Một giờ sau, hoàng thân đã có mặt tại thành Petersburg. Chín giờ hơn, chàng đến giật chuông cửa nhà Rogojin. Chàng bước vào cổng chính đợi suốt một lúc lâu, chẳng thấy ai ra hết. Rốt cuộc, cửa phòng nơi chái bà cụ thân mẫu Rogojin trú ngụ hé mở, một bà vú già trông thật tươm tất hiện ra.
– Parfen Semionyts không có nhà, - bà vú đứng ở ngạch cửa nói với ra. - Ông muốn hỏi ai?
– Parfen Semionyts.
– Ông chủ không có nhà ạ.
Bà vú nhìn hoàng thân thật kĩ với vẻ tò mò lắm.
– Nhưng ít ra bà cũng cho tôi biết được buổi tối ông ta có ở nhà không chứ? Và… ngày hôm qua, ông ta đã trở về đây một mình, phải không?
Người đầy tớ cứ nhìn ngài, nhưng không đáp.
– Nastasia Filippovna… không có… về đây với ông ta… đêm qua sao?
– Nhưng xin lỗi, ông là ai mới được chứ?
– Hoàng thân Lev Nikolaevits Myskin, tôi và ông nhà quen biết nhau lắm.
– Ông chủ không có nhà, thưa ngài.
Người vú già nhìn xuống đất.
– Còn Nastasia Filippovna?
– Tôi không biết gì hết, thưa ngài.
– Hượm chút đã! Bà có biết bao giờ ông ta trở về không?
– Tôi cũng không biết nữa.
Cánh cửa đóng sầm lại.
Một giờ sau, hoàng thân quyết định quay lại đó lần nữa. Nhìn vào trong sân, chàng bắt gặp người gác cổng.
– Parfen Semionyts có nhà không?
– Thưa có.
– Sao người nhà lại bảo tôi ông ta đi vắng?
– Người bên chái nhà ông chủ ở bảo ngài thế à?
– Không, bà vú của thân mẫu ông ta bảo tôi thế; tôi có giật chuông bên chái nhà Parfen Semionyts ở, nhưng chẳng ai trả lời cả.
– Vậy chắc ông ta đi khỏi rồi, - người gác cổng bảo. - Ông ta có đi đâu, cũng chẳng bảo ai biết, lắm lúc ông ta còn mang cả chìa khóa đi, mấy phòng của ông ta cứ khóa cửa im ỉm như thế suốt ba ngày liền.
– Ông có chắc hôm qua ông ấy có về nhà không?
– Chắc chứ. Có điều, đôi lúc ông ta đi vào bằng lối cổng chính thì tôi không thấy được.
– Nastasia Filippovna có về với ông ta tối qua không?
– Tôi không biết nữa. Cô ta ít khi đến đây lắm. Nếu cô ta có đến, hẳn tôi phải biết rồi.
Hoàng thân quay ra, chàng đi tới đi lui trên vỉa hè một lúc, suy nghĩ lung lắm. Mấy cửa sổ bên nhà Rogojin đóng kín như bưng; còn bên chái nhà mẹ gã ở, các cửa đều mở toang. Ngày hôm đó, trời nắng oi ả - hoàng thân bước sang bên kia vệ đường, dừng lại nhìn mấy khung cửa sổ thêm một lần nữa: Các cửa chẳng những đóng kín im ỉm mà mành che còn buông xuống hết.
Chàng đứng đó đâu khoảng một phút và lạ lùng thay, hình như chàng chợt thấy có ai vén mành cửa sổ lên rồi gương mặt Rogojin thoạt hiện, thoạt biến trong khoảnh khắc. Chàng đợi thêm giây lát và quyết định đến giật chuông nữa, nhưng chàng lại đổi ý chờ đến một giờ sau. “Ai mà biết? Chắc ta chỉ tưởng tượng ra đấy thôi…”.
