Ippolit, ngủ thiếp đi trên đi văng, vào cuối bài diễn thuyết của Lebedev bỗng hắn chợt thức giấc như thể có ai thúc vào sườn hắn: Hắn giật mình nhỏm ngay dậy; nhìn táo tác chung quanh và mặt mày tái mét lại với nỗi sợ sệt, hãi hùng khi nhớ lại tất cả mọi chuyện. Hắn đã tỉnh trí lại.
– Ủa? Mọi người đi hết rồi sao? Tàn cuộc rồi à? Chấm dứt rồi sao? Mặt trời đã mọc chưa? - Hắn hỏi giật giọng, níu lấy tay hoàng thân. - Mấy giờ rồi, lạy Chúa tôi, mấy giờ rồi nhỉ? Tôi ngủ quên đi mất. Tôi ngủ có lâu không vậy? - Hắn hỏi thêm, gần như tuyệt vọng, làm như thể hắn ngủ quên đi mất một việc có quan hệ thiết thân đến số phận của hắn không bằng.
– Cậu ngủ chừng bảy, tám phút, - Evgeni Pavlyts trả lời.
Ippolit trừng trừng nhìn chàng và suy nghĩ giây lát.
– À, ra chỉ có thế thôi à? Vậy mà tôi…
Hắn trút hơi thở nhẹ nhõm như ném đi được một gánh nặng. Rốt cuộc hắn nhận ra rằng chưa có gì xong cả, rằng mặt trời chưa mọc, rằng mấy ông khách vừa đứng dậy khỏi bàn chỉ để đánh chén và chỉ có Lebedev là mới chấm dứt bài ca của lão đó thôi. Hắn mỉm cười và cơn sốt rét làm hiện hai chấm đỏ tươi lên đôi má hắn.
– Ra vậy là ông đếm cả từng phút tôi ngủ đấy, - hắn mai mỉa nói. - Suốt buổi tối hôm nay, tôi nhận thấy ông không hề rời mắt khỏi tôi mà. Kìa! Rogojin cũng ở đây! Chà, tôi vừa nằm mơ thấy ông ấy, - hắn thầm thì vào tai hoàng thân, chau mày rồi hất đầu về phía Rogojin đang ngồi ở bàn. - Ờ, phải mà, - hắn chợt nói rồi nhảy ngay qua một ý tưởng khác. - Sao? Nhà hùng biện Lebedev đâu rồi? Lebedev đã nói xong hẳn chưa? Ông ta thuyết trình đề tài gì thế? Này, hoàng thân, quả có lần ngài từng bảo rằng thế gian này sẽ được cứu chuộc bằng “cái đẹp” phải không? Thưa quý vị, - hắn la lớn tiếng với mọi người, - hoàng thân vẫn cho rằng cái đẹp sẽ cứu rỗi thế gian này. Và tôi cho rằng lý do khiến ngài nẩy ra tư tưởng ngộ nghĩnh vui tươi đó là vì ngài đang yêu. Kính thưa quý vị, hoàng thân đang yêu đấy. Vừa mới đây, lúc ngài bước vào, tôi đã tin thế rồi. Nào hoàng thân, đừng đỏ mặt chứ, nếu không rồi tôi lại ái ngại cho ngài mất thôi! Cái đẹp nào sẽ cứu rỗi thế gian? Chính Kolia đã kể cho tôi nghe việc này… Ngài có phải là một tín đồ Cơ đốc nhiệt thành không? Kolia bảo rằng ngài tự xưng là một tín đồ Cơ đốc giáo, người của đấng Christ.
Hoàng thân nhìn hắn chăm chú nhưng không trả lời gì cả.
– Ngài không trả lời tôi sao? Hẳn ngài nghĩ rằng tôi thích ngài chắc? - hắn nói, rồi chợt nói thêm như thể ý tưởng đó đã vuột khỏi trí hắn.
– Không, tôi không hề nghĩ như vậy. Tôi biết rằng bạn không ưa gì tôi.
– Sao? Ngay cả sau ngày hôm qua mà ngài vẫn nghĩ thế à? Hôm qua há tôi đã không thật lòng với ngài sao?
– Tôi biết là cả hôm qua nữa bạn cũng không hề thích tôi.
– Ý ngài muốn nói là tôi ghen, ghen với ngài chứ gì? Vì tôi ganh tị với ngài chứ gì? Ngài đã từng nghĩ thế và giờ đây ngài vẫn còn nghĩ thế thật. Nhưng mà… nhưng mà tại sao tôi lại nói với ngài điều này làm chi nhỉ? Tôi muốn uống sâm banh nữa. Nào Keller, rót cho tôi ít nữa đi!
– Bạn không được uống nữa, Ippolit ạ, tôi không cho bạn uống nữa đâu.
Rồi hoàng thân đẩy cái ly của hắn ra xa.
– Ngài nói đúng, - hắn đồng ý ngay với vẻ nghĩ ngợi. - Người ta rồi sẽ nói rằng… nhưng họ nói gì thì mặc xác họ! Tôi bất kể. Có đúng không nào? Họ thích gì thì họ cứ việc nói, có phải không, hoàng thân? Việc gì xảy ra sau đó thì có ăn nhập gì đến chúng ta đâu! à, mà đó là tôi nói vì đang ngái ngủ thôi. Tôi từng nằm thấy một giấc mơ khủng khiếp, tôi vừa nhớ lại giấc mơ đó xong. Tôi chẳng mong cho ngài phải nằm thấy một giấc mơ như thế đâu, hoàng thân ạ, mặc dù có lẽ tôi không ưa ngài thật. Với lại, dù mình có không ưa ai nữa, thì cũng chúc dữ cho họ làm gì chứ, phải thế không? Tại sao tôi cứ mãi hỏi han thế nhỉ? Tôi cứ hỏi mãi, hỏi hoài! Nào, ngài đưa tay cho tôi đi. Tôi sẽ siết tay ngài thật chặt, như thế này này. Vậy là ngài đã đưa tay ra cho tôi đấy nhé! Thế có nghĩa là ngài biết rằng tôi sẽ bắt tay ngài thành thật. Thôi được, tôi không uống nữa đâu. Mấy giờ rồi? Mà thôi chả cứ, tôi đã biết mấy giờ rồi. Giờ đã điểm. Đã đến lúc rồi. Họ đang làm gì thế kia? Ra họ dọn ăn ở góc đó à? Trong khi cái bàn này thì lại bỏ trống! Tuyệt thật! Thưa quý vị… tôi… nhưng mà các quý vị này có nghe gì đâu… Tôi định đọc một bài báo, hoàng thân ạ, đã hẳn là thức ăn thì hấp dẫn hơn, nhưng mà…
Rồi bất ngờ hết sức, hắn rút từ túi áo trong ra một phong bì lớn, đóng giáp lai bằng một con dấu lớn đỏ chói. Hắn bỏ phong bì xuống bàn trước mặt hắn.
