Chàng Ngốc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 76 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 45

❊ ❊ ❊

Đương lúc hoàng thân đắm đuối nhìn Aglaia chuyện trò như bắp rang cùng hoàng thân N. và Evgeni Pavlyts, chợt một ngài đứng tuổi thân Anh, đứng trò chuyện cùng vị chức sắc ở góc phòng bên kia, say sưa thuật cho ông cụ này nghe một câu chuyện thật sôi nổi có nhắc đến tên Nikolai Andreevits Pavlisev. Hoàng thân quay thoắt lại phía họ và lắng tai nghe.

Hai vị này đương thảo luận về những vấn đề luật lệ, về những chuyện rắc rối về mấy bất động sản ở một tỉnh lẻ X. Câu chuyện của vị khách thân Anh này chắc có gì thú vị lắm, nên rốt cuộc cụ già đã phá lên cười trước kiểu nói hăng say đầy căm phẫn của vị kia. Ông ta nói thật trôi chảy, giọng đãi dài ra vẻ gắt gỏng, ông mơn trớn từng mẫu âm, ông kể rằng vì cớ những đạo luật mới ban hành mà ông đành phải bán lỗ mất nửa giá tiền một bất động sản bề thế của ông ở miệt tỉnh, dù ông chẳng cần tiền gì cho lắm. Trong khi đó, vì muốn duy trì một bất động sản khác đã đổ nát, ông đã phải mất tiền và kiện tụng lôi thôi, lại còn phải hao tiền của cho vụ tranh tụng ấy nữa. “Không muốn kiện tụng thêm về bất động sản của Pavlisev nên tôi đành bỏ cho rồi. Thừa hưởng được một hai di sản như thế chắc tôi đến nước sạt nghiệp mất. Mấy bất động sản ấy gồm đến chín ngàn mẫu đất thượng hạng chứ phải đùa đâu!”.

Tình cờ Ivan Fedorovits lúc đó đứng bên cạnh hoàng thân, nhận thấy chàng cũng chú ý đến câu chuyện kia nên ông thì thầm bảo chàng rằng: “Này, ông Ivan Pet’rovitr ấy có họ hàng với cụ Nikolai Andreevits Pavlisev đấy. Nếu tôi không lầm thì ngài đang muốn tìm kiếm họ hàng của ông cụ thì phải”. Cho đến lúc đó, ông mải bận tiếp chuyện với vị tướng thượng cấp của ông ở Bộ, nhưng có lúc nhận thấy Lev Nikolaevits trơ trọi quá nên ông áy náy không yên tâm. Ông muốn kiếm cách đưa chàng vào góp chuyện với một người rồi nhờ đó, trình diện chàng một lần nữa cho các nhân vật quan trọng để ý đến chàng.

– Đây là Lev Nikolaevits, người đã được Nikolai Andreevits Pavlisev nuôi dưỡng sau khi hai đấng sinh thành của ngài khuất núi, - ông ta nói chen vào sau khi đã bắt gặp tia nhìn của Ivan Pet’rovitr.

– Rất hân hạnh, - vị này mở lời. - Tôi vẫn còn nhớ ngài rõ lắm. Vừa rồi, lúc Ivan Fedorovits giới thiệu chúng ta với nhau, tôi đã nhận ra ngài ngay, nhận ra cả khuôn mặt. Ngài không khác xưa mấy, dù dạo ấy tôi gặp ngài, ngài mới lên mười, mười một tuổi gì đó. Tôi vẫn nhớ được khuôn mặt ngài.

– Ông đã biết tôi từ dạo còn nhỏ à? - Hoàng thân hết sức kinh ngạc hỏi.

– Vâng, đã lâu lắm rồi, - Ivan Pet’rovitr tiếp lời. - Tôi gặp ngài ở Zlatoverkhov, ngài ở nhà người anh em họ của tôi tại đó.

Hồi ấy, tôi rất hay ghé Zlatoverkhov chơi, ngài không nhớ tôi sao? Ồ, có thể lắm ngài không nhớ ra được, vì dạo đó ngài… đang mắc chứng bệnh gì đó. Có một lần kia gặp ngài, tôi ngạc nhiên ghê gớm…

– Thật tôi chẳng nhớ gì cả! - Hoàng thân nồng nhiệt nói.

Ivan Pet’rovitr hết sức bình thản đưa ra thêm đôi lời giải thích khiến cho hoàng thân bồi hồi xúc động: Câu chuyện cho thấy hai cô gái đứng tuổi họ hàng với cụ Pavlisev quá cố, trú ngụ tại bất động sản của ông cụ tại Zlatoverkhov là nơi hoàng thân đã được trưởng dưỡng, cũng lại là chị em họ với Ivan Pet’rovitr nữa. Như mọi người khác, Ivan Pet’rovitr cũng không sao giải thích được tại sao Pavlisev lại quan tâm đặc biệt đến dưỡng tử của ông là ông hoàng bé bỏng này. “Sự thật thì lúc đó, tôi không mấy lưu tâm đến việc ấy”. Tuy nhiên, ông ta tỏ ra có một trí nhớ phi thường, ông vẫn còn nhớ người chị họ Marfa Nikitisna của ông đối xử với ông hoàng bé bỏng thật hết sức nghiêm khắc, “cho đến nỗi có lần tôi đã bênh vực ngài và cãi nhau với chị ta về phương pháp giáo dục của chị ấy, vì chị ấy chỉ biết dạy trẻ con bằng roi vọt, cứ roi vọt cho thật kĩ với một đứa trẻ đau yếu… điều đó, hẳn ngài cũng đồng ý…”. Còn cô em họ của nàng là Natalia Nikitisna thì trái hẳn, nàng đối xử với đứa bé khốn khổ đó thật dịu dàng, âu yếm… Ông nói tiếp: “Hiện giờ hai chị em họ vẫn còn ở… tỉnh X., có điều tôi không rõ họ có còn sống chăng, ông Pavlisev có để lại cho họ một bất động sản nho nhỏ thật xinh xắn ở đó. Theo chỗ tôi nghĩ thì Marfa Nikitisna có ý vào dòng tu, tuy nhiên, tôi không mấy chắc về việc ấy, có thể tôi nghe nói về một người khác thì đúng hơn, phải rồi, tôi có nghe nói về bà vợ của một ông у sĩ…”.

Hoàng thân lắng nghe chuyện ông nói với niềm vui sướng và cảm động. Đến lượt chàng nồng nhiệt nói rằng, chàng không bao giờ có thể tha thứ cho mình cái tội trong sáu tháng du lịch các tỉnh miền Trung Nga, đã không lợi dụng dịp tiện ấy thăm viếng những vị nữ lưu đã có công dưỡng dục chàng đó. Ngày nào chàng cũng tính đến chuyện đi thăm họ, nhưng rồi vì việc nọ việc kia, chàng cứ trì hoãn hoài… Lần này thì bằng mọi giá, chàng nhất định sẽ đi về tỉnh đó một phen… “Thế ra ông cũng biết Natalia Nikitisna nữa đây? Cô ta thật là một người đàn bà thánh thiện, hòa nhã! Cả Marfa Nikitisna cũng vậy. Tôi xin lỗi, hình như ông đã xét đoán Marfa Nikitisna lầm rồi cũng nên! Cô ấy có nghiêm khắc thật… nhưng làm sao cho khỏi mất bình tĩnh với… một tên khờ như tôi vào dạo đó được? Ha, ha! Lúc đó tôi khờ quá mà! Ha ha, ông không tin tôi sao? Với lại… với lại dạo đó ông có gặp tôi mà… Làm sao tôi lại không nhớ ra ông nhỉ? Sao thế hở ông? Thế ra ông… Ôi, lạy Chúa, ra ông cũng có họ hàng với Nikolai Andreevits Pavlisev cơ đấy?”.

– Tôi đoan… chắc với ngài là đúng như vậy, - Ivan Pet’rovitr trả lời với một nụ cười, ông nhìn hoàng thân, dò xét.

– Ồ, tôi nào có ý bảo… là tôi nghi ngờ gì đâu, có thể nào nghi ngờ được điều đó hay sao? Ha, ha! Có phải ý tôi nói thế không? Có phải ý tôi muốn bảo rằng làm sao mà nghi ngờ chuyện ấy được? Ý tôi muốn bảo rằng cụ Nikolai Andreevits Pavlisev quá cố thật là một con người cao cả! Thật là một con người đại lượng! Tôi bảo thật đấy!

