Giờ hẹn định vào lúc mười hai giờ, nhưng vì một lý do bất khả kháng, hoàng thân bị trễ. Lúc về đến nhà, chàng thấy ông tướng đã ngồi đợi ngài đấy rồi. Thoáng nhìn, chàng thấy rằng ông tướng bất bình, có lẽ vì phải ngồi đợi lâu. Cáo lỗi xong, hoàng thân vội vàng ngồi xuống, nhưng chàng cảm thấy sợ hãi lạ lùng cứ như thể ông khách của chàng được tạc bằng sứ và lúc nào chàng cũng sợ làm ông vỡ. Trước đây, chưa bao giờ chàng thấy khiếp ông tướng, cũng chưa bao giờ chàng nghĩ tới chuyện có thể sợ ông được. Trước mắt chàng, ông tướng trông khác hẳn con người chàng mới gặp hôm qua đây: Ông không còn bối rối, đãng trí như cũ, trái lại ông đã thành một con người hết sức thận trọng, một con người quả quyết không sao lay chuyển nổi. Tuy nhiên, tư thái bình thản đó cũng chỉ ngoài mặt thôi, hơn là thực sự. Ông ra cái điều lãnh đạm một cách nhã nhặn, dù với vẻ uy nghi tư cách lắm. Lúc đầu ông còn ra dáng kẻ cả với hoàng thân, như cung cách ngạo nghễ của một kẻ kiêu hãnh lúc bị kẻ khác vô cớ sỉ nhục. Ông ăn nói nhã nhặn, nhưng giọng thoáng buồn.
– Quyển sách tôi mượn ngài bữa nọ đây, - ông bảo, vừa hất đầu ra dấu chỉ quyển sách ông vừa mang tới đang nằm trên bàn. - Xin cám ơn ngài.
– Vâng, thưa tướng quân, ông đã đọc bài báo này rồi à? Ông thích chứ? Có thích hay không, thưa ông? - Hoàng thân nói, mừng rỡ vì có dịp khơi chuyện về một đề tài khác.
– Có lẽ hay đấy, nhưng sống sượng và thậm phi lý. Có thể nói là chứa toàn những điều láo khoét.
Ông tướng nói với vẻ tự tin hết sức, giọng hơi đãi dài.
– Ồ, đó chỉ là một chuyện thật thà, ngây ngô thôi mà: Chuyện một người lýnh già đã chứng kiến ngày quân Pháp tiến vào thành Moskva, một vài chi tiết trong sách thật là thú vị. Với lại dù chứng nhân có là ai đi nữa, thì sự mô tả lại những điều tai nghe, mắt thấy của họ cũng đều quý giá hết. Ông không nghĩ thế sao?
– Nếu tôi là chủ bút, chắc tôi đã không cho đăng bài báo ấy rồi. Thường thường, thiên hạ hay dễ tin những anh nói láo sống sượng nhưng mà biết chọc cười thiên hạ, hơn là tin một con người có giá trị và có công trạng. Tôi biết rõ mười mươi về những biến cố xảy ra vào năm 1812,[1] cái năm mà… À mà hoàng thân này, tôi đã nhất quyết rời khỏi nhà này… nhà của gã Lebedev này.
Ông tướng nhìn hoàng thân ra vẻ quan trọng.
– Ông có chỗ ở riêng của ông tại Pavlovsk, tại nhà con gái ông mà, - hoàng thân đưa nhận xét đó ra, cũng chẳng biết là chàng đang nói gì nữa. Chàng nhớ lại ông tướng đến gặp chàng để nhờ cố vấn về một chuyện tối quan trọng, một việc quyết định vận số của ông.
– Tại nhà vợ tôi. Hay nói cách khác, ở tổ ấm của tôi, tại nhà con gái tôi.
– Xin lỗi, tôi…
– Này hoàng thân quý mến, tôi sắp rời nhà Lebedev vì tôi tuyệt giao với gã đó rồi. Tối hôm qua, tôi đã cắt đứt tình bạn với gã không tiếc thương, chỉ tiếc một điều là tôi đã không làm thế sớm hơn. Thưa hoàng thân, tôi đòi hỏi sự kính trọng, tôi mong nhận được sự kính trọng từ những kẻ có thể nói là tôi đã dâng hiến trọn vẹn con tim, tôi thường đem cho cả tâm hồn để rồi cứ bị lừa gạt hoài. Gã đó không xứng đáng với tấm tình bạn của tôi.
– Có nhiều điều… hết sức bất ổn nơi ông ấy, - hoàng thân kín đáo nhận xét… - cũng có một vài nét cử chỉ nào đó… nhưng dù gì đi nữa, ông ta cũng có được một tấm lòng, một tính khí tinh quái đôi khi vui nhộn.
Lối nói trau chuốt của hoàng thân và giọng điệu đầy tôn kính của chàng đã khiến ông tướng hởi lòng hởi dạ, dù đôi lúc ông vẫn còn nhìn chàng nghi ngờ. Nhưng giọng nói của hoàng thân thật là tự nhiên và thành thật, không sao nghi ngờ được.
– Thì tôi là người đầu tiên đã tuyên bố rằng gã có nhiều đức tính tốt lúc bắt đầu kết bạn với gã. - Ông tướng vuốt theo ngay. - Nào tôi có cần gì nhà gã, sự tiếp đãi ân cần của gã đâu, tôi cũng có gia đình, có nhà cửa của tôi mà! Tôi không chối rằng tôi có những tính xấu, tôi là kẻ say sưa vô độ; tôi đã từng chén chú chén anh với gã và có lẽ bây giờ tôi hối tiếc về điều đó. Nhưng không phải chỉ vì rượu chè không thôi (xin tha lỗi cho sự ngay thẳng sống sượng của một kẻ đã quá sức dằn vặt, khổ sở), chẳng phải chỉ vì rượu chè mà tôi làm bạn với gã đâu.
– Đúng như ngài nói, chính những đức tính của gã đã lôi cuốn tôi kết thân với gã. Nhưng điều gì cũng phải có giới hạn của nó, cả đức tính cũng vậy. Đến lúc gã đột nhiên ngạo mạn bảo thẳng vào mặt tôi rằng vào năm 1812, lúc gã còn thơ ấu, gã đã bị mất một chân và đã chôn cái chân đó trong nghĩa trang Vagancovxki tại Moskva thì thật là gã đã đi quá trớn rồi, như thế là gã đã lờn mặt tôi quá rồi, và xấc láo hết sức rồi…
– Chắc chỉ là một chuyện chọc cười cho vui đấy thôi.