Việc cần thiết của chàng bây giờ là đi ngay đến khu gia binh trung đoàn Izmailovxki, nơi Nastasia Filippovna cư ngụ sau cùng. Chàng được biết vào ba tuần lễ trước, thể theo lời yêu cầu của chàng, Nastasia Filippovna đã rời khỏi Pavlovsk đến sống tại nhà một người bạn cũ của nàng, góa phụ một giáo chức và là người mẹ khả kính của một gia đình đông đúc, bà cụ cho thuê một căn nhà đầy đủ tiện nghi và bà đã sống nhờ vào đó. Rất có thể lúc nàng trở lại Pavlovsk, nàng vẫn còn giữ mấy phòng đó. Rất có thể nàng đã nghỉ đêm tại phòng này, tối hôm trước chắc chắn Rogojin phải đem nàng về đây chứ không còn đâu nữa. Trên đường đi, chàng chợt nghĩ lẽ ra chàng phải đến nơi đó ngay từ đầu, vì biết đâu nàng đã chẳng từ đó đến thẳng nhà Rogojin vào lúc chập tối. Chàng cũng nhớ lại lời người gác cổng bảo rằng Nastasia Filippovna ít khi đến đó lắm. Nếu nàng ít khi lui tới đó, thì lẽ nào nàng lại đang ở đó bây giờ? Những ý nghĩ khích lệ ấy đã giục giã lòng chàng. Rốt cuộc, thẫn thờ như người chết rồi chàng đi đến khu gia binh trung đoàn Izmailovxki.
Đến nơi chàng hết sức ngạc nhiên vì ở nhà bà giáo đó không ai hay biết gì về Nastasia Filippovna, cả ngày hôm đó lẫn hôm trước. Cả gia đình bà chạy túa ra như ong vỡ tổ nhìn chàng như một hiện tượng lạ. Tất cả gia đình bà giáo - các cô con gái tuổi từ bảy đến mười lăm - đổ ra theo sau bà mẹ vây xung quanh chàng, há hốc mồm ra nhìn chàng. Theo sau các cô con gái là dì của họ, một thiếu phụ gầy gò vàng vọt, quấn khăn đen, rồi đến bà nội của lũ trẻ xuất hiện: Một bà cụ già loắt choắt, đeo mục kỉnh. Bà giáo khẩn khoản mời chàng vào nhà ngồi xuống, hoàng thân đáp lời mời. Chàng đoán ngay gia đình này đã biết chàng quá, họ biết rõ hôm qua là ngày cưới của chàng nên náo nức muốn hỏi thăm về lễ cưới, và về lý do lạ lùng tại sao chàng lại đến đây hỏi thăm về người đàn bà lẽ ra phải đang ở cùng chàng tại Pavlovsk, nhưng vì lịch sự nên họ không nói ra. Để thỏa mãn tính hiếu kỳ của họ, hoàng thân đã tóm tắt vài lời về lễ cưới. Họ nghe xong đều kêu lên sửng sốt cho nên chàng đành phải thuật lại đầu đuôi câu chuyện. Các bà các cô đầy khôn ngoan và xúc động đó hội họp lại, và cuối cùng quyết định rằng việc đầu tiên chàng phải làm là đến gõ cửa nhà Rogojin và hỏi thăm cặn kẽ về mọi chuyện. Nếu gã không có nhà (điều này phải tìm hiểu cho thật chắc chắn) hoặc giả gã không chịu hé môi điều gì, lúc đó chàng phải đến khu gia binh trung đoàn Xemionovxki tìm một thiếu phụ người Đức, bạn của Nastasia Filippovna, cô ta đang ở với mẹ. Có lẽ trong lúc tâm thần xao xuyến và muốn ẩn mặt, Nastasia Filippovna đã qua đêm ở đó cũng nên.
Hoàng thân đứng lên, người muốn quỵ hẳn xuống, mấy bà này về sau có cho biết rằng trông chàng “tái mét cả người”, chân đứng không muốn vững nữa. Cuối cùng, qua giọng nói lí nhí chói tai của họ, chàng hiểu họ toan thuyết phục chàng cùng họ hành động và hỏi thăm địa chỉ của chàng ở ngoài phố. Chàng chẳng có địa chỉ nào cả, thế cho nên họ khuyên chàng nên ngụ ở khách sạn đâu đó. Hoàng thân nghĩ ngợi giây lát rồi cho địa chỉ khách sạn cũ của chàng, nơi chàng bị lên cơn năm tuần lễ trước đó. Rồi chàng lên đường trở lại nhà Rogojin.