Hoàng thân chưa đến nỗi ngạt thở, nhưng quả chàng đã có phần “nghẹn ngào vì dạt dào niềm tâm cảm” theo như lời Adelaida nói với vị hôn phu của nàng là hoàng thân S. vào sáng hôm sau.

– Nhưng, Chúa ơi! - Ivan Pet’rovitr cười bảo, - há tôi không thể là họ hàng với một con người đại lượng như thế được sao?

– Trời ạ, - hoàng thân bối rối kêu lên, càng lúc chàng càng hấp tấp và kích động. - Tôi… tôi lại ăn nói không nên không phải rồi; tôi đã nói thế… chỉ tại tôi lại ăn nói sai lẫn thôi, tôi lại không diễn đạt được ý nghĩ của tôi nữa rồi! Mà tôi xin hỏi ông, tôi nào có ra gì mà so sánh với những mối quan tâm lớn lao vô hạn dường ấy? So sánh với một con người đại lượng dường ấy? Bởi vì có Chúa làm chứng, ông cụ là một con người đại lượng bậc nhất, đúng không? Có phải thế không nào?

Hoàng thân run rẩy cả người. Thật khó cắt nghĩa được tại sao bỗng dưng chàng lại đâm ra kích động đến thế đối với một chuyện chẳng ăn nhập gì đến câu chuyện chính yếu. Nhưng quả thật, có thể nói lúc đó chàng đang ở trong một tâm trạng chan chứa niềm biết ơn nồng nàn nhất đối với một người hay một việc nào đó, cũng có lẽ là đối với cả Ivan Pet’rovitr và với tất cả những người hiện diện. Chàng “chan chứa” hạnh phúc. Rốt cuộc Ivan Pet’rovitr bắt đầu nhìn chàng chăm chú hơn, vị “chức sắc” cũng dán mắt vào chàng. Belokonskaia ném về phía chàng một cái nhìn giận dữ, môi bà mím chặt lại. Hoàng thân N., Evgeni Pavlyts, hoàng thân S., và các cô gái đều ngừng nói và lắng tai nghe, Aglaia có vẻ sợ hãi. Lizaveta Prokofievna thì đã hoàn toàn ngã lòng rồi. Bà mẹ và các cô con gái kể cũng lạ, họ đã tiên liệu và quyết định rằng hoàng thân nên ngồi yên suốt buổi là hay nhất, nhưng kịp khi thấy chàng trơ trọi một mình trong góc phòng mà lấy làm thích chí thì họ lại lo lắng ngay. Aleksandra đã định bước đến chàng để kín đáo đưa chàng sang bên nhóm họ, tức là nhóm của hoàng thân N., bên cạnh bà cụ Belokonskaia. Lúc này hoàng thân vừa mở miệng nói, họ lại càng lo lắng hơn nữa.

– Ngài nói đúng, ông cụ là một người xuất chúng. - Ivan Pet’rovitr trầm ngâm nói và không còn cười nữa. - Đúng, ông cụ là một người xuất chúng! Có thể nói là xứng đáng về mọi mặt. Yên lặng một lúc nữa, rồi ông ta lại nói tiếp bằng giọng cảm khái hơn. - Và… và thật là khả ái hết sức là ngài nhận ra được điều đó!

– Có phải ông Pavlisev này là người đã từng có một giai thoại lạ lùng… với một ông tu viện trưởng, ông tu viện trưởng… tôi quên mất tên ông ta rồi, có điều tôi nhớ dạo đó người ta bàn tán rất nhiều về chuyện ấy, phải không? - Vị chức sắc nói, ông ta cố nhớ lại những kỷ niệm cũ.

– Tu viện trưởng Guro, một tu sĩ dòng Tên, - Ivan Pet’rovitr nhắc. - Vâng, quả vậy, đó là những con người xuất chúng và cao trọng rất mực của chúng ta mà thế đấy! Bởi vì xét cho kĩ, Pavlisev vốn dĩ con nhà dòng dõi, lại giàu có, một pháp quan triều đình, và giá ông cụ cứ tiếp tục trên đường hoạn lộ… thế nhưng rồi bất thần, ông cụ lại vứt bỏ tất cả để theo Công giáo, rồi trở nên một tu sĩ dòng Tên gần như một cách công khai và sốt sắng rất mực. Cứ tình thật mà nói, ông cụ đã chết thật đúng lúc, vâng, đúng như vậy, ai cũng đều nói thế cả…

Đến mức này thì hoàng thân phát điên lên rồi.

– Pavlisev… Pavlisev mà lại theo Công giáo à? Không thể như thế được! - Chàng kinh hãi kêu lên.

– Sao lại “không thể được” chứ? Nói thế thì có hơi quá, - Ivan Pet’rovitr nói khẽ, giọng cương quyết. - Thưa hoàng thân quý mến, hẳn ngài cũng phải đồng ý với tôi như vậy. Vả lại, ngài tỏ ra hết sức tôn kính người quá cố… Ông cụ quả là con người nhân hậu, đó chính là chỗ giúp tôi cắt nghĩa được sự thành công của tên Guro vô lại kia. Nhưng ngài phải biết, tôi đã gặp bao nhiêu là khó khăn, rắc rối về việc này, nhất là khi đối phó với tên Guro! Xin cụ cứ nghĩ thử xem- ông ta chợt quay sang ông cụ già, - họ lại còn toan tính khiếu nại về bản chúc thư nữa chứ, đến nỗi tôi đã phải viện đến các… biện pháp cương quyết nhất… mới xoay chiều lại được, vì bọn họ rất thông thạo những công việc loại đó! Thật là hú vía! Nhưng nhờ trời, cũng may mà việc ấy lại xảy ra tại Moskva, tôi liền đến gặp bá tước rồi đưa ngay ra tòa và bắt họ phải chịu theo lẽ phải…

– Chắc ông không biết, chứ thật ông khiến tôi kinh ngạc và buồn thảm quá đi! - Hoàng thân lại kêu lên.

– Tôi rất tiếc, thế nhưng xét cho cùng, mọi chuyện đó chỉ là những chuyện vặt vãnh rồi cũng chẳng đi đến đâu hết, tôi đã tin chắc như thế mà. Mùa hè năm ngoái, - quay lại cụ già, ông ta nói, - người ta còn bảo rằng cả nữ bá tước K. nữa cũng vào một dòng tu Công giáo ở ngoại quốc. Đồng bào nước ta hình như không sao cưỡng lại nổi những… tên vô lại xảo quyệt đó… nhất là khi họ ở ngoại quốc.

– Theo tôi nghĩ, đó chẳng qua chỉ vì chúng ta… đã chán nản, mỏi mệt rồi. - Ông cụ già lẩm bẩm bằng một giọng quan trọng. - Mà cũng đúng, kể bọn họ cũng biết cách giảng đạo… thật là hay ho, thật là độc đáo… họ biết cách dọa cho thiên hạ sợ, tôi xin thú thật cùng quý vị rằng đã có lần họ dọa tôi một mẻ sợ phát khiếp tại Vienne vào năm 1832. Nhưng tôi đâu có chịu thua và đánh “bài tẩu” liền. Ha, ha, thật đúng là tôi đã chạy mặt họ đó.

– Vâng thưa ông bạn, tôi đã được nghe lần ấy ông bạn đã bỏ nhiệm sở ở Vienne để trốn sang Paris với nữ công tước xinh đẹp Levitxcaia, chứ có phải là ông bạn bỏ chạy mặt một tu sĩ dòng Tên đâu, - bà cụ Belokonskaia bất ngờ chêm vào.

– Ồ đúng là tôi chạy mặt một tu sĩ dòng Tên mà, có gì đi nữa thì tôi cũng chạy trốn để tránh mặt hắn đấy thôi, - ông cụ trả lời, khoan khoái vì một kỷ niệm kỳ thú, êm đềm. Ông cụ quay sang hoàng thân Lev Nikolaevits lúc ấy đang đứng há hốc mồm ra nghe và vẫn còn sửng sốt lắm, mà hòa nhã bảo rằng:- Ngài có vẻ sùng đạo lắm, điều đó thật hiếm có trong giới người trẻ ngày nay. - Đã thấy rõ là ông cụ muốn tìm hiểu thêm về hoàng thân. Không hiểu tại sao, ông cụ chợt trở nên chú ý đến chàng hết sức.