– Tôi hiểu. Một chuyện bá láp vô tội vạ để chọc cho thiên hạ cười dù có sống sượng đi nữa, cũng không xúc phạm đến trái tim con người. Có lắm kẻ, có thể nói là họ chỉ nói dối vì chỗ thân tình cốt mua vui cho người đối thoại; nhưng nếu trong đó có chỗ bất kính, và nếu họ để lộ sự bất kính đó ra nhằm tỏ thẳng rằng họ đã chán tình bạn rồi, thì lúc đó, một người tự trọng không còn làm gì khác hơn là quay lưng đi và chấm dứt tình bạn đó, như vậy là một cách trả đứa hỗn láo về vị trí của hắn.
Mặt ông tướng đã đỏ bừng lên trong khi nói.
– Nhưng làm sao Lebedev có thể hiện diện tại Moskva vào năm 1812 được? Lúc đó ông ấy còn là một đứa trẻ thôi mà. Thế mới nực cười!
– Đó cũng là một lý do. Nhưng cứ cho là gã đã sinh ra vào dạo ấy rồi đi nữa, nhưng thưa ngài, làm sao mà gã có thể khẳng định được rằng chính một tên pháo thủ Pháp đã chĩa thẳng họng súng đại bác vào gã và bắn bay một chân gã đi để đùa chơi, rồi gã nhặt cái chân ấy đem về chôn nó tại nghĩa trang Vagancovxki rồi gã còn bảo tôi rằng gã có dựng trên mộ phần một bia tưởng niệm đề chữ trên một mặt thế này: “Nơi đây an táng cái chân của viên bí thư hội đoàn Lebedev”, mặt bên kia ghi: “Hỡi nắm tro tàn yêu dấu, hãy nghỉ yên chờ đến một ngày sống lại”.[2] Cuối cùng, gã còn bảo rằng hàng năm, gã đều về Moskva, đến nấm mồ đó để đọc kinh cầu hồn cho cái chân (thế này mới thật là phạm thượng). Để chứng tỏ là thật, gã còn dám mời tôi lên Moskva để chỉ cho tôi xem ngôi mộ đó, thậm chí xem cả khẩu đại bác đã bắn gãy chân gã, khẩu súng tịch thu được của quân Pháp và hiện lưu giữ tại điện Creml. Gã còn cam đoan với tôi rằng đó là khẩu đại bác thứ mười một kể từ cổng vào, một kiểu súng cổ của Pháp.
– Thế mà gã vẫn còn hai chân nguyên vẹn trông rõ mồn một chứ! - Hoàng thân cười ngất. - Tôi đoan chắc với ông rằng đây chỉ là một chuyện đùa vô hại. Đừng giận làm gì.
– Thưa ngài, xin cho phép tôi được bày tỏ ý kiến về vụ hai chân còn trông rõ mồn một của gã. Chuyện gã nói cứ giả sử cũng không phải là hoàn toàn phịa. Gã có cho biết rằng gã có một chiếc chân giả do Trernoxvitov chế ra.
– Ồ, vâng. Người ta có bảo rằng đeo chân giả Trernoxvitov vẫn có thể khiêu vũ được.
– Thưa ngài, tôi biết rõ điều đó lắm chứ. Vì lúc Trernoxvitov vừa sáng chế ra loại chân đó xong, việc đầu tiên là у chạy ngay đến khoe với tôi. Nhưng mãi sau này у mới chế được loại chân đó cơ. Đằng này, gã Lebedev còn quả quyết với tôi rằng người vợ quá cố của gã đã sống suốt đời bên gã mà không hề biết chồng lại mang một chân giả. Lúc tôi bảo chuyện đó sao mà điên rồ quá sức, thì gã trả lời rằng: “Nếu ông đã từng là kẻ hầu cận cho Napoleon vào năm 1812, thì ông cũng để cho tôi được chôn chân tôi tại Vagancovxki với chứ!”.
– Nhưng, thật ra thì ông có… - Hoàng thân lúng búng nói trong nỗi bối rối.
Ông tướng ngạo nghễ nhìn chàng với vẻ chế giễu. Ông đãi dài giọng:
– Cứ nói tiếp đi hoàng thân ạ. Cứ nói hết ý đi. Tôi không phiền đâu, cứ việc nói thẳng ra. Xin cứ nhận là ngài khoái chí với ý nghĩ được nhìn một kẻ đang xuống dốc và… vô tích sự, trong khi hắn lại còn kể cho ngài nghe rằng hắn đã là chứng nhân của những… biến cố trọng đại. Há gã chưa bao giờ lẻo mép với ngài về chuyện đó sao?
– Không đâu, Lebedev không có nói gì với tôi cả, nếu quả tình ông có ý nói về Lebedev…
– Hừ, tôi thì cho là trái lại. Thực ra câu chuyện của chúng tôi ngày hôm qua dẫn khởi từ một… bài báo lạ lùng trong tờ “Lưu trữ”. Tôi đề cập sự vô lý của bài báo, vì chính tôi có chứng kiến vụ đó… Kìa hoàng thân, ngài cười kìa, ngài lại nhìn vào mặt tôi nữa.
– Ô, không đâu, tôi…
– Trông mặt tôi thì vẫn còn trẻ lắm, - ông tướng nói, giọng đãi dài, - nhưng tuổi tôi thì già hơn mặt tôi nhiều. Năm 1812, tôi mới lên mười, hay mười một gì đó. Tôi không nhớ rõ tuổi tôi là bao nhiêu. Trong hồ sơ lý lịch thì tuổi tôi có giảm, và cái khuyết điểm của đời tôi là cứ muốn khai bớt tuổi.
– Thưa ông, tôi xin xác nhận với ông rằng tôi không hề ngạc nhiên về sự kiện ông có mặt tại Moskva vào năm 1812- dĩ nhiên ông có đủ tư cách để kể cho chúng tôi nghe những biến cố xảy ra vào thời đó- như bất cứ một kẻ đương thời nào có thể kể lại. Trong một tác phẩm tự thuật của một nhà văn[3] có thuật rằng vào lúc ông ta còn bế ngửa trên tay tại Moskva năm 1812, các binh sĩ Pháp đã nuôi ông ta bằng bánh mì.