Lần này, cả nơi phòng Rogojin lẫn bên chái nhà thân mẫu gã ở chẳng có ai trả lời chàng hết. Hoàng thân đi tìm người gác cổng và phải khó khăn lắm mới trông thấy ông ta trong sân; người gác cổng đang bận rộn, chỉ trơ mắt ra ngó chàng chẳng buồn đáp; thế nhưng ông ta đã quyết rằng: “Parfen Semionyts đã đi xuống Pavlovsk từ sáng sớm rồi, hôm nay ông ta sẽ chưa về đâu”.
– Tôi sẽ đợi. Có thể tối ông ta về cũng nên?
Cũng có thể ông ta sẽ vắng nhà cả tuần, ai mà biết được!
– Nhưng ít ra đêm qua ông ta đã nghỉ ở đây chứ?
– Vâng ngủ… thì có…
Câu chuyện nghe sao mờ ám quá, có một vẻ gì không ổn trong đó. Người gác cổng chắc mới được chủ dặn dò nên miệng cứ câm như hến, chứ trước đây, у ba hoa chích chòe lắm. Tuy vậy, hai giờ sau, hoàng thân quyết định quay lại một lần nữa và nếu cần, chàng sẽ đứng canh chừng; thế nhưng lúc này chàng vẫn còn đặt hy vọng nơi nhà thiếu phụ người Đức nên chàng vội rảo bước đến khu gia binh trung đoàn Xemionovxki đã.
Nhưng tại nhà thiếu phụ người Đức, người ta thậm chí không hiểu chàng muốn gì. Qua đôi ba tiếng người thiếu phụ thốt ra, chàng còn đoán được người đàn bà Đức xinh đẹp này vừa có xích mích với Nastasia Filippovna cách đó nửa tháng, cô ta không hay biết gì về nàng từ dạo đó và cô ta còn cố tình tỏ cho hoàng thân hiểu rằng, cô ta chẳng còn muốn nghe nhắc đến Nastasia Filippovna nữa, cho dù “nàng ta có lấy khắp mặt ông hoàng trên thế giới này cũng mặc!”. Hoàng thân cun cút đi ngay. Với bao nhiêu tư tưởng hỗn độn, chợt một ý nghĩ lóe ra trong trí hoàng thân rằng biết đâu nàng lại không đi Moskva như dạo trước đây, và chắc hẳn Rogojin đang đi tìm hay đang ở cùng nàng cũng nên. “Ít nhất ta cũng có được chút manh mối để tìm nàng”. Bận trí như vậy, nhưng chàng vẫn nhớ phải thuê một phòng khách sạn, chàng liền vội vàng đi đến đại lộ Liteinưi, đến nơi chàng thuê ngay được một phòng. Tên bồi phòng hỏi ngài có ăn uống gì không, chàng thẫn thờ đáp có, thế rồi chàng lại đâm giận mình vì bữa ăn đó làm mất của chàng thêm nửa tiếng đồng hồ nữa, mãi sau chàng mới chợt nhớ ra là có ai bắt chàng phải ăn đâu, chàng cứ việc bỏ không ăn vẫn được cơ mà. Trong dãy hành lang tối tăm, ngột ngạt ấy, một cảm giác lạ lùng chợt xoắn lấy chàng, một cảm giác cứ vùng vằng muốn thành hình một ý tưởng nhưng cái ý tưởng phôi thai ấy chàng chịu không làm sao giải thích nổi. Lúc bước ra ngoài khách sạn, chàng như không còn là chàng nữa; đầu óc chàng quay cuồng: chàng đi đâu đây mới được chứ? Chàng tất tả nhằm hướng nhà Rogojin đi đến nữa.