– Pavlisev là một con người thần thái sáng suốt và là một tín đồ Cơ đốc giáo, một người của đấng Christ đích thực, - hoàng thân chợt lên tiếng, - có thể nào cụ lại thuận theo một tín ngưỡng… phi đấng Chirst như thế chứ?.. Công giáo- vẫn không phải là đạo của đấng Christ! - Chàng nói thêm, mắt chàng ngời sáng, chàng nhìn chung quanh như muốn thu hút hết mọi người vào tia mắt.

– Ô, thế thì quá lắm, - ông già lắp bắp và nhìn Ivan Fedorovits với vẻ kinh ngạc.

– Sao lại thế được? Công giáo không phải là đạo của Đấng Christ ư? - Ivan Pet’rovitr ngồi trên ghế quay lại. - Thế thì nó là đạo gì?

– Không phải đạo của đấng Christ là thứ nhất! - Hoàng thân lại lên tiếng cực kỳ xúc động và gay gắt quá độ, - đó là thứ nhất, còn thứ hai, Công giáo La Mã còn tệ hại hơn cả chính chủ nghĩa vô thần, đó là quan điểm của tôi! Phải! Ý tôi thế đó! Chủ nghĩa vô thần chỉ truyền bá số không thôi, còn chủ nghĩa Công giáo còn tiến xa hơn: Nó truyền bá đấng Christ đã bị xuyên tạc, bị chính nó vấy bẩn và phỉ nhổ, một Christ đối nghịch! Nó truyền bá kẻ phản Chúa, tôi thề với các vị đó, tôi cam đoan với các vị đó! Đó là niềm tin quyết từ lâu của riêng tôi, và nó đã giày vò tôi lắm lắm… Chủ nghĩa Công giáo La Mã giảng thuyết, rằng thiếu quyền lực quốc gia toàn cầu thì nhà thờ không trụ vững trên trái đất, và hô hào: “Non possumus”.[1] Theo tôi, Công giáo La Mã thậm chí không là một tín ngưỡng mà là sự kế tiếp kiên quyết của Đế chế Tây La Mã, và trong nó tất thảy đều tuân thủ tư tưởng này, bắt đầu từ tín ngưỡng. Giáo hoàng chiếm đất đai, ngai vàng trên trần thế và cầm lấy gươm đao; từ bấy đến giờ vẫn thế, chỉ có điều bổ sung thêm vào với gươm là sự dối trá, sự ranh mãnh, sự lừa đảo, tính cuồng tín, điều mê tín, sự độc ác, đùa giỡn bằng những tình cảm thiêng liêng, chân thực, chất phác, nồng nhiệt nhất của nhân dân, tất cả, người ta đổi tất cả lấy tiền, lấy quyền lực trần thế thấp hèn tuốt. Và đây mà lại không là học thuyết phản Christ ư?! Chả phải chủ nghĩa vô thần từ đó mà ra hay sao? Từ chúng, từ chính Công giáo La Mã ấy, đã nảy sinh chủ nghĩa vô thần! Trước hết chủ nghĩa vô thần bắt đầu từ chính họ: Vậy họ có thể gieo tín ngưỡng cho chính họ được hay không? Chủ nghĩa vô thần củng cố từ sự tởm lợm đối với họ, nó là con đẻ của sự dối trá và sự bất lực tinh thần của họ! Chủ nghĩa vô thần ấy! Ở chúng ta chỉ còn một số tầng lớp đặc biệt, như mới gần đây Evgeni Pavlyts đã diễn đạt thật sắc sảo, những tầng lớp mất gốc không tin tưởng thôi; còn ở châu Âu kia chính những đám đông dân chúng khủng khiếp đã bắt đầu không tin tưởng rồi, - trước tiên do tăm tối và do lừa đảo, còn giờ đây đã vì cuồng tín, vì thù hận đối với nhà thờ và đối với cả đạo Thiên Chúa!

Hoàng thân dừng lại để lấy hơi, chàng nói đầy nỗi đau sầu. Chàng nhợt nhạt và thở dốc; tất cả ngó nhìn nhau; nhưng cuối cùng ông già công khai cười toáng lên. Hoàng thân N. móc cái kính cầm tay ra và nhìn hoàng thân không dứt. Nhà thơ người Đức bò ra khỏi góc kín và xích lại gần chiếc bàn, miệng nở một nụ cười báo điềm dữ.

– Ngài rất… cường… điệu, - Ivan Pet’rovitr kéo dài giọng với vẻ buồn chán và dường như có vẻ gì đó ân hận, - trong nhà thờ ngoại quốc cũng có những đại diện xứng đáng với bất kỳ lòng kính trọng và đức hạnh nào…

– Tôi không bao giờ nói về những cá nhân riêng biệt của nhà thờ. Tôi nói về Công giáo La Mã trong bản chất của nó, tôi nói về La Mã. Chứ lẽ nào nhà thờ lại có thể biến mất hẳn nổi? Tôi không bao giờ nói như thế!

– Tôi đồng ý, nhưng tất cả mọi thứ đó đã rõ và thậm chí không cần thiết và… thuộc về thần học…

– Ô không! Ô không! Không chỉ thuộc một thần học thôi đâu, tôi cam đoan với các ngài đấy, không đâu! Điều đó liên quan sát sườn đến chúng ta hơn nhiều so với các vị tưởng đấy. Đó chính là sai lầm của chúng ta, rằng chúng ta còn chưa thể nhìn thấy đó không phải là sự việc hoàn toàn của chỉ một thần học! Ngay chủ nghĩa xã hội mà cũng là con đẻ của Công giáo và của bản chất Công giáo kia! Nó cũng như người anh em chủ nghĩa vô thần của nó, xuất hiện từ nỗi tuyệt vọng, để đối chọi với Công giáo trong ý nghĩa đạo đức, nhằm lấy bản thân thay thế cái quyền lực tinh thần tín ngưỡng bị mất đi, nhằm làm dịu cơn khát tinh thần của nhân loại đang chết khát và cứu nó không nhờ đấng Christ, mà là nhờ vũ lực! Đó cũng là tự do thông qua cưỡng bức, đó cũng là sự kết liên thông qua thanh gươm và xương máu! “Ngươi chớ được tin vào Chúa, chớ được có sở hữu, chớ được có nhân cách, fraternite ou la mort,[2] hai ngàn nhân mạng!”. Qua việc làm của họ quý vị biết được về họ- điều đã được nói rồi! Và các vị đừng có nghĩ để cho mọi thứ đó là vô tội và không đáng sợ đối với chúng ta; ô, chúng ta cần chống trả, và hãy nhanh hơn, nhanh lên nữa! Cần, để đấng Christ của chúng ta tỏa sáng chống lại phương Tây, Người được chúng ta gìn giữ và Người mà họ không hề biết đến! Không như kiểu nô lệ mắc vào bẫy của bọn tu sĩ dòng Tên, mà là mang nền văn minh Nga của chúng ta cho họ, chúng ta phải đứng ngạo nghễ trước họ, và chớ để cho mọi người ở nước ta nói rằng thuyết giáo của họ là tinh tế duyên dáng, như có người vừa đây đã nói…

– Nhưng này, hãy cho phép tôi, cho phép tôi chút đã! - Ivan Pet’rovitr nói với giọng băn khoăn hết sức, ông ta nhìn khắp chung quanh và bắt đầu có dáng hốt hoảng. - Hẳn nhiên tất cả những ý nghĩ vừa rồi của ngài thật rất đáng ca ngợi và chứa chan lòng ái quốc, nhưng vẫn còn là những lời lẽ quá đáng… và tốt hơn hết chúng ta nên cho qua vấn đề này đi…

– Không, đây không phải là một chuyện thêu dệt quá đáng, phải nói là tôi chưa diễn tả được đầy đủ mới đúng hơn, bởi vì tôi thiếu khả năng lột tả được hết ý tưởng của mình, thế nhưng…

– Nào, ngài hãy thôi cho!

Hoàng thân yên lặng. Chàng ngồi ngay đơ trên ghế mà chăm chăm nhìn Ivan Pet’rovitr.