– Đó, ngài thấy chưa? - Ông tướng biểu đồng tình bằng một giọng khoan dung. - Đã hẳn trường hợp cá nhân tôi cũng hết sức thông thường, dù không phải là không có chỗ bất thường nào. Sự thật bao giờ cũng có vẻ khó tin. Một viên hầu cận! Chuyện nghe ra có vẻ lạ lùng thật! Nhưng vào cái tuổi lên mười thì những trò mạo hiểm của trẻ con khả dĩ giải thích được chuyện ấy. Có thể việc đó không xảy ra với một thiếu niên mười lăm tuổi, vì nếu vào tuổi mười lăm, chắc tôi không hề rời căn nhà gỗ ở phố Basmanaia Cũ, lúc Napoleon tiến vào Moskva, chắc tôi không hề rời mẹ tôi nửa bước, vì bà cụ chậm chân không kịp trốn khỏi Moskva và cứ run rẩy vì sợ hãi. Vào tuổi mười lăm hẳn tôi đã phải sợ, nhưng vào cái tuổi lên mười, tôi chẳng sợ gì cả; tôi cứ len lách qua đám đông đến tận thềm cung điện đúng lúc Napoleon đang xuống ngựa.
– Đã hẳn ông nói có lý rằng vào tuổi lên mười, người ta chẳng sợ gì cả, - hoàng thân tán thành, chàng khổ sở và sợ hãi rằng chàng sắp đỏ mặt đến nơi.
– Thì đã hẳn vậy, mọi việc diễn ra thật đơn giản và tự nhiên như cuộc đời thực. Nhưng nếu một tiểu thuyết gia cầm bút viết về đề tài ấy, thế nào ông ta cũng thêu dệt đủ mọi chuyện bịa đặt vô lối.
– Ồ, đúng thế đó! - Hoàng thân reo lên. - Mới dạo gần đây, cũng tư tưởng đó đã đập mạnh trong trí tôi. Tôi biết có một vụ sát nhân có thật xảy ra vì một chiếc đồng hồ- vụ đó báo chí đã đăng tải. Giá có một tác giả nào bịa ra chuyện đó, chắc các nhà phê bình và nhà chức trách đã kêu ngay là vô lý; nhưng đọc tin tức có thật đăng trên báo về vụ đó, người ta lại cảm thấy rằng thực tại của đời sống người dân Nga đã được tạo dựng bằng chính những sự kiện đó! Thưa ông, ông đã nhận xét điều đó thật rất minh bạch. - Hoàng thân nồng nhiệt nói dứt, chàng hết sức mừng vì đã không sợ bị đỏ mặt nữa.
– Đúng chứ, há không phải thế sao? - Ông tướng reo lên, mắt ông bừng tia sung sướng. - Cái đứa bé con tí tẹo đó không biết nguy hiểm là gì cứ len lỏi qua đám đông để nhìn rõ quang cảnh huy hoàng, chói lọi, những bộ nhung phục, đoàn tùy tùng của hoàng đế, và cuối cùng- chính vị vĩ nhân ấy, con người ai ai cũng nhắc đến ấy. Vào thời kỳ đó suốt trong nhiều năm, người ta không nói gì khác hơn ngoài Ngài. Tên của Ngài phủ đầy thế giới. Có thế nói là tôi uống tên đó cùng với dòng sữa mẹ. Napoleon bước qua mặt tôi được hai bước thì chợt Ngài bắt gặp đôi mắt tôi. Tôi ăn mặc trang nhã như con trai một nhà quý tộc, người nhà may mặc cho tôi rất tươm tất. Chỉ có tôi là diện đẹp nhất trong đám đông, cho nên chắc Ngài tin được rằng…
– Hẳn điều đó phải đập mạnh vào mắt hoàng đế và cho Ngài thấy rằng không phải mọi nhà quyền quý đều bỏ đi hết, và vẫn còn đôi nhà quý tộc ở lại với con cái họ.
– Đúng vậy! Hoàng đế muốn thu phục những nhà quý tộc Nga. Khi đôi mắt diều hâu của Ngài hướng vào tôi, chắc hẳn là đôi mắt tôi cũng đã ánh lên tia trả lời rồi. “Voilà un garcon bien éveillé! Quy est ton père?”.[4] - Ngài hỏi. Tôi đáp ngay, gần muốn hụt hơi vì xúc động: “Một vị tướng đã hy sinh vì tổ quốc ngoài trận mạc”, “Le fils d’un boyard et d’un brave pardessus le marché! J’aime les boyards. M’aimes tu, petit?”.[5] Câu hỏi đã nhanh mà câu đáp của tôi cũng nhanh không kém: “Tâm hồn người Nga vẫn nhận ra được một vĩ nhân ngay trong hàng ngũ kẻ thù của xứ sở họ”. Đã hẳn tôi không nhớ rõ nguyên văn những lời tôi nói lúc đó, thuở ấy tôi còn trẻ con mà- nhưng đại ý tôi đã nói như vậy đó.
Napoleon kinh ngạc, Ngài suy nghĩ một lúc rồi phán cùng đoàn tùy tùng: “Ta mến lòng kiêu hãnh của đứa trẻ này. Nhưng nếu người Nga nào cũng suy nghĩ như nó, thì…”. Ngài không nói dứt câu và bước vào cung điện. Tôi liền theo chân đoàn tùy tùng và chạy theo Ngài. Họ nhường lối cho tôi và đã xem tôi như một bầy tôi được sủng ái. Mọi việc đó xảy ra trong chớp mắt. Tôi chỉ nhớ được lúc hoàng đế bước vào tiền sảnh, Ngài chợt dừng bước trước bức chân dung của nữ hoàng Caterina, Ngài trầm ngâm nhìn bức ảnh một lúc rồi tuyên bố: “Đây là một bậc nữ lưu vĩ đại!”, rồi Ngài lại bước tiếp. Trong vòng có hai ngày, mọi người tại điện Creml đều biết tôi và gọi tôi là “le petit boyard”.[6] Chỉ đến giờ ngủ tôi mới quay về nhà mà thôi. Cả nhà tôi gần điên lên vì chuyện đó. Hai hôm sau, một trong những kẻ hầu cận Napoleon là Nam tước De Basencour[7] đã chết đi vì không chịu đựng nổi những nỗi phong sương trên chiến địa. Napoleon nhớ đến tôi. Người ta triệu tôi đến cùng Ngài mà chẳng buồn cho biết lý do, họ mặc cho tôi bộ triều phục của đứa trẻ vừa chết- một đứa bé lên mười hai tuổi- lúc họ dẫn tôi vào bệ kiến hoàng đế trong bộ triều phục đó, Ngài gật đầu; bọn họ cho tôi biết hoàng đế đã ban ơn mưa móc cho tôi được vào làm kẻ hầu cận trong đoàn tùy tùng của Ngài. Tôi sung sướng lắm. Đã từ lâu lòng tôi như hướng về Ngài. Với lại, như ngài cũng tưởng tượng được, một cậu bé mà được diện bộ triều phục huy hoàng thế thì hách biết là đường nào. Tôi vận một áo cánh đuôi én, lục thẫm đính cúc vàng, hai tay áo nạm vàng, cổ áo cao, thẳng tắp, thêu chỉ kim tuyến đến tận đuôi áo; một chiếc quần trắng bó sát bằng da thuộc, một cánh gilê bằng lụa trắng, bít tất lụa, giày khóa sắt… lúc nào phò hoàng đế tuần du bằng ngựa, tôi lại mang ủng kỵ mã cao cổ. Dù tình hình chiến sự không có gì là sáng sủa và người ta đã thấy trước được những thảm họa lớn lao, nhưng vấn đề nghi lễ vẫn được bảo trọng rất mực! Thực vậy, càng nghi lễ đúng điệu bao nhiêu, họ càng ý thức được hiểm họa gần cận bấy nhiêu.