Rogojin chưa về; cũng chẳng ai ra trả lời lúc chàng giật chuông. Chàng giật chuông nơi cửa phòng thân mẫu Rogojin, người nhà ra mở cửa và cũng bảo chàng rằng Parfen Semionyts không có nhà, có lẽ ba hôm nữa chưa chắc ông ta đã về. Vẫn như trước, người ta nhìn soi mói quá đỗi đã khiến hoàng thân khó chịu. Lần này, chàng không tìm thấy người gác cổng đâu hết. Chàng bước ra, cũng như lần trước, băng qua vệ đường đối diện, đứng nhìn mấy khung cửa sổ, rồi chàng cứ bước tới, bước lui giữa tiết trời oi ả suốt nửa giờ đồng hồ hay lâu hơn nữa; lần này, chẳng thấy động tĩnh gì cả; cửa sổ vẫn kín bưng, mấy bức rèm màu trắng vẫn im lìm. Chàng đã tin chắc là lần trước chàng chỉ tưởng tượng ra mà thôi; lại nữa, mấy cánh cửa sổ ấy đen kịt và đã từ lâu lắm chẳng ai chùi rửa, nên dù có ai đứng trong nhìn ra cũng khó lòng mà thấy được. Ý nghĩ đó khiến chàng an lòng, chàng lại quay về nhà bà giáo góa ở khu gia binh trung đoàn Izmailovxki.
Gia đình đó đang trông đợi chàng. Bà góa phụ đã đi đến ba bốn nơi, thậm chí ghé qua cả nhà Rogojin nữa, nhưng không tìm thấy dấu vết gì. Hoàng thân lẳng lặng nghe, bước vào phòng, ngồi xuống tràng kỷ rồi nhìn họ khắp lượt, cứ như thể chàng không hiểu họ đang nói gì nữa. Kể cũng lạ: Lúc thì chàng tinh tường đặc biệt, lúc thì bất chợt chàng lại đâm ra đãng trí quá thể. Sau này, cả nhà đó đều cho biết rằng hôm ấy, chàng thật “lạ lùng quá đỗi”, và “có lẽ ngay từ lúc đó, ngài đã đâm mất trí rồi cũng nên”. Cuối cùng, chàng đứng lên yêu cầu họ cho chàng xem mấy gian phòng Nastasia Filippovna đã từng ở. Đó là hai gian phòng rộng rãi, cao ráo, sáng sủa, trang trí thật đẹp mắt và chắc chắn là tiền thuê phải đắt rồi. Sau này, mấy bà đó thuật lại rằng hoàng thân xem xét kĩ lưỡng từng món bày biện trong phòng, và thấy trên bàn có quyển tiểu thuyết Pháp “Madame Bovary”[1] mượn ở thư viện, còn mở ngỏ, gấp lại nơi góc trang, chàng liền xin phép mang cuốn sách ấy đi, và cứ bỏ vào túi, bất chấp sự phản đối, rằng quyển sách là của thư viện. Rồi chàng ngồi xuống cạnh một cánh cửa sổ mở, nhác thấy một chiếc bàn đánh bài có vết phấn viết chi chít, chàng hỏi: Ai đã đánh bài ở đây?”. Mấy người kia cho chàng biết mỗi tối Nastasia Filippovna đều đánh bài cùng Rogojin, họ chơi bài “điên”, bài cẩu, bài xoáy, bài whist vv… - thôi thì đủ thứ bài, họ mới nhiễm thú đánh bài dạo gần đây thôi, sau lúc nàng rời Pavlovsk trở về Petersburg, vì Nastasia Filippovna cứ phàn nàn là nàng buồn chán quá. Số là Rogojin cứ ngồi lì suốt tối không nói năng gì và gã cũng chẳng biết chuyện gì để nói, và nàng thường cứ khóc hoài; tối hôm sau, Rogojin chợt rút trong túi ra một cỗ bài, lập tức Nastasia Filippovna cười vang, rồi hai người bắt đầu đánh. Hoàng thân hỏi: Cỗ bài họ chơi đâu rồi?”. Nhưng chẳng thấy bài đâu, vì bao giờ Rogojin cũng thủ bài trong túi gã, mỗi ngày gã đem đến một cỗ bài mới, rồi sau lại mang đi.