Ông cụ già không hề mất bình tĩnh, dịu dàng bảo:

– Cứ như chỗ tôi nhận xét thì ngài quá xúc động trước bước phiêu lưu bi đát của vị ân nhân ngài! Ngài nhiệt thành quá mức, có lẽ vì nỗi cô liêu của ngài. Giá ngài sống hòa mình hơn với mọi người, và xã hội, tôi hy vọng như vậy, sẽ hoan hỉ tiếp đón ngài như một thanh niên xuất chúng thì rồi ngài sẽ không quá nồng nhiệt, sốt sắng như thế, và chắc ngài sẽ nhìn mọi việc này đơn giản hơn nhiều… hơn nữa, theo ý tôi, những trường hợp họa hiếm như thế này sở dĩ xảy ra một phần vì cớ chúng ta đã quá nhàm chán, một phần vì cớ chúng ta bị buồn phiền…

– Đúng vậy, quả đúng vậy, - hoàng thân reo lên. - Thật là một ý tưởng sáng ngời! Chính “vì sự buồn phiền, vì nỗi buồn phiền của chúng ta”, chứ không phải vì sự no đầy, mà ngược lại do niềm khao khát… không vì sự no đầy đâu! Ở điểm này thì cụ đã nhầm rồi! Mà không phải chỉ là do sự khao khát thôi đâu, phải nói là do một khát vọng nấu nung như lên sốt mới đúng! Và chớ nghĩ rằng đó là một việc nhỏ nhặt chỉ đáng mua được một trận cười. Xin lỗi quý vị, chúng ta cần phải nhìn xa thấy rộng, chúng ta phải linh cảm thấy trước mới được! Kịp lúc dân tộc chúng ta đã đến bờ bến, kịp lúc chúng ta tin chắc đó là bến bờ, thì chúng ta hẳn sẽ vô cùng sung sướng mà lao mình đến cùng đích tối hậu, tại sao như thế? Ở đây quý vị ngạc nhiên vì Pavlisev, quý vị cứ gán cho sự điên rồ hay lòng nhân hậu của ông ấy, nhưng đâu phải như thế! Sự nhiệt thành kỳ lạ của người Nga chúng ta trong những trường hợp như vậy làm không chỉ riêng gì chúng ta, mà cả Âu châu phải kinh ngạc như thế: Ở nước ta hễ kẻ nào đã cải theo Công giáo thì nhất thiết sẽ trở thành tu sĩ dòng Tên, thậm chí là những kẻ kiên định nhất; hễ đã trở thành kẻ vô thần, thì tất yếu sẽ đòi xóa bỏ tận gốc rễ niềm tin vào Chúa bằng sự cưỡng bức, có nghĩa là bằng thanh gươm đó! Tại sao thế? Tại sao lại có sự cực đoan như vậy? Lẽ nào quý vị không biết thật hay sao? Bởi vì anh ta đã tìm thấy tổ quốc mà ở đây anh ta đã xem xét kĩ, và hết đỗi mừng vui; đã tìm được bến bờ, mảnh đất và quỳ sụp xuống ôm hôn! Mà không phải do một sự háo danh đâu, thì đấy, đâu phải tất cả những người Nga đi theo phái dòng Tên hay theo chủ nghĩa vô thần là vì những cảm tính hiếu danh tồi tệ thôi, mà do từ nỗi đau tinh thần, từ nỗi khát khao tinh thần, từ nỗi buồn nhớ đến sự nghiệp cao cả, đến bến bờ vững chắc, đến tổ quốc mà họ đã ngừng tin tưởng, bởi vì họ cũng chưa bao giờ biết nó! Con người Nga dễ trở thành kẻ vô thần nhất so với các tộc người còn lại trên thế giới! Và những người đồng bào của chúng ta không đơn thuần trở thành những kẻ vô thần, mà nhất thiết là tin tưởng sắt son vào chủ nghĩa vô thần cơ, dường như tin vào một tín ngưỡng mới, nhưng không thèm biết đến là họ tin tưởng vào số không. Nỗi khát vọng của chúng ta vốn là thế đó! “Kẻ nào không có nền ở phía dưới chân mình, kẻ ấy cũng không có Chúa”. Đó không phải là phát biểu của tôi. Đó là phát biểu của một nhà buôn thuộc số Cựu giáo mà tôi đã gặp hồi tôi còn hay đi đây đi đó. Thực sự thì ông ta không diễn đạt đúng hệt vậy, ông ta nói: “Kẻ nào từ bỏ mảnh đất quê hương, kẻ đó từ bỏ cả Chúa của mình”. Thì cứ nghĩ mà coi, ở chúng ta có những người học vấn uyên thâm nhường nào đã hạ mình xuống đến tận giới đồ tể… Nhưng vả lại, trong trường hợp như thế, giới đồ tể có gì là tệ hơn so với hư vô chủ nghĩa, giáo phái dòng Tên, chủ nghĩa vô thần cơ chứ? Có thể thậm chí còn sâu sắc hơn nữa ấy chứ! Nỗi đau sầu đến nước nào hơn đây!… Cứ chỉ cho những bạn đồng hành khát khao, đầy nhiệt huyết của ông Columb nhìn thấy bến bờ Tân Thế giới, cứ chỉ cho người dân Nga xem thấy “Thế giới Nga”, cứ để cho họ tìm thấy kho vàng kho báu ẩn kín dưới lòng đất khuất khỏi tầm mắt họ! Cứ cho họ thấy sự phục hưng cùng sự hồi sinh trong tương lai của toàn thể nhân loại, mà có lẽ chỉ nhờ tư tưởng Nga, nhờ đấng Thượng đế Nga và nhờ đấng Christ của Nga, rồi quý vị sẽ thấy, con người Nga sẽ lớn lên trong vóc dáng thần khổng lồ đầy quyền năng, nhưng nhu hòa, khôn ngoan và chân thành, trước toàn thể thế gian sững sờ, sững sờ và khiếp hãi, bởi vì họ chờ đợi từ chúng ta chỉ có mỗi gươm đao, gươm đao và bạo lực, bởi vì trong con mắt họ, họ chẳng thể nào tưởng tượng được chúng ta mà lại thiếu đi bản tính hoang sơ mọi rợ. Họ đã xét đoán chúng ta từ trước tới nay như vậy, và bây giờ lại càng ngày càng tin chắc như thế một cách mãnh liệt hơn, và rồi…

Nhưng đến đây chợt một biến động xảy ra đã cắt ngang lời diễn thuyết của nhà hùng biện một cách hết sức bất ngờ.

Tất cả tràng nói nóng bỏng tuôn ra quá đỗi khích động ấy, với những ý tưởng hỗn độn, sôi nổi đến chói tai cứ muốn chen chúc nhau, xô đẩy nhau, nhào lẫn lên nhau đó, tất cả như một điềm triệu khác thường và nguy hiểm về trạng thái tinh thần của chàng trai trẻ. Giờ đây chàng đã phấn khích, nóng nảy quá đỗi và không còn biết phải trái gì nữa. Trong số quan khách, những kẻ đã từng quen biết chàng trước đây đều ngạc nhiên một cách lo ngại (lắm kẻ còn lấy làm hổ thẹn nữa) trước sự bột phát này, một sự bột phát không xứng hợp chút nào với bản tính khép nép, rụt rè cố hữu, sự giữ gìn khéo léo rất mực cùng cái ý thức tự phát của chàng về tư cách đứng đắn trong những trường hợp tương tự. Họ chẳng thể hiểu được tại sao chàng lại đâm ra nhiệt cuồng như vậy. Tin tức về cụ Pavlisev có lẽ không phải là nguyên do. Trong góc phòng, các bà, các cô nhìn sững chàng như nhìn một người điên, về sau, bà cụ Belokonskaia đã thú nhận rằng: “Giá cảnh đó cứ tiếp diễn thêm một phút nữa, chắc tôi đã phải bỏ chạy trối chết rồi!”. Mấy ông đứng tuổi thì cứ như bị bẽ mặt ngay từ phút ngạc nhiên ban đầu. Ngồi trên ghế, thượng cấp của tướng Epantsin nhìn lóe lửa với vẻ bất mãn và nghiêm khắc. Vị đại tá kỹ sư thì ngồi trơ như phỗng đá. Nhà thơ gốc Đức thì thật là đã tái xanh mặt mày, nhưng vẫn còn giữ nụ cười gượng gạo và trơ mắt ra nhìn mấy kẻ kia để xem phản ứng của họ ra sao. Tuy nhiên, mọi sự và “cảnh tượng nhơ nhuốc đó” hắn rồi sẽ có thể chấm dứt thật bình thường và tự nhiên, thậm chí là vào một phút sau đó thôi. Tướng Epantsin là kẻ kinh hãi vô cùng nhưng lại hoàn hồn trước mọi người và đã mấy lần cố gắng ngăn hoàng thân lại nhưng vô ích, giờ đây, ông tiến đến bên hoàng thân với vẻ quả quyết và cứng rắn lắm. Chỉ một phút nữa thôi, nếu cần, chắc ông đã nhất quyết đưa hoàng thân ra khỏi phòng một cách thân thiện viện cớ chàng bị đau yếu, điểm này thì ông tin chắc lắm- thế nhưng rồi sự việc lại xoay chiều một cách khác hẳn.