– Vâng, đã hẳn như vậy… - Hoàng thân thì thào, chàng bối rối hết sức. - Thiên hồi ký của ông thật… là kỳ thú lắm lắm.
Đã hẳn ông tướng chỉ lặp lại câu chuyện ông ta đã kể cho Lebedev nghe, nghĩa là ông lặp lại thật trôi chảy, lưu loát, thế nhưng đến điểm này, ông lại nhìn hoàng thân với đôi mắt nghi ngờ.
– Hồi ký của tôi à? - Ông lặp lại với một niềm kiêu hãnh gấp bội. - Tôi mà viết hồi ký sao? Đừng có cám dỗ tôi, hoàng thân ơi! Nếu ngài muốn biết thì tôi xin thưa với ngài rằng hồi ký tôi đã viết rồi, nhưng chúng… vẫn còn nằm ở bàn giấy. Khi nào tôi nhắm mắt dưới huyệt, người ta mới được xuất bản thiên hồi ký đó, chắc chắn nó sẽ được dịch ra nhiều thứ tiếng, không phải vì giá trị văn chương, nhưng vì tầm quan trọng về những biến cố trọng đại tôi đã là nhân chứng, dù là một nhân chứng bé con; mà thật, cũng nhờ còn trẻ con nên tôi mới vào được tận phòng ngủ của bậc vĩ nhân ấy! Đêm đêm tôi nghe tiếng than vãn của bậc anh hùng sa cơ ấy; người không thấy hổ thẹn khi than vãn, khóc lóc trước mặt một đứa trẻ, dù ngay lúc đó, tôi cũng hiểu được rằng người đau khổ vì sự nín lặng của hoàng đế Alexandr.
– Đúng vậy, người đã viết cho hoàng đế nhiều bức thư… cầu hòa, - hoàng thân e ấp tán đồng.
– Nói đúng ra chúng tôi cũng không biết Ngài viết những thư ấy để đề nghị gì, nhưng ngày nào Ngài cũng viết, viết hàng giờ, viết hết thư này đến thư khác. Một đêm kia, lúc chỉ còn hai chúng tôi, tôi sà đến bên Ngài, mắt chan hòa lệ (ôi, tôi yêu Ngài biết dường nào), tôi kêu lên cùng Ngài, “Ồ xin Hoàng thượng hãy cầu xin hoàng đế Alexandr tha thứ cho Ngài!”. Dĩ nhiên, đúng ra tôi phải nói là: “Xin hãy làm hòa với hoàng đế Alexandr”, nhưng vì là một đứa bé, nên tôi đã vụng về nói toạc ra hết ý nghĩ của tôi. “Ôi, hỡi con ta,”- ngài đáp, lúc đó Ngài đang đếm bước trong phòng. - “Ôi, hỡi con ta!”. - Hình như Ngài không nhận ra tôi mới lên mười tuổi, Ngài thích chuyện trò cùng tôi.
– “Ôi, hỡi con ta, ta sẵn sàng hôn bàn chân hoàng đế Alexandr; tuy nhiên, ta không bao giờ phôi pha được mối thù cùng vua nước Phổ và hoàng đế nước Áo. Ồ, nhưng mà con đâu có biết về chính trị!”. Ngài chợt như nhớ lại Ngài đang nói chuyện với ai, nên Ngài lại yên lặng, nhưng mắt Ngài vẫn rực lửa suốt một lúc lâu sau đó. Ôi, nếu tôi phải tả lại mọi sự việc này vì tôi là chứng nhân của những biến cố trọng đại bậc nhất đó, nếu tôi phải xuất bản thiên hồi ký của tôi lúc này, ôi, thôi chắc bao nhiêu những luồng phê bình, đủ mọi trò rởm văn chương, mọi trò ganh tị, mọi phe nhóm văn học và… ôi thôi, tôi xin ngài, không đâu, tôi xin cám ơn ngài đó.
– Về chuyện các phe nhóm văn học, quả thật ông nhận định rất đúng, tôi đồng ý với ông, - hoàng thân khẽ nói sau một lúc yên lặng. - Cách đây không lâu, tôi có đọc một tác phẩm của Charras[8] viết về chiến trận Waterloo. Tác phẩm đó đúng là một công trình trứ thuật đứng đắn, các nhà chuyên môn cho rằng người viết đã thấu suốt về đề tài ấy; nhưng trên từng trang sách một, người đọc thấy tác giả lấy làm khoái trá được hạ nhục Napoleon; và giá có chối bỏ được mọi dấu tích về tài năng của Napoleon trong các chiến trận khác của Người, chắc chắn Charras cũng rất sung sướng mà ra tay. Điều đó quả thật không tốt đối với một công trình nghiêm túc, vì nó nặng đầu óc phe đảng. Và ông đã thật hết sức bận rộn trong việc phụng sự… hoàng đế đấy chứ?
Ông tướng hởi lòng hởi dạ hết sức. Vẻ nghiêm trang, chân chất trong lời nói của hoàng thân đã làm tan biến những đợt hoài nghi cuối cùng còn sót lại trong ông.
– Charras à? Ồ, chính tôi cũng phải điên lên vì giận ấy chứ! Ngay lúc đó tôi còn viết cho у một bức thư nữa… Nhưng chuyện đó bây giờ tôi không còn nhớ rõ cho lắm. Ngài hỏi tôi có quá bận rộn trong việc phụng sự Đức ngài? Ồ không đâu, tôi được mang danh là kẻ hầu cận, nhưng ngay vào lúc đó, tôi cũng chẳng lấy gì làm trọng. Vả lại, rồi ra Napoleon cũng không còn chút hy vọng nào kéo nổi người Nga về phía mình, rồi có lẽ Ngài đã quên tôi là kẻ mà Ngài đã sử dụng chỉ vì lý do chính trị, nếu không bởi Ngài đã vì quý mến gì cá nhân tôi, bây giờ tôi dám nói quyết như vậy. Riêng phần tôi, lòng tôi quyến luyến cùng Ngài. Nhiệm vụ cũng không có gì ràng buộc, đòi hỏi. Thỉnh thoảng tôi có bổn phận hiện diện tại cung điện và… tháp tùng hoàng đế những lúc Ngài cưỡi ngựa tuần du, chỉ có thế thôi! Tôi cưỡi ngựa khá giỏi. Ngài có thói quen đi ngựa trước bữa ăn tối. Tháp tùng Ngài thường có Davuxt, tôi và Mameluke Ruxtan[9]…
– Conxtant chứ! - Hoàng thân nói, gần như miễn cưỡng.
