qua bốn năm mươi năm, thời gian của hai thế hệ, thế nhưng một số tính cách địa phương ăn sâu bén rễ rất khó xoay chuyển. Trong lòng các sĩ nhân nước Lỗ như Nhiễm Cầu, hiện nay nước Lỗ đã cùng nước Triệu "xe cùng đường, sách cùng văn", gần như hợp làm một, vậy thì nên làm nốt việc mà năm xưa nước Tấn chưa làm, sáp nhập thành ấp nước Kỷ vào cương vực nước Lỗ! Còn về người Kỷ, dời họ đến vùng đất khỉ ho cò gáy nào đó tiếp tục tế tự xã tắc nhà Hạ Hậu thị là được.
Tuy nhiên những lời này vẫn còn trong bụng Nhiễm Cầu, chưa dễ dàng nói ra. Lần trước vì cái chết của Tư Mã Tử Ngưu, khiến Nhiễm Cầu xúc động nói nhiều lời thị phi về Nam Tử và Thiên Đạo Giáo, điều này gián tiếp khiến Triệu Vô Tuất phân chia nước Tống, để Nhạc thị trấn thủ Bành Thành. Hiện nay hai năm đã trôi qua, nước Tống vẫn ở trạng thái chia trị Đông - Tây.
Nhiễm Cầu rất có chừng mực, vô cùng nhạy cảm với quan hệ quân thần, ông biết, có những lời phải nhìn chuẩn thời cơ mới nói được, vả lại ông cũng không xác định được, trận này nếu có thể phá Tề trong một trận, Triệu Hầu sẽ đối đãi thế nào với Tề, Lỗ, Kỷ, cho đến nước Cử.
Tình thế phương Đông này, vẫn chưa rõ ràng a...
Nhưng có một điểm Nhiễm Cầu chắc chắn, đó chính là bất kể là nước nào, sau chiến tranh bị chia cắt thế nào, tiếp tục tồn tại cũng tốt, diệt vong cũng tốt, sinh ra cái mới cũng tốt, mọi người đều phải ngoan ngoãn ở dưới trật tự mới do Triệu Hầu vạch ra!
Cứ như vậy, vào đầu tháng Bảy, Nhiễm Cầu để Bào Tức dẫn vài nghìn gia binh của mình cầm chân quân Tề ở ải Mục Lăng, để Yến Ngữ dẫn vài nghìn người tấn công trọng trấn Tức Mặc phía Đông nước Tề, còn bản thân ông thì dẫn chủ lực, lợi dụng vùng trắng là nước Kỷ này, một đường tiến quân về phía Bắc, tiến sâu vào nơi hiểm yếu nước Tề, uống ngựa ở hạ lưu sông Duy, tức là Duy Phường đời sau.
Đặt chân tới đây, Nhiễm Cầu đã rất gần với mục tiêu chiến lược của mình rồi.
Bội Điện, đây chính là nơi Nhiễm Cầu sắp tấn công!
---❊ ❖ ❊---
Bội Điện, tức Xương Ấp, Sơn Đông đời sau, nơi này vốn là địa bàn của Lai Di vùng Đông Di. Hai trăm năm trước, sau khi Tề Trang Công chinh phục nơi này, bắt đầu thiết lập Bội Điện. Qua hai thế kỷ phát triển, nơi này đã được khai phá khá tốt, được nước Tề dùng làm biệt đô phương Đông, sở hữu một quần thể thành ấp phồn vinh, dân số gần mười vạn, nghề nấu muối và ngư nghiệp đều rất phát triển, là vùng lõi của Giao Tây.
Ngoài kinh tế phát triển ra, nơi này còn phía Nam gối sông Duy, phía Bắc gối biển Thiếu Hải, sông núi bao bọc, che chắn Đông - Tây, là nơi trọng yếu kết nối Lâm Truy và Đông Lai, cho nên Triệu Vô Tuất khi chế định chiến lược mới để Nhiễm Cầu ở chiến tuyến phía Đông lấy đây làm điểm cuối tiến quân.
Chỉ tiếc, Nhiễm Cầu vẫn đến muộn vài ngày. Sau khi binh lâm Bội Điện, ông mới biết được, ngay vài hôm trước, Trần Hằng đã từ Lâm Truy dẫn vài nghìn người đến Bội Điện, thế nhưng không dừng lại quá lâu, sau khi để lại một ít binh tốt đoạn hậu, liền vượt sông Duy, sông Giao Lai tiếp tục đi về phía Đông.
“Trần Hằng này thật là xảo quyệt hơn cả cáo, lại còn mọc một cái mũi giống như chó ngựa.” Nhiễm Cầu biết Trần Hằng là kẻ thù khó chơi nhất của quân thượng, chẳng phải vì hắn mạnh, mà là vì hắn kiên trì không ngừng nghỉ đối đầu với Triệu Hầu, có lẽ vì họ đều là những kẻ trộm quốc đại đạo?
Nếu có thể giết hoặc bắt sống Trần Hằng, chắc chắn là đại công một việc. Lần này lại để hắn chạy mất, Nhiễm Cầu không khỏi có chút tiếc nuối.
Tuy nhiên ông vẫn chặn được cái đuôi của Trần Hằng, phía sau có người tộc Trần thị là Trần Báo dẫn theo một nhóm quý tộc và bách tính tới, liền bị quân Lỗ ngăn cản, không thể tiến thêm, như vậy, nước Tề liền bị cắt rời thành hai đoạn Đông - Tây.
Nhiễm Cầu thận trọng, không mạo hiểm vượt sông Duy đuổi theo Trần Hằng, vùng Đông Lai đồi núi chằng chịt, nếu không quen địa hình giao thông thì rất dễ chịu thiệt. Nhiệm vụ của ông chính là công phá Bội Điện, bóp nghẹt Đông Lai, sau đó hướng về phía Tây hội hợp với Triệu Vô Tuất.
Thượng tuần tháng Bảy, sau gần mười ngày ác chiến, Bội Điện lòng người hoảng sợ cuối cùng cũng bị công phá. Nhiễm Cầu để lại nghìn lẻ người trấn thủ nơi này, liền dẫn chủ lực tiến về phía Tây. Ngày mười lăm tháng Bảy, ba đội quân Tế Nam, Trường Thành, Giao Tây hoàn thành hội sư, ngoài quốc đô và Đông Lai ra, các vùng còn lại của nước Tề đều đã bị quân Triệu, Lỗ công phá.
Cứ như vậy, gần mười vạn đại quân bao vây Lâm Truy, xã tắc nước Tề, sự tồn vong của Trần thị, không tuyệt như lũ!