Ngay từ lúc mới bước vào phòng khách, hoàng thân đã ngồi thật xa chiếc lọ sứ Tàu mà Aglaia đã dọa chàng sợ phát khiếp. Kể chuyện này ra thì nghe thật khó tin, thế nhưng những lời lẽ Aglaia đã bảo chàng ngày hôm trước lại ăn sâu vào tâm trí hoàng thân như một niềm xác tín bất khả xóa nhòa, như thể một dự cảm có vẻ khó tin và lạ lùng rằng thế nào chàng cũng đánh vỡ chiếc lọ vào ngày hôm sau, dù chàng có cố ngồi xa nó đến đâu, dù chàng có cố tránh cái thảm cảnh đó đến mấy mặc lòng! Nhưng mà quả thế thật! Trong suốt buổi chiều, bao nhiêu những cảm tưởng khác thật mãnh liệt và trong sáng vô ngần đã xâm chiếm cõi lòng chàng- như chúng ta đã đề cập đến đã giúp chàng quên khuấy đi mối dự cảm nọ. Nhưng kịp khi chàng nghe người ta đả động đến Pavlisev, rồi Ivan Fedorovits dẫn chàng đến chỗ Ivan Pet’rovitr để giới thiệu thêm một lần nữa, thì chàng đã đến gần bên bàn tròn và ngồi xuống chiếc ghế bành ngay cạnh chiếc lọ sứ diễm lệ và to lớn nọ, chiếc lọ đặt trên bục ngay phía trên khuỷu tay, hơi chếch ra sau lưng chàng một chút.

Vừa khi nói xong những lời sau cùng, chàng bỗng đứng bật dậy khỏi ghế, tay quờ quạng, vai khẽ nhích, thế rồi… cả phòng khách kêu lên thất thanh. Chiếc lọ lắc lư như thể còn lưỡng lự không biết có nên rơi vào đầu một ông khách già nua không, rồi thình lình nó chúi hẳn sang phía bên kia, chỗ anh chàng người Đức, nhà thơ vừa kịp nhảy thoát ra được trong nỗi khiếp hãi, rồi rơi đánh xoảng xuống đất. Tiếng đổ vỡ, tiếng kêu la thất thanh, những mảnh sứ quý giá rải rác trên thảm, nỗi hoảng hốt, kinh hoàng- ôi thôi, thật khó mà tả cho xiết cảm giác của hoàng thân lúc ấy, và chắc cũng chẳng cần phải tả làm gì! Nhưng chúng ta không thể bỏ qua không nhắc tới một cảm giác lạ lùng đã xâm chiếm lấy chàng ngay lúc ấy và hiển hiện rõ rệt giữa bao nhiêu cảm giác ngổn ngang, hãi hùng khác: Không phải là nỗi hổ thẹn, nhục nhã, hay là mối kinh hãi hoặc tai ách bất ngờ đó đã khiến chàng bàng hoàng hơn hết đâu, chàng kinh hoàng hơn hết chính vì lời tiên tri của người con gái đã biến thành sự thật. Chính chàng cũng không hiểu được tại sao tư tưởng đó lại trấn áp chàng mạnh mẽ đến như vậy, chàng chỉ cảm thấy nó đánh mạnh vào tâm hồn chàng và chàng đứng sững trong nỗi hãi hùng gần như huyền bí! Một phút sau, mọi sự dường như mở toang chung quanh chàng, nỗi hãi hùng đã biến mất nhường chỗ cho ánh sáng, cho niềm vui thỏa và ngất ngây, chàng không còn thở được nữa… nhưng rồi thoáng giây ấy đã qua nhanh. Tạ ơn Chúa, sự thể không phải là như vậy. Chàng thở được và nhìn táo tác chung quanh.

Suốt một lúc lâu, dường như chàng không sao hiểu được sự huyên náo, hỗn loạn chung quanh, hay nói đúng hơn, chàng đã hiểu thật thấu, thấy thật tường, nhưng chàng cứ đứng đó như một người đặc biệt bàng quan, như một kẻ ngoài cuộc, như một người vô hình trong chuyện thần tiên, cứ như một kẻ đã lẻn vào trong phòng và dõi theo những người lạ vây chung quanh như để mua vui cho chàng. Chàng thấy họ đang thu nhặt những mảnh vỡ, nghe họ nói năng tíu tít, chàng thấy Aglaia mặt mày tái xanh đang đứng nhìn chàng một cách lạ lùng: Tia mắt nàng không đong đầy niềm oán hận, cũng chẳng thoáng chút giận hờn; nàng nhìn chàng với vẻ mặt kinh hãi nhưng cũng thật là âu yếm, rồi nàng lại nhìn mấy người kia với ánh mắt rực lửa… cho đến nỗi trái tim chàng chợt nhói lên dịu ngọt. Rốt rồi, chàng kinh ngạc nhìn thấy mọi người đã ngồi xuống trở lại, họ lại còn cười nữa chứ, cứ у như chẳng có chuyện gì xảy ra không bằng! Một phút trôi qua: Trận cười lại càng giòn giã, họ nhìn chàng, cười cái vẻ sững sờ lặng câm của chàng, nhưng họ cười thân tình và vui vẻ; lắm kẻ còn bắt chuyện với chàng và nói năng hết sức thân mật, nhất là Lizaveta Prokofievna: Bà vừa nói vừa cười, nói những chuyện thật ân cần, tử tế. Chợt chàng cảm thấy bàn tay Ivan Fedorovits âu yếm vỗ nhẹ trên vai; cả Ivan Pet’rovitr cũng cười nữa, nhưng khoái hoạt hơn cả là ông cụ già, ông ta còn nhã nhặn và nồng nàn hơn trước nữa: Ông cầm lấy tay hoàng thân bóp nhẹ, tay kia ông vỗ nhẹ tay chàng, dỗ chàng nên bình tĩnh trở lại, cứ như ông đang bảo một cậu bé đang hãi sợ, khiến hoàng thân sung sướng quá đỗi không nói được lời nào và gần như không còn bắt kịp hơi thở nữa.

– Sao? - Rốt rồi chàng lắp bắp. - Cụ đã tha thứ cho tôi thật sao? Cả bà cũng thế chứ, thưa bà Lizaveta Prokofievna?

Trận cười càng sôi nổi hơn. Lệ dâng tràn đôi mắt hoàng thân; chàng không còn tin nổi nữa và cảm thấy hạnh phúc vô ngần.

– Tất nhiên, chiếc lọ đúng là tuyệt hảo. Tôi nhớ nó đã nằm ở chỗ đó suốt mười lăm năm nay, phải… đúng mười lăm năm… - Ivan Pet’rovitr mở lời.

– Chà, chi mà thảm thiết quá thế! - Lizaveta Prokofievna lớn tiếng nói. - Đời con người rồi cũng có lúc phải chấm dứt, có chi mà phải rối lên vì một chiếc lọ sành! Nhẽ nào ngài lại hoảng hốt về chuyện ấy đến thế, Lev Nikolaevits? - Bà nói tiếp bằng một giọng lo lắng. - Chớ có lo gì cả, bạn ạ, đừng lo gì hết. Ngài làm tôi sợ thật rồi đó.

– Và bà tha thứ cho tôi về tất cả mọi chuyện chứ? Tất cả mọi chuyện trừ vụ chiếc lọ chứ? - Hoàng thân dợm đứng dậy khỏi ghế, nhưng ông cụ đã dìu chàng ngồi xuống lại. Ông ta không muốn để chàng đi.

– C’est très curieux et c’est très sérieux![3] - Ông thì thầm với Ivan Pet’rovitr ngồi ở phía bên kia bàn, nhưng lại khá đủ to, có thể hoàng thân cũng nghe được.

– Thế là tôi không làm buồn lòng quý vị nào cả đấy chứ? Quý vị không biết chứ ý nghĩ đó đã khiến tôi sung sướng dường bao! Nhưng mà phải thế chứ! Làm sao tôi có thể chọc giận ai ở đây được! Ý nghĩ đó chỉ tổ làm xúc phạm đến quý vị mà thôi.