Cử chỉ bất ngờ này làm xôn xao đám đông, cái đám đông đã “xin xỉn” cả rồi và bất cứ chuyện gì khác cũng khiến họ hăng lên được, trừ cái màn này ra. Evgeni Pavlyts nhảy dựng lên khỏi ghế. Gania đi nhanh đến bàn; Rogojin cũng thế, nhưng với một vẻ giận hoảng quạu quọ, như thể gã đã biết việc này thế nào rồi. Lebedev đứng cạnh đấy liền xông ngay đến mà trố đôi mắt ti hí nhìn chăm chăm chiếc phong bì ấy, cố đoán xem nội dung của nó như thế nào.
– Bạn có cái gì đấy? - Hoàng thân băn khoăn hỏi.
– Hoàng thân ạ, khi nào chớm rạng đông, tôi sẽ đi ngủ. Tôi xin hứa như vậy, rồi ngài xem! - Ippolit kêu lên. - Nhưng… nhưng chả lẽ ngài nghĩ rằng tôi không ở trong một tâm trạng sẵn sàng để mở phong bì đó ư? - Hắn nói thêm, nhìn mọi người chung quanh một cách khiêu khích, có vẻ như không buồn để ý đến chuyện hắn đang nói với ai nữa. - Hoàng thân thấy người hắn run lập cập.
– Chúng tôi chẳng ai nghĩ như thế cả, - hoàng thân trả lời chung cho mọi người. - Mà tại sao bạn lại cho rằng có ai lại nghĩ đến một điều như thế chứ? Bạn muốn đọc cho chúng tôi nghe thì quả là một ý tưởng lạ lùng đó. Bạn đang có cái gì thế, hở Ippolit?
– Cái gì thế nhỉ? Bây giờ hắn lại làm sao thế nhỉ? - Mọi người nhao nhao lên hỏi. Mọi người lân la đến gần, có mấy kẻ vẫn còn ăn uống nhồm nhoàm; chiếc phong bì có đóng dấu đỏ đã lôi cuốn họ như một thỏi nam châm.
– Chính tôi đã viết lấy bài này hôm qua đây, ngay sau lúc tôi hứa sẽ đến ở với ngài đấy, hoàng thân ạ. Tôi đã viết suốt một ngày, một đêm hôm qua và mới xong sáng nay. Gần đêm về sáng, tôi có thấy một giấc mơ…
– Bạn hoãn việc này lại đến mai có hơn không? - Hoàng thân e ngại ngắt lời.
– Ngày mai không còn thì giờ nữa, - Ippolit cười như điên. - Nhưng đừng lo, tôi chỉ đọc trong vòng bốn mươi phút, nhiều lắm là một giờ thôi. Ngài cứ nhìn thử coi, mọi người chú ý biết bao nhiêu kia kìa! Họ kéo đến đây hết, họ đều nhìn cái dấu triện, nếu tôi không niêm phong cái phong bì lại thì chắc chẳng có gì kích thích cả! Ha, ha! Bí mật bao giờ cũng hấp dẫn hết. Tôi có nên mở dấu hay không đây quý vị? - Hắn la lớn, cười cái cười kỳ dị của hắn rồi nhìn mọi người với đôi mắt long lanh. - Một bí mật! Một bí mật! Nhưng này hoàng thân, ngài có nhớ ai đã phán “Sẽ không còn có thời giờ nữa” không? Lời ấy đã được phán bởi môi miệng của vị thiên thần vĩ đại và quyền năng trong sách Khải Huyền đấy.
– Tốt hơn là đừng nên đọc! - Evgeni Pavlyts chợt kêu lên với một vẻ băn khoăn không hợp với chàng chút nào, đến nỗi mọi người đều chưng hửng kinh ngạc.
– Đừng đọc làm gì! - Hoàng thân cũng kêu lên, tay ngài đặt trên chiếc phong bì.
– Tại sao lại đọc bây giờ chứ? Đây là giờ ăn mà, - một kẻ bảo.
– Một bài báo chăng? Một bài viết gửi đăng vào tạp chí chăng? - Kẻ khác hỏi.
– Chắc lại là một bài chán ngắt chứ gì, - một kẻ thứ ba chêm vào.
– Bài đó viết cái gì thế? - Những kẻ khác nhao nhao lên hỏi.
Nhưng dáng điệu hốt hoảng của hoàng thân hình như khiến cho ngay cả Ippolit cũng đâm hoảng.
– Vậy là tôi không được phép đọc chứ gì? - Hắn ngại ngùng thầm thì với hoàng thân, nụ cười méo mó nở trên đôi môi tái ngắt của hắn, - Tôi không được phép đọc? - Hắn nhắc lại, đoạn nhìn mọi người chung quanh, nhìn tận mắt, tận mặt tất cả như hắn khao khát muốn bắt họ phải chú ý nghe hắn thổ lộ can tràng như trước, - Ngài sợ… sao? - Hắn nói, lại quay sang phía hoàng thân.
– Sợ gì? - Sắc mặt hoàng thân càng lúc càng biến đổi.
– Ai có đồng hai mươi copec đấy không? - Ippolit nhảy dựng khỏi ghế như có ai kéo cổ hắn dậy. - Hay có đồng xu nào cũng được?
– Đây! - Lebedev đưa ngay cho hắn một đồng tiền, lão nghĩ rằng Ippolit đã hóa điên rồi.
– Này Vera Lukianovna! - Ippolit vội vàng gọi cô gái đến bên hắn. - Cô hãy thẩy đồng tiền này lên bàn. Ta chơi sấp ngửa. Nếu ngửa thì tôi đọc!
Vera lấm lét nhìn đồng xu, nhìn Ippolit, rồi nhìn cha nàng, xong nàng bỡ ngỡ quay đầu di chỗ khác như thể nàng cảm thấy không nên nhìn đồng tiền ấy, rồi nàng tung đồng tiền lên bàn.
– Ngửa.