– Kh… không, lúc ấy không có Conxtant ở đó. Y đang lãnh sứ mạng đi trao thư cho hoàng hậu… Josephine; thay thế chỗ của у có hai viên sĩ quan hầu và một ít thương kỵ binh Ba Lan. Vâng, đó là tất cả đoàn tùy tùng, không kể lớp tướng lĩnh và mấy vị nguyên soái mà Napoleon mang theo để cùng Ngài nghiên cứu địa thế, phối trí lực lượng và để tham khảo ý kiến họ. Theo chỗ tôi còn nhớ thì Davuxt là một kẻ sát cánh với hoàng đế nhất, ông là một con người khổng lồ, kềnh càng và trầm tĩnh, mắt đeo mục kỷnh và có một tia nhìn lạ kỳ. Hoàng đế thường hỏi ý kiến ông hơn bất cứ ai khác. Ngài coi trọng ý kiến của ông ấy. Tôi còn nhớ có một lần hai người đã thảo luận với nhau liên tục mấy ngày; Davuxt đến gặp hoàng đế sáng chiều; họ thường cãi lý với nhau nữa, nhưng rốt cuộc bao giờ Napoleon cũng chịu lép vế. Họ ngồi bên nhau trong văn phòng, tôi là kẻ thứ ba, dường như họ cũng chẳng buồn để ý đến tôi ở đó. Thế rồi, tia mắt Napoleon bất chợt thấy tôi và một tư tưởng kỳ lạ phản ánh qua tia mắt sáng ngời của Ngài, Ngài chợt bảo tôi: “Ồ con! Con nghĩ sao? Nếu ta trở lại đạo Chính thống và giải phóng các nông nô của các con thì người Nga có quy thuận ta hay không?”. Tôi phẫn nộ kêu lên: “Chẳng bao giờ!”. Napoleon đâm sửng sốt, Ngài phán: “Tia mắt của đứa trẻ này sáng lên lòng ái quốc, ta đã đọc được phán quyết của toàn dân Nga qua ánh mắt ấy. Thôi đủ rồi, Davuxt ạ. Các dự tính của ta chỉ là chuyện không tưởng. Hãy cho ta nghe một kế hoạch khác”.
– Đúng vậy! - Hoàng thân nói, thấy rõ là chàng rất chú tâm đến vấn đề, - nhưng trong kế hoạch đó cũng chứa đựng một tư tưởng thật lớn lao nữa. Vậy ra ông cho rằng đề nghị đó là của Davuxt chăng?
– Ít ra họ cũng có tham khảo ý kiến nhau. Dĩ nhiên, đó là một ý tưởng thuộc loại Napoleon, ý tưởng của chim ưng; nhưng trong kế hoạch của Davuxt cũng gói ghém một ý tưởng trác tuyệt. Kế hoạch nổi tiếng do Davuxt đưa ra mà chính Napoleon đã mệnh danh là “Conseil du lion”.[10] Kế hoạch đó chủ trương rằng toàn bộ quân đội Pháp nên cố thủ trong thành Creml, thiết lập đồn trại và các công sự phòng thủ, đặt đại bác ở các vị trí có thể tiêu diệt được tối đa các chiến mã để lấy thịt ướp muối, chiếm cho thật nhiều thóc lúa hòng chịu đựng qua suốt mùa đông và đợi mùa xuân đến sẽ đánh mở đường máu xuyên qua đạo binh Nga. Kế hoạch đó làm say mê Napoleon. Ngày nào chúng tôi cũng đi ngựa quanh thành quách Creml; Ngài thường chỉ cho thấy chỗ vách nào phải phá hủy, nơi nào phải đào lỗ châu mai, lỗ bán nguyệt, lập một hàng lô cốt. Một cái liếc mắt, một cái nhìn thoáng, một quyết định! Rốt cuộc mọi việc đã được giải quyết đâu vào đấy. Davuxt vẫn khăng khăng đòi hỏi một quyết định tối hậu. Họ lại ngồi với nhau và tôi là người thứ ba. Napoleon lại khoanh tay đếm bước trong phòng. Tôi không sao dứt được tia nhìn khỏi khuôn mặt Ngài, tim tôi đập bồi hồi. “Tôi sắp phải đi đây”, Davuxt bảo. Napoleon hỏi: “Đi đâu?” Davuxt đáp: “Đi muối thịt ngựa”. Napoleon rùng mình. Định mệnh đã được quyết định. Thình lình Ngài bảo tôi: “Này con! Con nghĩ sao về kế hoạch của chúng ta?”. Dĩ nhiên Ngài hỏi tôi như thể một bậc đại thông thái đôi khi hỏi vào một phút tối hậu, khi ông chỉ còn biết tin nơi sự rủi may của vận số. Thay vì trả lời Napoleon, tôi quay sang Davuxt và nói như được thần linh cảm ứng: “Thưa đại tướng, xin ngài hãy quay về xứ sở của ngài đi!”. Kế hoạch liền bị bãi bỏ. Davuxt nhún vai, vừa đi vừa lẩm bẩm: “Bahl! II devient superstitieux!”.[11] Ngày hôm sau, lệnh triệt thoái được ban bố.