– Bình tĩnh lại đi, bạn; bạn đã đi quá xa rồi đó. Không cớ gì bạn phải tỏ ra biết ơn lắm nỗi như vậy. Tâm tình đó thật rất quý hóa, rất đẹp đẽ, nhưng có hơi quá đó.

– Tôi nào có tạ ơn đâu, tôi chỉ dám… ngưỡng mộ mọi người mà thôi. Tôi sung sướng được nhìn ngắm mọi người. Điều tôi nói có vẻ rồ dại, nhưng tôi cần phải nói, tôi cần phải giải thích… dù chỉ là để tỏ lòng tự trọng.

Hoàng thân lên cơn mất rồi, chàng đâm ra bối rối, kích động quá sức; hình như thể những lời chàng thốt ra thường không phải là lời chàng muốn nói nữa. Đôi mắt chàng dường như van vỉ: chàng được nói nữa hay không? Tia mắt chàng bắt gặp cái nhìn của Belokonskaia.

– Không sao đâu bạn ạ, cứ nói đi, nói đi, chớ có hụt hơi như vậy, - bà cụ bảo. - Sự việc xảy ra vừa rồi là vì ngài hụt hơi đấy. Nhưng chớ sợ gì cả, cứ nói đi. Quý vị ở đây đã từng chứng kiến nhiều chuyện lạ lùng hơn ngài nhiều, ngài không làm họ ngạc nhiên đâu. Có Chúa biết là ngài khôn ngoan dường nào, dù ở đây ngài đã đánh vỡ chiếc lọ và đã làm cho hết thảy chúng tôi sợ hãi.

Hoàng thân lắng nghe bà cụ nói, nụ cười nở trên môi chàng.

– Nhưng thưa cụ, có phải chính cụ, - chàng chợt ngỏ lời cùng ông già. - Có phải chính cụ đã cứu vớt chàng sinh viên Podcunov và viên thư lại Svabrin[4] thoát khỏi cảnh lưu đày vào ba tháng trước đây đấy không ạ?

Ông cụ già thoáng đỏ mặt, cụ lắp bắp vài lời để lấy lại bình tâm.

Rồi hoàng thân quay thoắt sang phía Ivan Pet’rovitr:

– Có phải chính ông là vị, theo chỗ tôi được biết, đã cấp phát gỗ ván cho nông dân của ông, lúc nhà cửa họ bị cháy rụi, dù họ chẳng còn ràng buộc gì với ông và đã từng gây rắc rối cho ông?

– Ồ, đó chỉ là chuyện… thêu dệt quá đáng, - Ivan Pet’rovitr lẩm bẩm, trông ông ta sung sướng và trịnh trọng ra mặt. Tuy nhiên, lần này đúng thật là một màn thêu dệt quá đáng: Tin đồn đến tai hoàng thân chỉ là một tin vịt thật.

– Kính thưa bà hoàng, về phần bà, - hoàng thân tỏ lời cùng bà cụ Belokonskaia với một nụ cười rạng rỡ, - có phải sáu tháng trước tại Moskva, bà đã đối đãi với tôi hệt như con trai ruột của bà, sau khi bà nhận được lời giới thiệu của Lizaveta Prokofievna? Và cũng xem tôi như con trai, bà đã ban cho tôi một lời khuyên mà tôi chẳng bao giờ quên được. Bà còn nhớ không?

– Này, ngài có nói quá đi không đấy? - Bà Belokonskaia bực bội nói. - Ngài thật là một gã tốt bụng, nhưng thật nực cười. Người ta có cho ngài hai xu ngài cũng tri ân họ như thể họ đã cứu vớt cả mạng sống ngài không bằng. Ngài tưởng như thế là hay ho lắm, nhưng mà sự thật thì khó ngửi quá đi!

Bà cụ sắp giận hoàng thân đến nơi rồi, nhưng đột nhiên bà cụ phá lên cười, lần này bà cụ cười vẻ đôn hậu. Gương mặt Lizaveta Prokofievna sáng rỡ hẳn lên, Ivan Fedorovits cũng hớn hở mặt mày.

– Tôi nói rằng Lev Nikolaevits là một người… một người… tóm lại, miễn là khi nói năng, ngài đừng để bị hụt hơi, ngập ngừng… như bà hoàng vừa nhận xét, - ông tướng lẩm bẩm với giọng sung sướng thỏa lòng, ông nhắc đi nhắc lại những lời lẽ của bà cụ Belolonxcaia, những lời lẽ đã làm ông sờ sững.

Duy mỗi mình Aglaia là trông buồn rầu, dù mặt nàng vẫn đỏ bừng, có lẽ vì nàng giận.

– Chàng ta thật là khả ái, - ông cụ thầm thì với Ivan Pet’rovitr.

– Tôi đến đây với một cõi lòng quặn thắt, - hoàng thân nói tiếp, mối xúc động cứ tràn dâng, mỗi lúc chàng nói một nhanh, giọng càng lạ lùng phấn khích, - tôi… tôi sợ quý vị, và sợ cả chính tôi nữa. Nhất là tôi sợ chính tôi! Trên hành trình trở về Petersburg, tôi đã dặn lòng rằng thế nào tôi cũng đi gặp gỡ những nhân vật thần thế, thuộc những gia đình kỳ cựu nhất của một dòng dõi cổ kính hàng đầu mà tôi là một hậu duệ trực hệ của gia tộc ấy. Lúc này đây, tôi đang được ngồi chung chiếu với các hoàng thân giống như tôi, có phải thế không? Tôi muốn được quen biết quý vị, điều ấy cần lắm, thật rất là cần thiết! Tôi không ngừng nghe thiên hạ nói quá nhiều điều tồi tệ về quý vị, những điều tồi tệ hơn là hay ho, họ bảo rằng quý vị hẹp hòi nhỏ mọn, quý vị sống trong tháp ngà của quyền lợi vị kỷ, quý vị thoái hóa, quý vị hiểu biết nông cạn, quý vị ôm lấy những tập quán nực cười… Ôi, người ta đã viết lách, đã nói năng về quý vị không biết bao nhiêu điều nữa! Cho nên ngày hôm nay tôi tò mò mà đến đây với niềm âu lo canh cánh. Tôi đã nhất quyết phải nhìn cho tận mắt để xem cho chắc có phải tất cả giới thượng lưu nước Nga của chúng ta chỉ là những thứ bọt bèo vô giá trị, có phải giới ấy hết thời, có phải sức sống của giới ấy đã khô kiệt hẳn rồi, giới ấy bây giờ chỉ có đáng chết đi, thế nhưng mà cứ sống để kèn cựa nhỏ nhen với lớp người… của tương lai, cản mũi kỳ đà bước tiến của lớp người này mà chẳng bao giờ nhận ra rằng giai cấp mình đang đến hồi giãy chết đó không? Ngay trước đây, tôi cũng chưa tin hẳn quan niệm ấy, vì rằng chúng ta chưa hề có một giai cấp thượng lưu quý phái nào cả, ngoại trừ lớp triều thần le lói nhờ ở lớp áo của họ… hoặc là nhờ rủi may đưa đến, mà bây giờ lớp người đó cũng đã biến mất hẳn rồi, có phải thế không ạ?

– Ồ, không hẳn là như vậy đâu. - Ivan Pet’rovitr cười chua chát nói.

– Chà, ông ấy lại giở cái mửng cũ ra đây! - Belokonskaia nói, giọng bực dọc.

– Laissez le dire[5], chàng ta run rẩy cả người rồi kìa, - ông lão khẽ khàng nhắc nhở họ.

Hoàng thân đã hoàn toàn mất tự chủ rồi.