– Tôi đọc vậy! - Ippolit lẩm bẩm, như thể hắn bị đè nghiến dưới phán quyết của định mệnh: giá hắn có bị tuyên án tử hình thì hẳn cũng không thể tái xanh hơn thế được nữa. - Nhưng cái gì thế này? - Hắn chợt giật nẩy mình lên và nói sau đó nửa phút. - Có phải quả thật tôi đang cầm vận mạng mình trong tay không đây? - Hắn nhìn quanh mọi người cũng bằng một vẻ trân trối như vậy. - Nhưng đây là một hiện tượng tâm lý kinh dị! Đó là một hiện tượng thật khó tin, hoàng thân ạ! - Hắn nhắc lại, rồi phấn khởi và có vẻ tỉnh táo trở lại. - Thưa hoàng thân, hãy ghi chép điều này và nhớ cho kĩ; há ngài không sưu tập tài liệu về các vụ xử hình đó sao? Tôi có nghe người ta nói thế mà. Ha, ha! Chúa ôi, thật là thái thậm vô nghĩa lý! - Hắn ngồi xuống đi văng, cùi chỏ tựa trên bàn, hai tay bưng lấy đầu. - Thật là hổ thẹn quá, nhơ nhuốc quá! Mà có hổ thẹn nhơ nhuốc thì tôi cũng bất kể, tôi đếch cần! - Rồi hắn ngẩng đầu lên ngay. - Kính thưa quý vị, bây giờ tôi xin gỡ con dấu ra đây, - hắn tuyên bố với một vẻ quả quyết không ngờ. - Tôi… tôi không ép buộc quý vị phải nghe đâu!
Tay run lẩy bẩy vì xúc động, hắn mở phong bì, rút ra một xấp giấy viết thư dày đặc những dòng chữ viết li ti, đặt xuống trước mặt rồi lấy tay vuốt từng tờ cho thẳng thớm.
Cái gì thế này? Việc gì đang xảy ra đây? Hắn sắp đọc cái gì thế? - Mấy người buồn bã lẩm bẩm; những kẻ khác vẫn im ắng. Nhưng rồi mọi người đều ngồi xuống và trông ngóng với vẻ hiếu kỳ. Có lẽ họ đợi một việc phi thường nào đó sắp xảy ra. Vera nắm chặt lấy ghế của ông bố và mắt nàng rơm rớm lệ vì sợ. Kolia thì cũng gần như khiếp hãi, Lebedev vẫn ngồi tự nãy đã đứng lên vội vàng chuyển mấy ngọn nến lại gần Ippolit cho hắn có thêm ánh sáng mà đọc.
– Kính thưa quý vị… đây… tôi sẽ đọc cho quý vị nghe nội dung bài này. - Mọi người cũng không hiểu vì sao Ippolit lại giải thích thêm như thế, rồi bất chợt, hắn cất tiếng đọc, “Chúc ngôn của tôi”. Bi ký là: Après moi le déluge”.[1]- Mẹ kiếp! - Nó kêu lên như bị lửa đốt. - Có thể nào tôi lại trang trọng ghi một lời bi ký xuẩn ngốc dường ấy? Xin quý vị nghe đây! Tôi cam đoan với quý vị rằng đây là tất cả những chuyện vô lý dễ sợ chẳng ai còn nghi ngờ gì nữa hết! Ở đây chỉ có tản mạn một đôi tư tưởng của tôi mà thôi. Nếu quý vị nghĩ rằng có một điều nào bí mật hay… là… cấm kỵ… thì đó là…
Giá bạn đọc ngay đi mà đừng giáo đầu như thế thì hay hơn, - Gania chen vào.
– Hắn toan làm bộ làm tịch đấy mà! - Một kẻ bảo.
– Ba hoa hơi nhiều đấy, - Rogojin kê vào, tự nãy giờ gã vẫn yên lặng.
Ippolit chợt nhìn gã, lúc mắt họ giao nhao, Rogojin cười cay đắng và hằn học, rồi gã uể oải nói mấy lời lạ lùng:
Này cậu nhỏ, việc này không phải cư xử theo lối đó mà được đâu, không phải như thế đâu.
Dĩ nhiên, chẳng ai hiểu Rogojin muốn nói gì; nhưng lời gã nói đã gây một ấn tượng lạ lùng đối với mọi người. Ai nấy cùng chia sẻ một ý nghĩ. Đối với Ippolit, lời đó có một tác dụng khủng khiếp, hắn run quá sức đến nỗi hoàng thân phải đưa tay ra đỡ lấy hắn cho khỏi ngã; và chắc chắn hắn đã kêu thét lên nếu giọng nói không bị tắc nghẹn trong cuống họng. Suốt một phút đồng hồ, hắn không nói được một lời nào và hơi thở thật nặng nhọc, hắn chỉ còn biết ngó Rogojin trân trối. Rốt cuộc, lấy lại được hơi thở bằng một nỗ lực phi thường, hắn nói:
– A, ra ông… có phải là ông… Ông?
– Tôi làm sao? Tôi đã làm gì chứ? - Rogojin trả lời, thoáng bối rối. Nhưng Ippolit đã bừng bừng lửa giận, la lối kịch liệt:
– Chính ông đã đến nhà tôi tuần trước đây mà, lúc một giờ rưỡi đêm, cũng chính cái hôm tôi đến gặp ông vào buổi sáng đó! Đúng ông mà?!! Thú thật đi, có phải ông không?
– Tuần qua, vào ban đêm? Này cậu bé, cậu có điên không đấy?
“Cậu bé” lại lặng thinh, dí ngón tay trỏ trên chân mày ra chiều suy nghĩ; nhưng chợt cái cười xanh xao và dúm dó vì sợ hãi của hắn đã chìm dưới sắc mặt sáng rỡ, gần như đắc thắng.
– Chính là ông rồi! - Hắn lặp lại gần như thì thầm, nhưng với một niềm tín quyết. - Ông đã đến nhà tôi và ngồi lặng lẽ trong phòng tôi trên ghế, cạnh cửa sổ, trong suốt một giờ đồng hồ, có lẽ còn lâu hơn nữa, vào giữa khoảng mười hai đến hai giờ đêm, rồi khoảng ba giờ, ông đứng dậy ra đi. Chính là ông! Ông mà! Tại sao ông đến đe dọa tôi? Tại sao ông đến để hành hạ tôi? Tôi không hiểu- nhưng đúng là ông rồi!
Cả một ánh hận thù dằng dặc đong đầy trong mắt hắn, dù hắn vẫn còn run lên vì sợ hãi.
– Hượm một chút rồi quý vị sẽ biết hết mọi việc này… tôi… tôi nghe rằng…
Lại một lần nữa, và lần này bằng một vẻ gấp gáp đến điều, hắn chụp lấy mấy tờ giấy rải rác gộp lại với nhau, cố xếp mấy tờ giấy đó lại; giấy xọc xạch trong đôi tay run ray của hắn, mất một lúc lâu mà hắn vẫn không sao xếp mấy tờ giấy lại với nhau được.