Mấy bà này khuyên hoàng thân nên đến nhà Rogojin một lần nữa và gõ cửa cho rõ to vào, nhưng “đợi đến tối hãy đi chứ đừng đi bây giờ: Chắc có lẽ sẽ có điều mới lạ chăng?”. Bà giáo góa tự nguyện đích thân bà sẽ xuống Pavlovsk ngay hôm ấy, đến nhà Daria Alekseevna: xem đằng ấy có biết được tin tức gì không? Họ mời hoàng thân trở lại lúc mười giờ tối hôm đó, ít ra, thì cũng để vạch chương trình hành động cho ngày hôm sau. Mặc cho mọi lời an ủi, khích lệ chàng, nhưng tâm hồn chàng vẫn nặng trĩu tuyệt vọng. Chàng bách bộ về khách sạn trong nỗi đớn đau khôn xiết. Bụi bặm và sự ngột ngạt của tiết hè Petersburg như bóp nghẹt con người chàng, chàng lách đi giữa những tên thô lỗ, hoặc say khướt: Chàng nhìn chăm chăm vô mục đích vào mặt mũi những người qua lại như người mất hồn và có lẽ chàng đã đi quá xa một cách không cần thiết. Lúc chàng về đến khách sạn, trời đã nhá nhem tối. Chàng nhất định đi nghỉ trong chốc lát rồi sẽ đến nhà Rogojin lần nữa, như người ta đã khuyên chàng; ngồi xuống đi văng, chàng chống hai khuỷu tay lên bàn, đắm mình trong suy tưởng.
Chỉ có trời mới biết chàng ngồi đó bao lâu và chàng nghĩ gì. Có nhiều điều khiến chàng lo sợ, và chàng cảm thấy đau đớn và khổ sở mà nhận ra rằng chàng sợ hãi quá. Chàng nghĩ đến Vera Lebedeva, rồi chợt chàng tự hỏi biết đâu Lebedev lại không biết đôi điều về việc này, mà nếu không biết, lão vẫn sẽ biết được nhanh chóng và dễ dàng hơn chàng nhiều. Và chàng nhớ đến Ippolit và sự kiện Rogojin thường lui tới thăm hắn. Thế rồi chàng nghĩ tới Rogojin: Mới đây vào dịp đám tang, trong công viên, rồi - bất chợt ngay trong hành lang ở đây, khi gã đã ẩn mình trong góc và thủ dao chờ chàng. Chàng nhớ lại đôi mắt gã vào lúc đó đã trừng trừng nhìn chàng trong bóng tối. Chàng rùng mình: Ý tưởng vừa trước đây chưa được gọi tên bây giờ thoắt trở lại rõ ràng trong trí chàng.
Đại khái ý nghĩ đó như thế này: Giả thử Rogojin có mặt tại Petersburg, dù gã có ẩn mặt một thời gian đi nữa, thế nào rồi gã cũng đến tìm chàng, với hảo ý hoặc ác ý, như gã thường hành động trước đây. Ít ra, giá Rogojin có thấy cần phải đến, thì gã cũng chẳng biết đi đâu khác, ngoài nơi đây, đến cái hành lang này. Gã không biết địa chỉ của chàng, cho nên chắc thế nào gã cũng nghĩ chàng lại trọ ở khách sạn cũ; ít ra gã cũng sẽ đến kiếm chàng tại đây, nếu gã cần gặp chàng rất gấp. Nào ai biết được, rất có thể gã lại rất cần chàng ấy chứ?
Đại để chàng nghĩ như vậy, và không hiểu sao chàng lại cho rằng ý nghĩ đó là hoàn toàn có thể. Giá như chàng có ngẫm nghĩ sâu hơn, chắc chàng cũng không thể nào giải thích được ý nghĩ đó: “Tại sao, chẳng hạn, chàng lại trở nên thật cần thiết cho Rogojin và tại sao lại không thể có chuyện là họ sẽ không cùng nhau tái ngộ”. Nhưng ý nghĩ này thực nặng nề: “Nếu ông ta cảm thấy thoải mái, hẳn ông ta sẽ chẳng đến, - chàng lại nghĩ tiếp. - Ông ta chỉ đến khi cảm thấy tồi tệ thôi, mà chắc chắn ông ta đang khốn đốn đây…”.