Và tôi đã trông thấy gì ở đây? Tôi đã trông thấy những con người tế nhị, ngay thẳng và sáng suốt. Tôi đã trông thấy một bậc cao niên trưởng thượng ân cần vui vẻ lắng tai nghe lời một đứa trẻ giống như tôi. Tôi đã nhìn thấy những con người sẵn sàng cảm thông và tha thứ, những con người Nga tốt lành, tốt lành và nồng hậu không kém những con người tôi đã gặp ở nước ngoài, chắc không thể kém hơn được. Quý vị cứ tưởng tượng xem, tôi đã ngạc nhiên thích thú biết bao! Hãy cho phép tôi thổ lộ điều này! Tôi đã nghe thiên hạ nói bao nhiêu lần và tôi cứ mãi tin rằng cái xã hội thượng lưu này chỉ toàn là những trò kiểu cách, toàn bộ hình thức rập khuôn, và chẳng còn một chút thực chất nào nữa; nhưng bây giờ đây, chính mắt tôi đã thấy không thể có vấn đề đó giữa vòng chúng ta được! Có thể nó ở đâu đó, chỉ là không ở chỗ chúng ta được. Có thể nào tất cả quý vị đây đều là những tu sĩ dòng Tên hay là những tên bịp bợm được sao? Tôi vừa được nghe câu chuyện hoàng thân N. mới kể đây: Há không phải đó là một câu chuyện mang đầy khí sắc vui tươi, chân thành, phát sinh từ một ngẫu hứng, và chuyện ấy đong đầy thiện ý đích thực là gì, đó sao? Có lẽ nào những lời lẽ như thế lại phát xuất từ môi miệng của một con người… chết rồi, một con người mà tâm hồn và tài năng đã bị cạn kiệt hết rồi được sao? Có thế nào những con người chết rồi đó lại đối đãi với tôi như cung cách quý vị đang cư xử cùng tôi đây được sao? Đây há không phải là một chất liệu sống… cho tương lai, cho hy vọng hay sao? Có thể nào những con người như thế này lại không hiểu biết, lại sống thoái hóa được sao?

– Này người bạn thiết, tôi xin yêu cầu bạn một lần nữa, hãy bình tĩnh lại đi. Để một dịp khác, chúng ta sẽ trở lại vấn đề này, và phần tôi sẽ rất lấy làm vui sướng… - Vị chức sắc cao niên mỉm cười bảo.

Ivan Pet’rovitr đằng hắng giọng, và xoay người lại trên ghế; Ivan Fedorovits thì đứng ngồi không yên: Vị tướng thượng cấp của ông lúc đó đã mải chuyện trò với phu nhân của “vị chức sắc” nên chẳng buồn chú ý đến hoàng thân nữa, nhưng phu nhân vị chức sắc thì vẫn để ý nghe và nhìn hoàng thân thường lắm.

– Ồ không, tốt hơn xin cứ để cho tôi nói, - hoàng thân lại nói tiếp trong cơn sốt kích động mới mẻ, chàng ngỏ lời cùng ông cụ với giọng tin cậy rất mực và trong cung cách thật tin yêu phó thác. - Hôm qua đây, Aglaia có dặn tôi không được nói, nàng còn dặn tôi những đề tài nào không được phép nói nữa. Nàng biết trước rằng lúc tôi đã mở miệng thì tôi ăn nói kỳ cục lắm! Tôi đã hai mươi bảy tuổi đầu, nhưng tôi biết tôi vẫn như đứa trẻ con. Tôi không được phép bày tỏ ý nghĩ của mình, tôi đã dặn lòng như thế từ lâu lắm rồi. Chỉ có dạo ở Moskva với Rogojin là tôi được nói năng thả cửa thôi. Chúng tôi cùng đọc Puskin, đọc trọn bộ tác phẩm của nhà văn này. Rogojin không biết một chút gì, thậm chí không biết cả cái tên Puskin nữa. Tôi cứ mãi lo sợ rằng những điệu bộ kỳ cục, lố lăng của tôi sẽ phản lại ý nghĩ và tư tưởng chính của tôi. Tôi không biết phải làm điệu bộ ra sao cho đúng. Điệu bộ của tôi lúc nào cũng hỏng kiểu, chỉ tổ mua cười cho thiên hạ và làm giảm giá trị của tư tưởng. Tôi cũng thiếu ý thức về mực thước, đây mới là điều nghiêm trọng, quả thật đây mới là điều quan trọng bậc nhất… Tôi biết rõ, giá tôi cứ ngồi yên lặng thì tốt hơn. Những lúc tôi bình tâm và thủ khẩu như bình, trông ra tôi cũng biết phải trái lắm lắm, biết suy nghĩ chín chắn như ai. Nhưng giờ đây tốt hơn nên cho tôi nói. Trước tia mắt tử tế của quý vị đang nhìn tôi thế kia, tôi nhất định phải nói mới được. Ôi, khuôn mặt quý vị mới thật duyên dáng, diễm lệ làm sao! Hôm qua, tôi đã hứa với Aglaia Ivanovna rằng tôi sẽ giữ yên lặng suốt buổi tối này.

– Vraiment?[6] - Ông lão vừa mỉm cười vừa hỏi.

– Nhưng lắm lúc tôi nghĩ rằng mình tưởng thế là lầm. Vì sự chân thành đáng giá hơn bộ điệu chứ, có phải không ạ?

– Đôi khi.

– Tôi muốn giải thích tất cả, tất cả, tất cả! Ồ phải chứ! Quý vị cho rằng tôi là một nhà không tưởng chứ gì? Một nhà tư tưởng chăng? Không có đâu, tư tưởng của tôi thật hết sức giản dị. Quý vị không tin sao? Quý vị cười à? Quý vị biết không, đôi lúc tôi hèn hạ đáng khinh vì tôi mất niềm tin. Lúc vừa bước vào phòng đây, tôi thoạt nghĩ: “Ta phải nói năng thế nào cho phải với họ đây? Ta phải mở lời bằng những ngôn từ nào cho họ hiểu được ta đôi chút?”. Tôi thật sợ hãi quá, nhưng tôi sợ hãi cho quý vị nhiều hơn, thật là sợ hãi quá chừng! À, mà làm sao tôi lại sợ chứ? Sợ hãi như thế không xấu hổ sao? Đối với một con người tiến bộ thì cả thế giới của kẻ gian ác, thoái hóa đó nào có đáng sá gì đâu? Tôi lấy làm vui sướng là chính bây giờ đây tôi đã tin được rằng chẳng hề có một thế giới những kẻ như thế, và mầm sống có ở trong tất cả mọi người! Nếu chỉ vì chúng ta nực cười thì chẳng gì chúng ta phải bối rối, phải không? Bởi đúng là thế: Chúng ta kỳ cục, chúng ta nông nổi, chúng ta đầy thói hư tật xấu, chúng ta chán chường, chúng ta không biết cách nhìn nhận sự việc chung quanh ta, không biết phải hiểu chúng ra làm sao, chúng ta ai nấy đều như thế cả, tất cả chúng ta, quý vị và tôi, và tất cả mọi người! Quý vị không giận vì tôi đã nói thẳng là quý vị đáng nực cười đấy chứ? Trong quý vị có mầm mống tác thành sự sống đấy chứ, phải không? Quý vị cũng biết đó, tôi cho rằng lắm lúc ta có nực cười lại tốt nữa ấy chứ, vâng, như thế hóa ra lại hay hơn nhiều: Vì như thế người ta sẽ sẵn lòng khoan dung, tha thứ cho nhau hơn và trở nên khiêm tốn hơn; ta đâu có thể lập tức hiểu thấu mọi sự được, đâu có phải nhất đán mà ta trở nên toàn hảo được! Trước khi đạt đến mức toàn hảo, bắt buộc có lắm điều chúng ta chưa hiểu được. Bởi nếu chúng ta hiểu nhanh quá, chúng ta sẽ hiểu không thấu đáo. Tôi nói cùng quý vị điều này, tôi nói cùng quý vị là những người đã thừa sức hiểu nhiều điều… và cả không hiểu thấu nhiều điều… Bây giờ tôi không còn sợ cho quý vị nữa. Hẳn quý vị không lấy làm giận cho một đứa trẻ như tôi lại dám nói cùng quý vị những lời lẽ như thế? Ông lại cười ư, thưa Ivan Pet’rovitr? Ông nghĩ: Tôi sợ cho họ, rằng tôi là một kẻ biện hộ cho họ, là một kẻ theo chủ thuyết dân chủ, và là một kẻ bênh vực cho sự bình đẳng chứ gì? - Chàng cười như điên (mạch chuyện chàng nói thường bị đứt quãng vì những cơn cười ngắn và phấn hứng). Tôi sợ hãi cho quý vị, cho tất cả quý vị, cho tất cả chúng ta hết thảy. Tôi là một hoàng thân thuộc một dòng dõi tôn tộc kỳ cựu và tôi đang ngồi giữa vòng những ông hoàng. Tôi nói điều này để cứu vớt chúng ta hết thảy, để giai cấp của chúng ta không phải biến mất một cách vô nghĩa vào cõi tối tăm mà chưa kịp nhận ra điều gì, để khỏi phải cãi cọ rầy rà, để khỏi phải mất mát tất cả. Tại sao chúng ta phải biến mất, phải nhường chỗ cho kẻ khác trong khi chúng ta vẫn giữ ngôi vị tiên phong và là tinh hoa của xã hội? Chúng ta hãy là lớp người tiến bộ, như thế chúng ta sẽ tiếp tục là tinh hoa. Chúng ta hãy làm tôi tớ để rồi chúng ta sẽ trở nên chủ nhân.