Rốt cuộc rồi cũng đến màn đọc. Trong năm phút đầu, tác giả bài báo bất ngờ đó vẫn còn khó thở và đọc bằng một giọng vấp váp đứt quãng; nhưng ngay sau đó, giọng hắn trở nên chững chạc hơn và những lời hắn đọc mới thấy có ý nghĩa. Thỉnh thoảng, một cơn ho xé phổi lại làm hắn ngừng đọc giữa chừng, giọng hắn khàn hẳn đi. Nhưng nỗi phấn khích lạ thường của hắn cứ mãnh liệt hơn theo đà đọc, cho đến nỗi giọng hắn rít lên đến nhức nhối buốt cả tai khán thính giả. Đây là nguyên văn bài báo của hắn:
CHÚC NGÔN CỦA TÔI
APRÉS OI LE DÉLGUE
“Buổi sáng hôm qua, hoàng thân đã đến thăm tôi, thêm nữa, ngài đã thuyết phục tôi dọn đến ở nhà ngài. Tôi biết trước thế nào ngài cũng nài nỉ tôi việc ấy, và tôi thấy chắc chắn rằng ngài sẽ nói thẳng ra như sau: “Thà chết bên cạnh loài người và cây cối còn hơn”, hẳn ngài đã bảo vậy. Nhưng hôm nay, ngài đã không nói đến chữ “chết”, ngài nói: “Như thế sẽ dễ sống hơn”, nhưng trong hoàn cảnh của tôi thì hai cách nói đó chẳng có khác gì đâu. Tôi có hỏi ý ngài muốn nói gì với những từ “cây cối” mà ngài hay nhắc tới, và tại sao ngài cứ bắt tôi nghe chuyện “cây cối” ấy mãi, rồi tôi ngạc nhiên nghe ngài trả lời rằng, thì tại vì buổi tối hôm ấy tôi có bảo rằng tôi đến Pavlovsk để nhìn ngắm cây cối một lần cuối cùng. Khi tôi nhắc cho ngài nhớ rằng, có chết dưới tán cây hay chết khi nhìn bức tường gạch trước cửa sổ thì cũng vậy thôi, chỉ còn sống có hai tuần lễ nữa thì không nhất thiết gì phải làm rộn chuyện như vậy, ngài đồng ý với tôi ngay. Nhưng theo ý ngài, sự xanh mát và không khí trong lành chắc chắn sẽ biến đổi được phần nào thể chất của tôi, và nỗi phấn khích cùng những giấc mơ của tôi sẽ đổi khác và biết đâu lại không được vợi hẳn đi. Tôi cười nhắc ngài rằng ngài nói năng như một kẻ duy vật chủ nghĩa. Ngài mỉm cười trả lời rằng ngài vẫn luôn luôn là một kẻ duy vật. Ngài không hề nói dối, thế cho nên lời ngài nói chắc phải có ý nghĩa phần nào. Ngài có một nụ cười đôn hậu, tôi đã bắt đầu để ý ngài kĩ hơn từ dạo đó. Tôi không biết tôi có thích ngài hay không, tôi không có thì giờ để nghĩ đến việc ấy vào lúc này. Nỗi oán ghét của tôi đối với ngài suốt năm tháng trời phải nói là đã vơi đi trong tháng qua. Nào ai biết được, có lẽ tôi đến Pavlovsk chính là để thăm ngài. Nhưng mà… tại sao tôi lại bỏ phòng của tôi mà đi? Một kẻ đã bị tuyên bản án tử chẳng nên rời khỏi chốn ẩn náu của hắn; và nếu tôi đã không có một quyết định tối hậu vào lúc này mà cứ đợi cho đến phút chót, thì có lẽ cả thế gian này cũng không thể lôi tôi ra khỏi phòng được và sẽ chẳng bao giờ tôi nhận lời mời đến ở nhà ngài để được “chết” ở Pavlovsk.
“Tôi phải viết vội cho xong hẳn lời “chúc ngôn” này trước ngày mai. Nghĩa là tôi còn phải có thì giờ để duyệt lại và sửa chữa nữa; tôi sẽ đọc lại bài này cho hoàng thân và đôi ba chứng nhân mà tôi hy vọng sẽ được gặp tại nhà ngài ngày mai. Vì chẳng có một lời nào giả trá mà chỉ toàn là sự thật không thôi, một sự thật tối hậu và long trọng, tôi nao nức muốn biết xem bài báo đó sẽ gây được cảm tưởng như thế nào đối với tôi ngay lúc tôi đọc nó. Tuy nhiên, lẽ ra tôi đừng nên viết những chữ “sự thật tối hậu và long trọng” thì hơn, thật chẳng đáng gì mà nói dối trong vòng có hai tuần lễ, mà đúng không đáng nói dối thật, vì thế cho nên tôi sẽ chẳng viết gì ngoài sự thật cả. (Ghi chú: Cũng đừng quên cái ý tưởng này: trong phút ấy tôi không điên đấy chứ? Hay nói đúng hơn, trong những phút ấy? Người ta đã quả quyết bảo tôi rằng vào thời kỳ chót của chứng lao phổi, bệnh nhân thường bị mất trí một thời gian. Ngày mai lúc đọc bài báo này, tôi phải kiểm chứng điều đó qua phản ứng của các thính giả mới được. Phải giải quyết việc này với một mức độ chính xác nhất, nếu không, ta chẳng làm nên trò trống gì cả).
“Hình như thể tôi đã viết một điều ngu xuẩn ghê gớm, nhưng như tôi đã nói, tôi không có thì giờ để sửa chữa; với lại, tôi đã tự hứa là cứ để nguyên không sửa một hàng nào trong bản thảo này dù tôi nhận thấy cứ sau năm dòng là tôi lại tự mâu thuẫn rồi. Điều tôi muốn khám phá ra khi đọc bài này vào ngày mai là để xem tư tưởng của mình có ăn khớp một cách hợp lý không, xem thử tôi có nhận ra những chỗ sai lầm của mình hay không, và để xem thử mọi điều tôi suy nghĩ trong phòng này đây trong sáu tháng qua có đúng, hay chỉ là một cơn mê sảng đó thôi.
“Nếu hai tháng trước đây tôi phải rời phòng mình mãi mãi và vĩnh biệt bức tường nhà Meier, chắc chắn tôi đã sầu thảm lắm. Thế nhưng mà lúc này tôi không cảm thấy gì cả dù ngày mai tôi đã xa lìa gian phòng và bức tường ấy mãi mãi rồi! Vì còn có hai tuần lễ nữa để sống nên tôi tin rằng chẳng đáng gì phải tiếc nuối hay ràng buộc con người mình làm gì cho mệt. Niềm tin đó đã thắng cả bản chất của tôi, và biết đâu giờ đây lại còn điều khiển cả tình cảm của tôi nữa?! Nhưng có đúng thế không? Có thật là bản chất tôi đã hoàn toàn bị khuất phục rồi không? Vì giá bây giờ tôi bị hành hạ, tra khảo, chắc chắn tôi vẫn hét lên và vẫn đau đớn như thường, chắc chắn tôi cũng chẳng bảo là la lối làm gì, đau đớn làm gì cho mệt khi ta chỉ còn sống có hai tuần lễ nữa thôi.