– Điều này thật hết sức kỳ thú, - hoàng thân nói thật khẽ, - nếu quả sự thể là như thế… thì, - chàng vội chữa lời, - Ý tôi muốn nói…
– Ồ, hoàng thân ơi! - Ông tướng kêu lên, ông khoái chí vì câu chuyện ông kể cho đến nỗi đã hớ sờ sờ ra đó, nhưng ông ta chắc cũng không sao dừng lại nổi. - Ngài nói, “sự thể là như thế”, nhưng sự thể còn hơn thế nữa chứ, tôi dám cam đoan với ngài sự thể còn hơn thế nhiều lắm! Đây mới chỉ toàn là những biến cố chính trị nhỏ nhoi. Nhưng tôi xin lặp lại rằng chính tôi đã chứng kiến tận mắt những giọt lệ, những tiếng than vãn trong đêm của bậc đại nhân ấy, ngoài tôi ra không còn ai chứng kiến được cảnh ấy nữa. Sự thật, đến chung cuộc, Ngài không còn khóc nữa, Ngài chẳng còn nước mắt để khóc nữa, Ngài chỉ than vãn từng chập mà thôi; nhưng gương mặt Ngài càng lúc càng thêm ảm đạm. Cứ như thể sự vĩnh cửu đã phủ bóng đen trên Ngài. Đôi lúc về đêm, chúng tôi lặng lẽ ngồi bên nhau hằng giờ- lắm lúc Mameluke Ruxtan ngáy vang ở phòng kế cận, tên đó mỗi lần ngủ là ngáy như bò rống phát khiếp. Napoleon thường nói về у rằng: “Coi vậy chứ hắn đã cúc cung tận tụy với ta và triều đại ta”. Một lần kia, lúc tôi đang trong cơn tuyệt vọng đớn đau, Ngài chợt nhìn thấy mắt tôi đẫm lệ, Ngài nhìn tôi, xúc động bồi hồi, bèn kêu lên: “Ô, con thương xót cho ta! Ồ một đứa trẻ như con và có lẽ có một đứa trẻ khác cũng thấy thương hại cho ta, đó là con trai ta, le roi de Rome[12]. Còn ngoại giả, ai nấy đều ghét bỏ ta hết, đúng thế, các anh em ta là những kẻ đầu tiên bội phản ta, ruồng bỏ ta trong cơn hoạn nạn!”. Tôi khóc òa lên và lao đến bên Ngài, Ngài cũng không thể kìm lòng được thêm, chúng tôi ôm lấy nhau, nước mắt hòa lẫn vào nhau. Tôi thổn thức: “Xin Ngài hãy viết thư cho hoàng hậu Josephine[13] đi”. Napoleon giật mình, trầm ngâm một lúc rồi bảo tôi: “Con vừa nhắc ta nhớ đến một tâm hồn khác nữa biết yêu mến ta. Xin cám ơn con, người bạn của ta”. Thế rồi Ngài ngồi xuống và thảo thư cho Josephine. Ngày hôm sau Conxtant được phái đem bức thư ấy đi.
– Ông đã làm một nghĩa cử hết sức đẹp, - hoàng thân bảo, - giữa những nỗi khổ tâm ngổn ngang trăm mối của Ngài, ông đã giúp Ngài cảm thấy êm đềm.
– Đúng vậy đó, thưa hoàng thân, ngài diễn tả điều đó bằng những ngôn từ thật diễm lệ, thật giống với tâm hồn đôn hậu của ngài biết mấy! - Ông tướng khoái trá kêu lên và lạ lùng thay, những giọt lệ chân thành đã long lanh trên khóe mắt ông. - Vâng thưa hoàng thân, cảnh tượng đó thật vô cùng hùng tráng! Và ngài có biết không, chút nữa thì tôi đã đi Paris với Hoàng đế rồi, và chắc rồi tôi sẽ chia sẻ cảnh lưu đày cùng Ngài tại “hòn đảo ngục tù nghẹt thở”[14] đó rồi. Nhưng than ôi, định mệnh đã phân rẽ hai chúng tôi! Chúng tôi ai đi đường nấy, Ngài đi về hòn đảo ngột ngạt mà chắc không phải chỉ một lần trong những giờ thống khổ khủng khiếp, Ngài đã nhớ đến những giọt lệ của đứa bé khốn khổ đã ôm hôn Ngài và tha thứ cho Ngài tại Moskva. Còn kẻ kia là tôi thì được gửi đến liên đoàn học viên sĩ quan, ở đó tôi không còn tìm thấy gì khác hơn ngoài kỷ luật sắt và những tên bạn đồng khóa thô lỗ, trời đất ơi! Mọi sự đã biến ra tro bụi cả! “Ta không muốn đem con đi xa khỏi mẹ con đâu, ta sẽ không dắt con đi với ta đâu, - Ngài đã bảo tôi thế vào ngày triệt thoái, - nhưng ta muốn làm một vài điều cho con”. Ngài sửa soạn lên ngựa. “Xin Ngài hãy viết vài dòng lưu niệm cho con trong tập ảnh của em gái con đây”, tôi e ấp yêu cầu, vì lúc đó Ngài rất buồn bực, âu sầu. Ngài quay lại tôi, hỏi mượn quản bút, rồi cầm lấy tập ảnh. Nhấc bút lên, Ngài hỏi tôi: “Em gái con lên mấy?”. “Nó lên ba”, tôi đáp. Ngài bảo: “Petite fiell alors”,[15] rồi Ngài viết vào tập ảnh như sau:
Ne mentez jamais.
Napoléon, votre ami sincere.[16]
Hoàng thân ơi, ngài cứ thử tưởng tượng xem, vào một giây phút như thế đó mà Ngài vẫn còn khuyên được như vậy!
– Vâng, thật ý nghĩa lắm!
– Trang giấy đó được tôi lồng kính trong khung vàng và đặt ở một nơi trang trọng nhất trong phòng khách của em gái tôi cho đến ngày nó chết, chết trong khi sinh đẻ. Bây giờ tôi không biết kỷ vật ấy đã lạc đâu rồi, ngoại trừ… Ô, nhưng mà trời ạ, đã hai giờ mất rồi. Chà, hoàng thân ơi, tôi đã giữ ngài lâu quá đi mất, thật không thể tha thứ được.
Ông tướng đứng dậy khỏi ghế.
– Ồ, không đâu, trái lại là đàng khác, - hoàng thân ấp úng.
– Ông thật đã lôi cuốn tôi hết sức. vả lại, câu chuyện kỳ thú thật, tôi hết lòng cảm tạ ông.
– Ô, hoàng thân, - ông tướng nói, hai tay ông lại xoắn vào nhau cho đến đau cả tay, và cứ dán lấy người hoàng thân bằng đôi mắt long lanh, như thể ông đã tỉnh trí lại và thoạt nghĩ đến điều gì đó. - Hoàng thân ơi, ngài thật là tử tế và ngay thẳng đến nỗi lắm lúc tôi phải ái ngại cho ngài; tôi cảm động sâu xa mỗi khi nhìn ngài, ôi, xin Chúa ban phước cho ngài! Cho đời sống ngài được bắt đầu và đơm hoa kết trái… trong trời ân bể ái. Còn đời tôi thì bế mạc rồi. Ôi, xin ngài hãy tha thứ cho tôi. Vĩnh biệt ngài.