Đã hẳn với niềm tin quyết đó, chàng cứ việc ngồi tại phòng mà chờ đợi Rogojin đến; thế nhưng như thể không sao chịu nổi ý nghĩ mới mẻ ấy, chàng nhổm dậy, vớ lấy mũ rồi tất tả chạy ra. Hành lang nhập nhoạng bóng tối: “Nếu gã bất thần từ xó kia bước ra và chặn ta lại cạnh cầu thang thì sao đây?”. - Chàng chợt nghĩ như thế lúc bước đến chỗ chàng đã quen biết. Nhưng chẳng có ai bước ra hết. Chàng bước qua cổng, ra ngoài hè phố, chàng lấy làm lạ trước đám người đông như kiến đổ ra đường phố vào lúc hoàng hôn (một cảnh quen thuộc của Petersburg vào dịp nghỉ hè), và cứ nhằm hướng đường Gorokhovaia mà đi tới. Đến ngã tư thứ nhất cách khách sạn khoảng năm mươi bước, một kẻ trong đám đông chợt đụng nhẹ nơi khuỷu tay chàng, và nói khẽ sát vào tai chàng:
– Này, người anh em Lev Nikolaevits, hãy đi theo tôi, tôi đang cần ngài.
– Kẻ ấy là Rogojin.
Thật là lạ lùng: Hoàng thân bỗng mừng rỡ kể cho gã nghe bằng một giọng vấp váp muốn không thành tiếng rằng chàng vừa chờ gặp gã trong hành lang khách sạn.
– Thì tôi mới ở đó mà, - Rogojin trả lời thật bất ngờ, - thôi chúng ta đi nào.
Hoàng thân ngạc nhiên trước câu trả lời của gã, nhưng chỉ mãi hai, ba phút sau mới ngạc nhiên, lúc đã lĩnh hội được ý nghĩa câu đáp đó, chàng đâm ra sợ hãi và cứ nhìn Rogojin chằm chặp. Gã này đi trước đó nửa bước, không hề liếc khách qua đường và còn thận trọng tránh lối cho họ đi một cách máy móc nữa.
– Tại sao ông đến khách sạn… mà không hỏi gặp tôi trong phòng? - Hoàng thân đột nhiên hỏi.
– Rogojin dừng bước nhìn hoàng thân, nghĩ ngợi một lúc, có vẻ như gã chưa hiểu được câu hỏi, rồi đáp:
– Này Lev Nikolaevits, nghe đây nhé, ngài cứ việc đi thẳng đến nhà đi nhé, ngài biết rồi đấy chứ? Còn tôi, tôi sẽ đi bên kia đường. Chúng ta cứ nương bước nhau mà đi.
Nói xong, gã băng qua bên kia đường, vừa nhìn lại xem hoàng thân có bước theo không. Nhìn thấy chàng vẫn đứng tần ngần ở đó trố mắt nhìn gã, gã ra dấu chỉ hướng đường Gorokhovaia rồi tiếp tục đi, cứ mỗi phút lại ngoái lại ngó hoàng thân và mời chàng đi theo gã. Rõ ràng gã phấn khởi khi thấy hoàng thân đã hiểu được ý gã và không băng qua đường với gã. Hoàng thân chợt nghĩ Rogojin hẳn đang phải theo dõi một người nào đó và gã không muốn mất dấu, nên gã mới băng qua hè phố bên kia. “Có điều tại sao gã lại giấu không cho ta biết gã tìm kiếm ai thế?”. Hai người cứ thế mà đi đâu được năm trăm thước, thế rồi đột nhiên chẳng hiểu sao, hoàng thân phát run lẩy bẩy. Dù không liên tục như trước nữa, nhưng Rogojin thỉnh thoảng vẫn ngoái lại; hoàng thân không còn chịu nổi nữa nên chàng ra dấu gọi gã. Rogojin lập tức băng qua đường tới chỗ ngài.
– Nastasia Filippovna có ở nhà ông không?
– Có.
– Và có phải sáng nay ông đã đứng nhìn tôi sau bức mành đó không?
– Đúng thế.
– Sao ông lại…
Nhưng rồi hoàng thân không còn biết hỏi gì tiếp và kết thúc câu hỏi thế nào. Với lại, tim chàng đập mạnh quá đến nỗi chàng thật khó nói nên lời. Rogojin cũng lặng thinh và nhìn chàng giống như trước, nghĩa là nhìn một cách trầm ngâm.
– Thôi, tôi đi tiếp đây, - gã chợt nói rồi khởi bước sang bên kia đường trở lại, - còn ngài, ngài cũng cứ đi đi. Chúng ta hãy đi cách nhau như thế… hay hơn, mỗi người một bên… rồi ngài sẽ thấy.