“Nhưng có thật là tôi chỉ còn sống được hai tuần lễ nữa thôi không? Không lâu hơn thế không? Lúc ở Pavlovsk, tôi chỉ nói dối đấy thôi: Bạn không hề nói gì với tôi và chẳng gặp tôi bao giờ cả; nhưng một tuần trước đây, người ta đã phái đến tôi một chàng sinh viên tên là Kixlorodov; về niềm tin thì anh ta là con người duy vật, một nhà vô thần và một kẻ theo hư vô chủ nghĩa, cho nên tôi mới đặc biệt đòi cho được anh ta đến. Tôi muốn có người nói cho tôi nghe sự thật trần trụi mà chả cần gì phải gia giảm hay trịnh trọng lễ nghĩa gì cả. Anh ta đã thực hiện được điều đó, và chẳng những anh ta đã sẵn sàng thực hiện bất kể lễ nghi trịnh trọng, thậm chí còn với một vẻ khoan khoái lộ liễu nữa (điểm này tôi thấy anh ta đi quá xa). Anh ta nói thẳng thừng với tôi rằng tôi chỉ còn sống được chừng một tháng nữa thôi, may ra thì có thể lâu hơn đôi chút, nếu có điều kiện tốt hơn, mà có lẽ ít hơn thế cũng không chừng. Theo ý anh ta, tôi dám chết bất đắc kỳ tử lắm, ngày mai cũng không biết chừng. Những chuyện như thế đã từng xảy ra rồi. Mới ngày hôm kia đây ở Colomna, một thiếu nữ lao phổi như tôi vừa định đi chợ mua thức ăn thì chợt ngã bệnh, cô nằm vật xuống đi-văng thở hắt ra mà chết. Kixlorodov đã thuật cho tôi nghe đầy đủ chi tiết câu chuyện đó với một lối văn rườm rà, đầy vẻ lạnh lùng thờ ơ, anh ta cứ làm như thể tôi cũng là một loại người thượng thặng phủ nhận mọi sự như anh ta, một kẻ coi cái chết như đồ bỏ. Dù sao đi nữa, sự việc đã được an bài: chỉ đúng một tháng, không hơn! Tôi tin chắc rằng anh ta không lầm điều đó.
“Tôi ngạc nhiên hết sức khi nghe hoàng thân đoán rằng tôi đã mơ thấy những cơn “mộng dữ”; đúng là lời ngài nói tại Pavlovsk: “Cơn phẫn khích quá độ và những “giấc mơ” của tôi sẽ thay đổi”. Mà tại sao lại là những giấc mơ nhỉ? Hoặc giả ngài là một bác sĩ hay một người thông minh ngoại hạng và có thể đoán được nhiều điều. (Nhưng xét cho cùng, ngài chỉ là một “tên khờ” đó thôi, điều không cần phải nghi ngờ). Ngay trước khi ngài đến, cứ như là cố ý vậy, tôi đã mơ thấy một giấc mơ nhỏ (bây giờ thì tôi nằm thấy hàng trăm giấc mơ như thế!). Tôi thiếp ngủ- đâu chừng một giờ trước khi ngài đến- tôi mơ thấy mình đang ở trong một gian phòng (không phải là phòng của tôi). Phòng đó lớn và cao hơn, đồ đạc bày biện sang trọng hơn và sáng sủa hơn. Có một tủ áo quần, một tủ ngăn kéo, một đi-văng và chiếc giường lớn, rộng phủ khăn trải lụa xanh. Nhưng ở trong phòng đó, tôi thấy có một con vật dễ sợ, một loại quái vật. Nó giống như con bò cạp, nhưng không là bò cạp mà còn ghê tởm và khủng khiếp hơn nhiều, nói cho đúng thì không có một sinh vật nào giống như nó trong thiên nhiên, và có một điều bí nhiệm ở trong sự kiện là con quái vật đó cố ý xuất hiện trước tôi. Tôi nhìn quái vật thật kĩ: nó là một loài bò sát màu nâu có vỏ như vỏ ốc, dài vào khoảng hai tấc, đầu lớn bằng hai ngón tay và cứ nhỏ dần, khi xuống tới chóp đuôi thì chỉ còn khoảng năm milimét. Cách đầu khoảng năm phân là hai chân dài ngót tám phân mọc ra ở hai bên hông thành một góc 45°, cho nên toàn thân con vật có hình dạng như một cái chĩa ba nếu nhìn từ trên xuống. Tôi không nhìn rõ được cái đầu của quái vật cho lắm, nhưng tôi thấy nó có hai cái tua vòi ngắn cũng màu nâu, hình thù giống như hai chiếc kim cứng. Ở chóp đuôi cũng có hai vòi giống như thế và ở mút chân cũng vậy, tổng cộng có đến tám vòi tất cả. Con vật chạy quanh phòng rõ nhanh, nương mình trên chân và đuôi lúc chạy, toàn thân mình và đuôi nó uốn éo như con rắn nhỏ và nó chạy cực nhanh dù phải mang cả một cái mai trên mình, trông nó thật là gớm ghiếc. Tôi sợ quái vật đến phát khiếp và cứ ngại nó chích tôi, nhưng điều khiến tôi sợ hãi nhất là không biết ai đã đem con vật này vào phòng tôi, họ muốn làm gì tôi đây mà mọi việc này có hậu ý gì. Con vật nấp sau tủ ngăn kéo, dưới tủ quần áo rồi bò vào trong mấy xó nhà. Tôi ngồi xếp cả hai chân lên ghế. Nó chạy rõ nhanh băng thẳng qua phòng rồi biến mất đâu đó gần ghế tôi. Tôi hãi hùng nhìn quanh, nhưng nhờ lúc đó tôi ngồi thu chân trên ghế nên tôi hy vọng nó không leo lên được. Thình lình, tôi nghe ngay đằng sau, sát cạnh đầu tôi có tiếng sột soạt. Tôi quay lại sau, thấy con vật đang bò lên