Ông cắm cúi đi ra, hay tay bụm lấy mặt. Hoàng thân không thể hoài nghi chút nào trước sự xúc động chân thật của ông. Chàng cũng nhận thấy ông đi ra mặt mày hớn hở vì đã thành công, tuy chàng cũng phần nào cảm thấy ông là một thứ người nói dối, dù chỉ nói dối cho sướng miệng, nói dối đến mức quên mình luôn, nhưng cả trong những phút phớn phở nhất, họ vẫn nghĩ rằng chắc chẳng ai tin họ, và quả thật, chẳng làm sao mà tin mấy ngữ đó được. Cứ như tâm tính vào lúc này, chắc ông lão đã tỉnh trí, đã chín nhừ người vì hổ thẹn, hẳn ông ta ngờ rằng hoàng thân đã thương hại ông thái quá nên ông cảm thấy bị xúc phạm. “Để ông ta ra đi trong hứng phấn như thế có phải là còn tệ hơn không?”. Hoàng thân băn khoăn tự hỏi; chợt không còn kìm được nữa, chàng phá lên cười như điên suốt mười phút đồng hồ. Chàng lại bắt đầu trách móc mình vì đã cười cợt, nhưng chàng lại nhận thấy ngay chàng chẳng có lỗi gì về cái cười đó cả, vì chàng thực tâm thương xót ông tướng vô hạn cơ mà.
Những nỗi lo âu của chàng đã tỏ ra đúng thật. Buổi chiều hôm ấy, chàng nhận được một mảnh giấy lạ lùng, viết vắn tắt, nhưng thật quả quyết. Ông tướng cho biết ông cũng xin xa chàng luôn, những rằng ông kính trọng chàng và biết ơn chàng, nhưng ngay tự bản thân chàng, ông cũng không muốn chấp nhận cái “chứng cớ về lòng thương hại nhằm làm nhục một con người mà phi lòng thương hại ấy, người ấy đã đủ khổ sở rồi”. Lúc hoàng thân hay tin ông lão đã về sống ẩn dật với Nina Aleksandrovna, chàng hầu như yên tâm về ông tướng. Nhưng như chúng ta đã thấy, ông tướng còn gây lắm điều rắc rối ở gia đình Lizaveta Prokofievna nữa. Chúng ta không thể đi sâu vào chi tiết ở đây, những tưởng cũng nên ghi nhận vắn tắt là kết quả của buổi hội kiến đó, ông tướng đã khiến Lizaveta Prokofievna khiếp hãi, và những lời bóng gió cay đắng của ông về Gania đã làm bà phẫn nộ. Ông bị lột trần mặt nạ một cách nhục nhã. Chính vì thế, ông đã trải qua một đêm và một buổi sáng điên loạn hết sức như vậy, rồi bỏ chạy ra đường như một kẻ mất trí.
Kolia vẫn không hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện và nó vẫn hy vọng có thể kìm chế được ông bằng cách dọa dẫm, lập nghiêm:
– Nào, thưa ba, bây giờ ngài tính chúng ta sẽ đi đâu đây? Ngài không muốn đến nhà hoàng thân, ngài đã cãi nhau với Lebedev rồi. Ngài không có tiền, tôi thì chưa bao giờ có lấy một xu, chúng ta như những kẻ cầu bơ cầu bất giữa đường giữa chợ thế này.
– Thà ta cầu bơ cầu bất hơn dây với bọn bẩn như cục đất! - Ông tướng lẩm bẩm. - Ta đã nổi đình đám với cái trò… chơi chữ đó giữa vòng các sĩ quan… đâu vào khoảng năm 44…, vào năm 18… 44, ờ phải! Mà ta cũng chẳng nhớ nữa, ồ, mà cũng chớ nhắc ta nhớ làm gì. Chớ có nhắc ta làm gì! “Tuổi xuân của ta đâu, thời son trẻ của ta đâu?”.[17] Này Kolia, ai đã nói thế nhỉ?
– Đó là văn của Gogol, trong tác phẩm Những linh hồn chết[18], - Kolia trả lời, vừa lo lắng nhìn ông bố.
– Những linh hồn chết! Ồ phải, chết! Khi nào con chôn ta, hãy nhớ ghi trên bia mộ ta như vầy: “Nơi đây yên nghỉ một linh hồn đã chết”. Sự nhục nhã cứ theo đuổi ta! Ai đã nói câu đó, hở Kolia?
– Con không biết, ba à!
– Eropegov không hề có thật! Erosca Eropegov! - Ông la lên như điên như cuồng, đứng ngay lại giữa đường. - Chà, chính con trai ta, chính con trai ruột rà của ta đã nói như thế đây! Eropegov, một người trong suốt mười một tháng trời đã đóng vai một người anh, vì cớ người anh đó ta đã chấp nhận một cuộc thách đấu. Hoàng thân Vưgoretxki, viên đại úy chỉ huy của ta, đã nói trong một cuộc đối ẩm: “Này Grisa, ông đã lĩnh cái huy chương thánh Anna của ông ở đâu vậy, nói ta nghe?”. “Trên khắp các mặt trận của đất nước tôi, tôi đã lĩnh huy chương trên các chiến trường ấy!”. Ta la lên: “Hoan hô Grisa! Hay, chuyện đó đã dẫn đến một cuộc quyết đấu, thế rồi sau đó anh ta lấy vợ. Anh ta lấy Maria Petrovna Su… Sutugina, rồi sau bị thương, chết trên chiến trường. Một viên đạn bật lại từ chiếc thập giá ta đeo trên ngực và bay thẳng vào trán anh ta. “Ta sẽ chẳng bao giờ quên!”. Anh ta kêu lên rồi ngã xuống chết. Kolia ạ, ta đã phục vụ với tất cả danh dự, ta đã phục vụ một cách xứng đáng, cao cả, nhưng nỗi nhục nhã… “Nỗi nhục nhã cứ theo đuổi ta!”. Con và Nina sẽ đến nấm mồ ta… “Nina tội nghiệp ơi!”. Ta thường gọi bà như vậy đó, Kolia ạ, ta đã gọi bà như thế ngày xửa ngày xưa và bà thích ta gọi thế lắm… Nina ơi, hỡi Nina, ta đã làm được những gì cho đời em? Em có thể yêu được ta ở cái chỗ nào, hỡi tấm linh hồn khốn khổ triền miên kia? Kolia ơi, tâm hồn của mẹ con quả thật là tâm hồn của một thiên thần, con đã nghe chưa, một thiên thần đó!
– Thưa ba con biết mà, ba ơi xin ba hãy về với mẹ đi! Mẹ đang chạy theo chúng ta kìa. Ồ, sao ba cứ đứng trơ ra đó? Há ba không hiểu sao? Chà, tại sao ba lại khóc lóc như vậy?