Chàng dợm đứng dậy khỏi ghế, nhưng ông cụ đã giữ chàng lại, mặc dù ông đã nhìn chàng với đôi mắt lo ngại lắm.

– Hãy nghe đây! Tôi biết có nói cũng bằng thừa, vậy tốt hơn ta lấy một ví dụ, tốt hơn cứ đơn giản bắt đầu thôi… mà tôi đã bắt đầu rồi đó, và… và… con người ta có thể nào bất hạnh thực sự được không? Ôi, nỗi khổ sở và niềm bất hạnh của tôi nào có là gì nếu tôi vẫn còn sức lực để được hạnh phúc! Quý vị biết chăng, tôi không hiểu được tại sao một người đi ngang qua một cái cây mà lại không cảm thấy hạnh phúc vì được ngắm nhìn nó! Hay được chuyện trò với một người mà lại không cảm thấy sung sướng được thương yêu người đó! Ôi, thật tôi không biết cách diễn tả cho tới được điều ấy… nhưng cứ mỗi bước chân của chúng ta đi, có biết bao nhiêu điều đẹp đẽ, mỹ miều mà chí đến một con người mạt hạng nhất cũng phải thấy là đẹp. Cứ nhìn một đứa bé, cứ ngắm cảnh hừng đông của Tạo hóa, cứ nhìn lá cỏ mọc lên như thế nào, cứ nhìn vào đôi mắt của kẻ đang nhìn ta và yêu mến ta…

Trong lúc tuôn tràn nguồn hứng khởi đó, hoàng thân cứ đứng mà nói. Ông cụ lúc này nhìn chàng với dáng hoảng hốt lắm. Lizaveta Prokofievna vung vẩy hai tay và kêu lên: “Lạy Chúa tôi!”, bà là người đầu tiên đã đoán ra sự thể. Aglaia chạy lại phía hoàng thân, vừa kịp đưa đôi tay ra đỡ lấy chàng, nàng hãi hùng, gương mặt nàng nhúm nhó vì đau đớn, nàng đã nghe tiếng hét man dại của “tà linh đã lay đổ và đốn ngã” con người khốn khổ đó. Người bệnh nằm dài trên thảm. Có người đã kịp kê dưới đầu chàng một chiếc gối.

Chẳng ai ngờ được một kết cuộc như thế. Mười lăm phút sau, hoàng thân N., Evgeni Pavlyts và ông cụ già cố gắng tạo lại vẻ sinh động cho buổi tiệc, nhưng nửa giờ sau, ai nấy đều bỏ về cả. Họ cũng không quên bày tỏ vài lời chia buồn, tỏ ý tiếc, cùng những ý kiến này nọ. Giữa những ý kiến đó, Ivan Pet’rovitr đã nhận xét: “Chàng thanh niên này là một kẻ nặng đầu óc chủ nghĩa Xlavơ hay gần giống như vậy, nhưng trường hợp này cũng chẳng có gì nguy hiểm cả”. Ông cụ già không đưa một ý kiến nào hết. Sự thật trong đôi ba ngày sau đó, mọi người đều thoáng khó chịu, bực bội. Ivan Pet’rovitr còn cảm thấy như bị xúc phạm nữa, nhưng không có gì là trầm trọng lắm. Vị tướng thượng cấp của Ivan Fedorovits đã có lúc tỏ ra hơi lạnh nhạt đối với ông. Còn vị “chức sắc đứng tuổi”, với tư cách là bậc “giám hộ” của gia đình đã tỏ ý quở trách ông chủ gia đình và bằng những lời lẽ thật ngọt ngào, ông cụ đã bày tỏ mối quan tâm lớn lao cho tương lai của Aglaia. Thực tế thì ông cụ cũng là một con người khá nhân hậu, nhưng một trong nhiều lý do khiến ông cụ để ý đến hoàng thân buổi tối hôm ấy chính vì câu chuyện cũ của hoàng thân với nàng Nastasia Filippovna. Ông cụ cũng có nghe thiên hạ bàn tán này nọ về chuyện đó, và cụ rất lưu tâm đến, thậm chí còn có ý dò hỏi về chuyện ấy nữa.

Buổi tối hôm ấy, trước lúc ra về, Belokonskaia bảo Lizaveta Prokofievna:

– Chà, tôi biết nói gì với bà đây. Kể thì chuyện này cũng có hay có dở, nhưng nếu bà muốn biết ý tôi, thì tôi xin nói rằng hay ít, dở nhiều. Hẳn bà cũng thấy chàng ta là loại người ra sao rồi. Chỉ là một con bệnh đó thôi!

Lizaveta Prokofievna quyết định dứt khoát một lần rằng hoàng thân “không thể nào” là một vị hôn phu của con gái bà được. Ngay đêm đó, bà đã nguyện với lòng rằng “bao lâu bà còn sống, hoàng thân chớ có hòng làm chồng Aglaia” được. Sáng hôm sau, bà thức dậy vẫn nuôi ý nghĩ ấy trong trí. Nhưng đến bữa ăn trưa lúc một giờ thì bà lại tự mâu thuẫn một cách lạ thường rồi.

Trả lời cho một câu hỏi hết sức dè dặt của hai cô chị, Aglaia bất thần lên tiếng với giọng điệu lạnh lùng, và cao ngạo, như thể nàng muốn chấm dứt những câu hỏi loại đó cho rồi.

– Tôi chưa hề hứa hẹn với ông ta điều gì cả. Chưa bao giờ tôi xem ông ta như vị hôn phu của tôi cả. Đối với tôi, ông ta cũng chỉ là một người xa lạ như bao nhiêu kẻ khác thôi.

Lizaveta Prokofievna chợt bừng bừng nổi giận.

– Mẹ chẳng bao giờ ngờ con lại nói năng như thế, - bà mẹ nói trong nỗi rầu lòng. - Ông ta chẳng thể nào làm chồng con được, mẹ biết mà, mẹ đội ơn Chúa vì sự thể đã xoay chiều như vậy, nhưng mẹ chẳng ngờ con lại nói ra những lời lẽ như thế được! Mẹ ngờ rằng con sẽ nói những điều khác hẳn cơ chứ. Nếu biết thế này, tối hôm qua, hắn mẹ đã mời mọi người ra khỏi cửa, chỉ lưu một mình ông ta lại thôi. Ý nghĩ của mẹ về ông ta là như vậy!…

Đến đây thì bà ngừng lại, bà sợ hãi cho lời lẽ của bà. Nhưng phải chi bà biết được bà đã bất công với con gái của bà vào lúc đó biết bao nhiêu! Trong trí Aglaia, nàng đã quyết định tất cả mọi sự rồi. Nàng cũng đã chờ đợi giờ phút quyết liệt này, cái giờ phút sẽ quyết định tất thảy, cho nên mỗi một lời bóng gió xa gần, mỗi một lời đả động vô tình cũng đều khiến trái tim nàng bị tổn thương nặng nề.

❀ ❀ ❀

[1] Chúng ta không thể! (tiếng La tinh trong nguyên bản).

[2] Đoàn kết anh em hay là chết! (tiếng Pháp trong nguyên bản).

[3] Điều đó thật hiếu kỳ và nghiêm túc (tiếng Pháp trong nguyên bản).

[4] Svabrin: họ của viên thư lại được Dostoievxki lấy từ nhân vật Svabrin trong Con gái viên đại úy (1836) của A. Puskin. Svabrin bị đày đến pháo đài Belgorod vì thách đấu.

[5] Cứ để hắn nói (tiếng Pháp trong nguyên bản).

[6] Thực sao? (tiếng Pháp trong nguyên bản).

tác giả những công trình nghiên cứu về thời Trung cổ, người sưu tầm các mẫu chữ Nga - Slave cổ. [15] Câu này được khắc trên tấm Huy chương do Nga hoàng Nikolai I trao tặng bá tước P.A. Kleinmikel (1793-1869) khi ngài đã hoàn thành việc chỉ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Fyodor Dostoievsky

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.