tường ngang tầm đầu tôi và cái đuôi vặn vẹo, uốn éo cực nhanh chạm cả vào tóc tôi. Tôi nhảy dựng lên, con vật biến mất. Tôi không dám nằm xuống giường sợ nó trườn xuống dưới gối. Mẹ tôi bước vào phòng với một gã đàn ông quen biết bà. Hai người cố sức bắt con vật. Họ bình tĩnh hơn tôi nhiều và không sợ con vật chút nào. Nhưng họ không hiểu gì cả. Bất thình lình, con vật lại trườn ra. Lần này nó bò thật chậm và hình như đã có một định ý rõ rệt, nó uốn éo thong thả, trông lại càng gớm ghiếc hơn bao giờ hết: nó lại bò ngang qua cả căn phòng ra phía cửa. Ngay lúc đó, mẹ tôi mở cửa gọi con chó Norma của chúng tôi vào, một con chó lông xồm đen khổng lồ, giống ở đảo Terre Neuve đã chết được năm năm nay rồi. Nó phi vào phòng rồi khựng lại trước mặt quái vật kia. Con vật nọ dừng bước, nhưng chân và đuôi nó cứ uốn éo, ngọ nguậy loạt soạt. Theo chỗ tôi biết, súc vật không hãi ma quỷ, nhưng vào lúc ấy, tôi thấy con Norma có vẻ sợ hãi một cách lạ thường, hình như cũng là nỗi sợ hãi huyền bí, tức là nó cũng cảm thấy như tôi là có một điềm định mệnh và bí ẩn nơi con quái vật kia. Nó thận trọng bước lùi lại tránh con vật đó, trong khi con vật cũng thong thả và lặng lẽ bò về phía nó, hình như quái vật muốn bất ngờ bổ nhào đến con chó mà mổ nó. Dù sợ hãi đến run ray cả tứ chi, nhưng con Norma vẫn nhìn quái vật với đôi mắt đầy giận dữ. Nó từ từ nhe hàm răng phát khiếp ra, há cái mõm đỏ chói to tướng ra, co người lại lấy đà sẵn sàng phóng tới rồi thình lình quyết liệt nhảy vào cắm phập hai hàm răng vào con quái vật đó. Hẳn là con quái vật nọ đã vùng vẫy dữ dội để hòng thoát ra, cho nên con Norma phải bay lên táp nó lại giữa không khí và đã hai lần ngoạm trọn nó vào mồm, cả hai lần đều giữa không khí như thể nuốt ngấu, nuốt nghiến quái vật kia. Cái mai quái vật vỡ răng rắc trong hàm răng chó, còn đuôi và hai chân nó thòi ra ngoài miệng chó, vung vẩy loạn xạ. Thình lình con Norma kêu lên một tiếng thảm thiết: con quái vật đã mổ được vào lưỡi con chó. Rên rỉ tru tréo, con chó há hốc mồm vì đau đớn, và tôi trông thấy con quái vật ấy dù đã bị thương, vẫn còn vặn vẹo trong mồm con chó, và từ cái thân bị cắn gần như dập làm hai, một chất lỏng sệt màu trắng tuôn ra trên lưỡi con chó, giống như chất lỏng ở thân con gián đen bị đè bẹp. Ngay lúc đó, tôi thức giấc và hoàng thân bước vào”.
– Kính thưa quý vị, - Ippolit chợt ngẩng đầu lên khỏi bài báo, nó có vẻ hơi bối rối, - tôi chưa đọc xong, nhưng hình như tôi có viết quá nhiều điều không cần thiết. Giấc mơ này…
– Đúng đấy, - Gania chen vào.
– Có quá nhiều cảm tưởng riêng tư, tôi công nhận; nhất là về cá nhân tôi.
Lúc nói thế, trông Ippolit mệt mỏi và yếu đuối, hắn cứ từng chập lấy khăn tay lau mồ hôi trên trán.
– Vâng thưa ông, ông hơi chú trọng đến cá nhân khí quá, - Lebedev rít lên.
– Thưa quý vị, tôi xin nhắc lại, tôi không ép buộc người nào phải nghe cả. Nếu ai không muốn nghe, cứ việc ra về.
Hắn đuổi người ta ra khỏi nhà của người khác kia đây, - Rogojin càu nhàu bằng một giọng nghe không rõ.
– Và nếu mọi người chúng ta đều đứng dậy ra về cả thì sao đây? - Ferdysenko đương không phang vào, cho đến phút đó gã chưa dám to tiếng nói điều gì.
Ippolit liền cúi mặt xuống cầm lấy bản thảo, nhưng rồi hắn lại ngẩng đầu lên và với đôi mắt long lanh cùng hai vết ửng đỏ trên má, hắn nói, mắt nhìn thẳng vào Ferdysenko.
– Ông không ưa gì tôi hết!
Có một vài tiếng cười, dù đa số mọi người không cười. Ippolit mặt đỏ bừng bừng.
– Này Ippolit, - hoàng thân nói, - gấp tờ bản thảo lại rồi đưa đây cho tôi, xong bạn làm ơn vào phòng tôi mà ngủ đi. Chúng ta sẽ nói chuyện trước khi bạn đi ngủ và cả ngày mai nữa, miễn là bạn đừng có mở mấy tờ giấy đó ra nữa. Bạn có bằng lòng không?
– Nhưng có thể như thế được sao? - Ippolit nói và nhìn ngài hết sức kinh ngạc. - Thưa quý vị! - Hắn kêu lên, lại trở nên kích động như cơn sốt trở lại. - Đây đúng là một cảnh ngu ngốc mà tôi đã cư xử thật tồi tệ. Tôi sẽ không ngắt dòng đọc nữa. Vậy thì ai muốn nghe cứ nghe.
Hắn tợp nhanh một ngụm nước trong ly, vội chống hai khuỷu tay xuống bàn để che mặt tránh những tia nhìn của mấy người kia, rồi hắn lại bắt đầu đọc, rất bướng bỉnh, vẻ bối rối của hắn sau đó đã biến mất.