Rồi Kolia cũng đầm đìa nước mắt và hôn tay ông bố.
– Con hôn tay ta… tay của ta à?
– Vâng, tay của ba. Có gì đáng ngạc nhiên đâu? Này, mà sao ba lại đứng giữa đường phố khóc lóc thế kia? Vậy mà ba vẫn tự hào là một vị tướng, một quân nhân cơ đấy. Nào, ta đi chứ, ba!
– Này, thằng bé yêu dấu, xin Chúa ban phước cho con, vì con đã kính trọng một kẻ nhuốc nhơ, phải nhớ, một lão già nhuốc nhơ và bần cùng như ta là cha của con. Ôi, ước gì mi cũng có được một đứa con như le roi de Rome. Ôi, “ta chửi vào cái nhà này, ta nguyền rủa vào cái nhà này!”.
– Nhưng chuyện gì thế này? - Kolia nổi cáu la lên. - Có việc gì vậy? Tại sao bây giờ ba lại không muốn về nhà? Tại sao ba lại giở chứng loạn trí ra vậy?
– Để đó, rồi ta sẽ cắt nghĩa cho con rõ… Ta sẽ bảo tất cho con biết mà. Chớ có la lối, thiên hạ người ta nghe thấy bây giờ le roi de Rome… Ồ, tôi nghẹt thở, tôi khổ đau! Ôi, nhũ mẫu ơi, nấm mồ của vú đâu rồi?[19] Câu đó của ai, hả Kolia?
– Con không biết, con không biết câu đó của ai cả! Ta hãy về nhà, về ngay bây giờ đi. Nếu cần, con sẽ tẩn cho Gania một trận… Ba tính đi đâu bây giờ chứ?
Ông tướng kéo nó đến trước bậc cấp của một ngôi nhà.
– Ba đi đâu vậy? Nhà của người lạ mà.
Ông tướng ngồi xuống bậc cấp, ông cứ kéo Kolia về phía mình.
– Này, cúi xuống, cúi xuống, - ông ta thầm thì, - ta sẽ nói hết cho con nghe…
– Nhưng chuyện gì mới được chứ? - Kolia hốt hoảng quá, kêu lên, nhưng nó vẫn nghiêng tai qua nghe ngóng.
– Le roi de Rome… - Ông tướng lại lẩm nhẩm mấy tiếng đó, người cứ run như cầy sấy.
– Cái gì? Sao ba cứ nói hoài, nói mãi mấy tiếng le roi de Rome làm gì vậy? Mấy tiếng đó là nghĩa gì?
– Ta, ta… - Ông tướng lắp bắp, tay ông ta càng bấu chặt vào vai cậu con hơn nữa. - Ta muốn… kể cho con nghe hết mọi chuyện… Maria Petrovna Su… Sư… Sư…
Kolia dứt người ra, nắm lấy vai ông tướng và nó thất thần nhìn vào mặt ông. Người ông tướng đã tím ngắt lại, môi tái xanh, những đợt run rẩy yếu ớt lướt qua khuôn mặt ông. Chợt người ông lảo đảo ra phía trước rồi khẽ rơi vào đôi tay Kolia.
– Bị máu xâm rồi! - Kolia hét lớn giữa đường, rốt cuộc, nó đã hiểu được chuyện gì xảy ra.
❀ ❀ ❀
[1] Năm 1812, Napoleon Đệ nhất đem khoảng nửa triệu quân sang đánh nước Nga. Dân Nga dưới thời Alecxandr Đệ nhất đã lợi dụng thời tiết lạnh và chiến thuật vườn không nhà trống để chống lại. Quân Napoleon vào được Moskva rồi phải rút lui, bị phục kích và đánh tập hậu, còn hai vạn quân phải bỏ chạy.
[2] Đây là “văn mộ chí” do N. M. Caramzin sưu tầm năm 1712. Theo ước nguyện của gia đình Dostoievxki, những lời văn này được khắc trên bia mộ mẹ của nhà văn.
[3] Ý nói hồi ký Quá khứ và trầm tư(1852-1868) của A. I. Gerxen.
[4] Một cậu bé hoạt bát làm sao! Cha của em là ai? (tiếng Pháp trong nguyên bản).
[5] Con trai của một quý tộc, thêm nữa là một quý tộc dũng cảm. Ta yêu các nhà quý tộc. Ngươi yêu ta không, cậu bé? (tiếng Pháp trong nguyên bản).
[6] Nhóc con (tiếng Pháp trong nguyên bản).
[7] Jan De Basencour: nam tước, một tướng của Pháp, tham gia cuộc hành binh của Napoleon đánh nước Nga năm 1812.
[8] Charras (1810-1865): nhà chính trị người Pháp theo đường lối tư sản tự do, nhà lịch sử quân đội, viết tác phẩm Lịch sử chiến dịch Waterloo năm 1815.
[9] Davuxt (1770-1845): thống chế quân đội, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh thời Napoleon Đệ nhất; Mameluke Rustan (1780-1845): cận vệ được tin yêu của Napoleon Đệ nhất. Mameluke: là một danh hiệu cao quí được kế thừa trong quân đội ở Ai Cập và Xiri từ thế kỷ XIII-XVI.
[10] Lời khuyên của sư tử (tiếng Pháp trong nguyên bản).
[11] Chà! Ngài trở nên mê tín rồi (tiếng Pháp trong nguyên bản).
[12] Hoàng đế La Mã (tiếng Pháp trong nguyên bản). Ý nói Napoleon Đệ nhất phong cho con trai của mình là Jozeph Franxoa Sari (1811-1832) làm hoàng đế La Mã.
[13] Josephine: vợ đầu của Napoleon Đệ nhất (ly hôn năm 1809).
[14] Conxtant: người hầu cận yêu quý của Napoleon, được nhắc đến trong nhiều tác phẩm văn học và lịch sử nói về hoàng đế Napoleon Đệ nhất.
[15] Vẫn còn là bé con (tiếng Pháp trong nguyên bản).
[16] Đừng bao giờ lừa dối! Napoleon, người bạn chân thành của con (tiếng Pháp trong nguyên bản).
[17] Câu trích không chính xác từ tác phẩm Những linh hồn chết của N. Gogol. Đúng ra phải nói: “Ôi tuổi xuân của ta! Ôi thời son trẻ của ta!”.
[18] Những linh hồn chết: tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Nga Nicolai Gogol, mô tả sinh hoạt và phong tục xã hội đồng quê.
[19] Trích từ trường ca Sự hài hước chưa viết xong của nhà thơ Nga Ogarev (1840-1877).