Đến lúc hai người từ hai bên hè phố khác nhau rẽ vào đường Gorokhovaia và nhắm thẳng hướng nhà Rogojin, thì đôi chân hoàng thân lại mỏi nhừ, khó cho chàng đi tiếp được. Lúc đó đã khoảng mười giờ đêm rồi, mấy cửa sổ bên chái nhà bà mẹ Rogojin vẫn mở ngỏ như trước, nhưng bên phía Rogojin thì cửa đóng then cài, và trong bóng tối nhá nhem, mấy bức mành trắng trông càng nổi bật hơn nữa. Hoàng thân tiến gần đến ngôi nhà từ hè phố bên kia, còn Rogojin bên vỉa hè này đã bước lên bậc cấp và đưa tay vẫy hoàng thân, hoàng thân băng qua đường đến cùng gã.
– Lúc này cả đến tên gác cổng cũng không biết là tôi đã về. Sáng nay tôi bảo hắn rằng tôi đi Pavlovsk, tôi cũng dặn cả mẹ tôi như thế nữa, - gã thì thầm với một nụ cười đầy vẻ láu lỉnh, gần như thỏa mãn. - Chúng ta sẽ vào, và chẳng một ai nghe thấy gì cả.
Chìa khóa đã có trong tay gã. Lúc bước lên thang gác, gã quay lại ra dấu bảo hoàng thân bước cho khẽ hơn, rồi gã nhẹ nhàng mở cánh cửa phòng gã cho hoàng thân bước vào, xong gã khẽ khàng theo sau chàng, đóng cửa lại và bỏ chìa khóa vào túi.
– Đến đây, - gã thì thầm.
Gã đã nói thầm như thế ngay từ lúc hai người gặp nhau trên hè phố Liteinưi rồi. Dù bề ngoài gã bình thản, nhưng gã vẫn để lộ nỗi lo lắng nghiêm trọng gì đó trong lòng. Lúc đã vào phòng khách và ở ngay gần phòng làm việc, gã đến bên cửa sổ ra dấu gọi hoàng thân tới vẻ bí mật lắm:
– Sáng nay lúc ngài giật chuông nhà tôi, tôi đã đoán ngay là ngài rồi. Tôi nhón gót đến bên cửa sổ nghe ngài chuyện trò cùng Pafnutievna. Ngay từ rạng sáng, tôi đã ra lệnh cho bà ta rằng: Dù ngài, sứ giả của ngài, hay vô luận kẻ nào đến gõ cửa nhà tôi, bà cũng không được phép nói gì hết, nhất là đích thân ngài đến hỏi thăm tôi, tôi có cho bà biết tên ngài. Sau đó, lúc ngài ra đi rồi, tôi mới chợt nghĩ: “Nếu lúc này ông ta cứ đứng ngoài đường mà theo dõi, mà canh chừng ta thì sao đây?”. Thế là tôi đi đến chính cửa sổ này, vén mành lên nhìn ra và thấy ngài đang đứng đó nhìn thẳng về phía tôi… Đó, mọi sự là như thế.
– Nhưng mà Nastasia Filippovna… đâu rồi? - Hoàng thân hỏi bằng một giọng như ngạt thở.
– Nàng ở… đây, - Rogojin nói chậm chạp, sau một thoáng lưỡng lự.
– Đâu?
Rogojin nhướng mắt lên nhìn hoàng thân đăm đăm.
– Nào đi…
Gã vẫn nói thì thầm, vẫn không hề vội vã, vẫn với dáng vẻ trầm ngâm đến kỳ dị. Ngay lúc kể cho chàng nghe chuyện gã vén bức mành, gã đã có vẻ như muốn kể cho chàng nghe một chuyện gì khác; dù giọng nói của gã có vẻ bất cần, buông trôi.