“Cái ý nghĩ (hắn đọc tiếp) rằng không đáng gì phải sống trong có vài tuần lễ đã thật sự ám ảnh tôi một tháng trước đây, khi tôi vẫn còn bốn tuần lễ để mà sống, nhưng ý tưởng đó mới hoàn toàn xâm chiếm con người tôi cách đây ba ngày thôi, vào buổi tối tôi từ Pavlovsk trở về. Lần đầu tiên, tôi cảm thấy đụng chạm trực tiếp và tràn đầy với tư tưởng đó là lúc tôi đứng trên hàng hiên nhà hoàng thân, vào chính cái lúc tôi có ý nghĩ làm một nỗ lực sống cuối cùng, lúc tôi muốn nhìn người và cây cối (cứ nhận là tôi có nói thế đi), khi tôi nổi hứng lên nằng nặc đòi quyền lợi cho Burdovski “bằng hữu của tôi”, và tưởng tượng rằng họ sẽ mở rộng đôi tay mà ôm hôn tôi, mà xin lỗi tôi điều này điều nọ, rồi tôi cũng xin lỗi họ chuyện này chuyện khác; tóm lại thì rốt cuộc, tôi hóa ra giống như một thằng vô dụng. Và vào lúc đó, “một niềm tin quyết tối hậu” đã thắp sáng trong tôi. Lúc đó tôi lấy làm ngạc nhiên tại sao tôi có thể sống trong sáu tháng tròn mà không có “niềm tin quyết” này. Tôi biết chắc chắn rằng tôi mắc chứng lao phổi và chứng bệnh này là bất trị; tôi không lừa dối mình và tôi hiểu sự việc tỏ tường. Nhưng càng hiểu rõ sự việc bao nhiêu, tôi lại càng điên cuồng ham sống bấy nhiêu. Tôi bám chặt lấy cuộc sống và tôi muốn cứ được sống nữa bằng bất cứ giá nào. Thú thật rằng có thể tôi đã phẫn uất, đã nổi giận cho cái số phận hẩm hiu, giả ngơ giả điếc và đen tối đã xếp đặt sẵn để đè bẹp tôi như một con ruồi và dĩ nhiên, tôi cũng không được biết lý do; nhưng tại sao tôi lại không ngừng lại ở một sự phẫn uất đó mà thôi? Tại sao tôi lại thực sự Bắt Đầu sống, mà biết rằng tôi không còn có thể bắt đầu được nữa? Tại sao tôi lại cố khi biết rằng chẳng còn cố gì được nữa cả? Còn trong lúc đó thậm chí tôi đã không sao đọc cho xong nổi một quyển sách và tôi đã thôi không đọc gì nữa: tại sao lại phải đọc, trau dồi kiến thức mà làm gì trong có sáu tháng? Ý tưởng này đã khiến tôi hơn một lần vứt sách đi.
“Vâng, cái bức tường nhà Meier đó thì cũng có thể kể lại lắm chuyện! Tôi đã viết nhiều lên bức tường ấy. Chẳng còn một cái dấu vết nào trên bức tường nhơ nhớp đó mà tôi không nhớ tới. Cái bức tường quái quỷ ấy! Vậy mà bức tường ấy đối với tôi lại còn thân thiết hơn mọi cây cối ở tại Pavlovsk, hay ít ra nó cũng đã thân thiết hơn, nếu như hiện tại tôi đã phó mặc tất cả cho sự đời rồi.
‘‘Giờ đây tôi vẫn còn nhớ tôi háo hức chú tâm theo dõi cuộc sống của kẻ khác vào lúc đó, trước đó tôi chưa bao giờ chú tâm đến như thế. Lắm lúc tôi bực dọc đợi chờ Kolia đến độ chửi thề vào những lúc tôi đau liệt giường không đi đâu được. Tôi đâm tẩn mẩn chú tâm đến những chuyện hết sức nhỏ nhặt vặt vãnh, quá để tâm đến mọi tin đồn đại đến nỗi tôi cảm thấy như mình đã hóa ra một tên ngồi lê đôi mách thứ thiệt. Chẳng hạn, tôi không hiểu thế nào mà lắm người còn bao nhiêu là ngày tháng trước mặt để sống mà lại không trở thành giàu có được (thực vậy, cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu được). Tôi có biết một kẻ rất nghèo khó, sau này tôi hay tin у bị chết đói, tôi nhớ lại khi nghe tin ấy tôi đã rất phẫn nộ: giá có thể làm tên nghèo khốn đó sống lại, chắc tôi dám giết hắn lắm. Thỉnh thoảng tôi cảm thấy thư thái, khỏe khoắn hơn trong suốt vài tuần lễ và tôi có thể ra đi dạo phố: nhưng rồi rốt cuộc, đường phố cũng làm tôi nổi khùng nên tôi đâm ra ở riệt trong phòng nhiều ngày liên tiếp, dù tôi vẫn đi ra đường được như người khác. Tôi không chịu nổi cái cảnh người ta bươn chải vội vàng, lúc nào cũng đăm chiêu, buồn bực và bồn chồn day dứt, lúc nào cũng xấn xả chung quanh tôi trên hè phố. Tại sao họ lại mãi mãi sầu muộn, tại sao lại đòi đời bứt rứt chẳng yên, đời đời tầm thường ti tiện không dứt (bởi vì họ ti tiện, ti tiện quá sức)? Lỗi tại ai trong việc họ phải khốn khổ và không biết cách sống, dù họ còn đến sáu mươi năm trước mặt để sống? Tại sao Zarnitzin lại chịu chết đói khi hắn còn đến sáu mươi năm trước mặt để sống? Và từng người cứ trưng ra nào là những rách rưới, nào là những bàn tay chai đá vì làm lụng, giận hoảng và la lối : “Chúng tôi làm quần quật như trâu, chúng tôi lao động mà vẫn đói như chó, vẫn nghèo xác nghèo xơ! Kẻ khác thì lại ngồi mát ăn bát vàng! (Thật là một điệp khúc muôn đời!). Rồi bên cạnh họ, có một kẻ cũng bươn chải, ngược xuôi từ tinh mơ đến tối đất- đó là một gã yếu đuối khốn khổ, khốn nạn, một tên Ivan Fomitr Xuricov, sinh ra đã là một “cậu ấm”- gã sống ở tầng trên trong chung cư của chúng tôi – thế mà lúc nào áo hắn cũng hở cùi chỏ, cúc áo thì xổ tung, suốt từ sáng đến tối đi làm thuê làm mướn đủ thứ việc cho đủ mọi hạng người. Chuyện trò với gã thì được nghe gã bảo: “Tôi nghèo khổ, bần cùng, bất hạnh, vợ tôi chết vì tôi không có tiền mua thuốc, con tôi chết cóng vào mùa đông; đứa con gái lớn của tôi thì đi làm kiếp gái bao…”. Lúc nào gã cũng than vãn, rên rỉ. Chà, tôi chẳng bao giờ thấy xót thương bọn ngu đần ấy chút nào, từ hồi đó đến bây giờ cũng vậy- tôi hãnh diện mà nói như thế! Tại sao gã không thể là một Rothschild[2]? Lỗi tại ai nếu gã không có bạc triệu giống như Rothschild chứ? Tại sao gã không có hàng đống tiền vàng hoàng gia và tiền vàng Napoleon chất cao như trái núi mà quý vị thấy ở hội chợ hay vào ngày hội giả trang? Vì nếu gã còn sống tức là mọi sự còn nằm trong tầm khả năng của gã! Lỗi tại ai nếu gã không hiểu được điều ấy?
“Ô, bây giờ thì tôi mặc kệ, bây giờ thì chẳng còn thì giờ đâu mà giận dữ… nhưng dạo đó, dạo đó quả đúng là tôi có cắn gối, cắn mền, xé giường, xé chiếu vì giận. Lúc đó, tôi đã thường mộng mơ biết bao nhiêu, tôi đã xiết bao ao ước được ném ra ngoài đường, dù mới có mươi tám tuổi đầu, gần như trần trụi, gần như chẳng có gì che thân, bị bỏ lăn, bỏ lóc một mình, tứ cố vô thân, vô gia cư, vô nghề nghiệp, không có một mẩu bánh mì để gặm, không một họ hàng quyến thuộc trong một đô thị khổng lồ, dù đói khát, bị đánh đập (như thế lại hay hơn biết bao nhiêu) miễn là được khỏe mạnh thì thôi. Rồi tôi sẽ chỉ cho họ xem…
“Mà tôi sẽ cho họ xem cái gì nhỉ?
“Quý vị lẽ nào lại cho là tôi không biết rằng, chỉ cần qua lời “Chúc ngôn” này tôi đã tự hạ nhục mình lắm rồi hay sao? Lúc này ai mà không cầm bằng tôi là một thằng điên khốn khổ khốn nạn, một khách lạ trong cuộc đời, quên rằng tôi không phải là mười tám tuổi nữa, quên rằng sống như tôi đã sống trong sáu tháng nay là đã sống đến cái tuổi bạc đầu ông cụ rồi. Nhưng cứ mặc cho họ cười, họ bảo đây chỉ là chuyện thần tiên mà thôi. Quả thật tôi đang kể chuyện thần tiên cho chính mình đấy mà. Tôi qua những đêm dài no đầy những câu chuyện đó, và giờ đây tôi nhớ không sót một tiểu tiết nào.
“Nhưng bây giờ tôi có cần lại phải kể chúng một lần nữa, - giờ đây, ngay cả những câu chuyện đó cũng đã chấm dứt với tôi rồi không? Nhưng mà kể cho ai mới được chứ? Tôi tự an ủi bằng những chuyện đó. Từ khi tôi thấy rõ mười mươi là tôi không được phép học cả ngữ pháp Hy Lạp, chính lúc đó tôi chợt nghĩ: “Tôi sẽ chết trước khi học đến cú pháp!”. Tôi nghĩ ngay vào lúc giở trang sách đầu, rồi ném quyển sách xuống dưới bàn, giờ đây nó vẫn còn nằm yên đó, tôi cấm không cho Mat’rona nhặt lên.
“Hãy cứ để cho ai xem được lời “Chúc ngôn” của tôi này, ai có đủ kiên nhẫn đọc hết nó, hãy cứ để cho họ xem tôi như một kẻ điên rồ, thậm chí là một cậu trò nhỏ, mà chính xác hơn, xem tôi như một kẻ bị tuyên án tử hình, mà như hắn có cảm giác, ngoài hắn ra mọi người khác không ai còn biết thẩm định đúng mức giá trị của cuộc sống, mà lại tiêu phí cuộc sống đó quá ư là rẻ rúng, sử dụng cuộc sống quá ư là lười nhác, quá ư là vô ý thức cho đến nỗi không có một ai xứng đáng với cuộc sống đó cả! Cứ để mặc hắn! Tôi tuyên bố rằng độc giả của tôi sẽ bị lầm lẫn, và những ý kiến của tôi hoàn toàn không phụ thuộc vào bản án tử của tôi. Hỏi họ đi, hãy hỏi tất cả bọn họ, hỏi từng người một trong bọn họ, rằng họ hiểu thế nào là hạnh phúc? Ô, quý vị có thể tin chắc rằng, Columb[3] sung sướng không phải khi ông đã khám phá ra Mỹ châu mà có lẽ ngay lúc ông sắp sửa khám phá ra vùng đất đó thì đúng hơn. Quý vị có thể tin chắc rằng niềm hạnh phúc của ông đã lên đến tuyệt đích có lẽ vào ba hôm trước ngày ông khám phá ra Tân Thế Giới, khi mà đám thủy thủ nổi loạn trong cơn tuyệt vọng đã toan quay về Âu châu. Điều đáng kể không phải là Tân Thế Giới: Lục địa đó rồi cũng có thể chìm xuống biển sâu. Columb đã chết mà chưa kịp thấy hay đúng hơn là chưa kịp nhận biết ông đã khám phá ra điều gì. Chính sự sống mới là điều đáng kể, chỉ riêng sự sống mà thôi- nghĩa là cuộc tìm kiếm, khám phá không ngừng, bất tuyệt về cuộc sống- chứ không phải là bản thân cái được khám phá đâu. Nhưng tại sao tôi cứ nói mãi, nói hoài những chuyện này nhỉ? Tôi ngờ rằng những chuyện tôi nói đây nó giống như những chuyện tầm thường nhất hạng cho đến nỗi người ta cầm chắc tôi là một học sinh lớp sơ đẳng đang nặn bút làm một bài tập làm văn tả cảnh “mặt trời mọc”, hoặc giả người ta sẽ bảo rằng cu cậu cũng muốn nói điều gì đó, nhưng dù cố gắng hụt hơi rồi mà cũng chẳng làm sao diễn tả cho ai hiểu nổi. Tuy nhiên, tôi có thể nói thêm rằng, trong mọi tư tưởng nghiêm túc của con người phát sinh, từ trí não của ai đó, vẫn luôn luôn có một điều gì đó còn lại bất khả chuyển đạt đến cho người khác hiểu được, dù cho người ta có viết bao nhiêu pho sách để cắt nghĩa tư tưởng đó ròng rã suốt ba mươi lăm năm trời cũng vậy; luôn luôn vẫn có một điều gì không thể nào vuột ra khỏi trí não và vẫn còn lại với con người cho đến mãi mãi. Người ta chết đi chôn theo cùng nó, không bao giờ thông đạt được cho ai khác cái điều mà có lẽ là tinh hoa của tư tưởng con người. Nhưng nếu giờ đây tôi cũng bó tay không làm sao chuyển đạt được trọn vẹn những nỗi niềm quặn thắt giày vò tôi trong suốt sáu tháng qua, thì ít ra người ta cũng sẽ hiểu rằng chắc tôi đã phải trả giá quá đắt cho “niềm tín quyết tối hậu” của tôi đây, đó là điều tôi cảm thấy cần thiết, vì những lý do riêng tư, đưa ra trước ánh sáng trong những lời bày tỏ này”.
Nhưng tôi xin được tiếp tục.
❀ ❀ ❀
[1] Sau ta thì cơn đại hồng thủy cũng mặc (tiếng Pháp trong nguyên bản).
[2] Rothschild: nhà tài phiệt Mỹ xuất thân nghèo khổ.
[3] Columb: người khám phá ra châu Mỹ năm 1492.