Họ bước vào thư phòng. Chắc chắn phòng này đã có đổi khác kể từ dạo hoàng thân đến thăm lần trước đây: Một bức màn nhiễu xanh lục kéo suốt ngăn đôi gian phòng, một bên là góc đặt giường ngủ của Rogojin, bên kia là khoảng phòng còn lại. Bức màn nặng nề kéo sát che mút hai đầu. Gian phòng tối im ỉm; “những đêm trắng” mùa hạ tại Petersburg đã tối dần, và nếu không phải là đêm trăng rằm thì thật khó lòng nhìn thấy được chút gì trong gian phòng tối tăm này, khi mấy bức mành đã buông xuống hết. Nói cho đúng, người ta vẫn có thể nhìn thấy mặt nhau được, nhưng chỉ là mờ mờ. Khuôn mặt Rogojin vẫn tái nhợt như bao giờ. Đôi mắt gã vẫn dán lấy hoàng thân bằng tia nhìn sáng rực, nhưng lại có vẻ gần như bất động.
– Sao ông không thắp nến lên? - Hoàng thân hỏi.
– Không, chả cần, - Rogojin đáp, cầm lấy tay hoàng thân, ấn chàng ngồi xuống ghế. Gã ngồi xuống đối diện chàng, xích ghế lại gần chàng đến nỗi đầu gối gã suýt chạm vào đầu gối chàng. Giữa hai người có một chiếc bàn tròn nhỏ kê chếch về một phía.
– Nào ngài ngồi xuống đi chứ, ta ngồi nghỉ ngơi một lúc đã! - Gã nói, gần như nài nỉ hoàng thân ngồi lại.
Hai người ngồi lặng yên chừng một phút. Thế rồi gã mở lời bằng một lối nói người ta hay dùng khi muốn bàn đến một việc quan trọng, nghĩa là nói lan man ra ngoài lề:
– Tôi biết ngài trọ ở khách sạn ấy. Nhưng lúc đến hành lang khách sạn, tôi tự nhủ rằng: “Nào ai biết được, có lẽ chính lúc này ông ta đã lại đằng nhà ta rồi, còn ta thì lại đứng đây đợi ông ấy thì sao?”. À, ngài đến nhà bà giáo chưa?
– Rồi, - khó khăn lắm hoàng thân mới trả lời được vì tim đập mạnh quá.
Tôi cũng đã nghĩ về điều ấy. Tôi nghĩ, thế nào đằng ấy cũng nói chuyện lâu,.. nhưng sau đó, tôi còn nghĩ: “Ta sẽ đưa ông ấy về đấy, để chúng ta cùng qua đêm chung với nhau, nơi này…”.
– Này Rogojin! Nastasia Filippovna đâu rồi? - Hoàng thân hỏi khẽ, rồi đứng dậy run rẩy cả tứ chi. Rogojin cũng đứng lên.
– Ở kia, - gã thầm thì, hất đầu về phía bức màn.
– Nàng ngủ? - Hoàng thân hỏi nhỏ.
Rogojin lại chăm chắm nhìn chàng như lúc ban đầu.
– Thôi thì đến đây!.. Chỉ có điều ngài… nào, đến đây đi!
Gã kéo bức màn ra, đứng lặng rồi quay lại chỗ hoàng thân.
– Vào đi, - gã nói, ra dấu bảo ngài vào bên trong bức màn, mời hoàng thân đi lên trước. Chàng đi qua.
– Ở đây tối quá! - Hoàng thân bảo.
– Vẫn thấy được! - Rogojin lẩm bẩm.
– Tôi chỉ thấy thấp thoáng được… mỗi chiếc giường.
– Lại gần chút nữa, - Rogojin khẽ đề nghị.
Hoàng thân bước thêm một bước, rồi bước nữa, xong đứng sững lại. Chàng đứng đó nhìn đăm đăm một hoặc hai phút; suốt lúc đứng bên cạnh giường, hai người không nói một tiếng nào, tim hoàng thân đập dữ dội, có cảm tưởng như nghe thấy rõ trong sự tịch mịch chết chóc của căn phòng. Rốt rồi mắt chàng đã quen với bóng tối, chàng nhìn thấy suốt cả chiếc giường: Một người đang ngủ trên giường không chút động đậy; tuyệt không có một chút động tĩnh, tuyệt không nghe một thoáng hơi thở khẽ khàng nào. Một tấm khăn trắng đắp lên người đang ngủ suốt từ đầu đến chân chỉ thấy được loáng thoáng nét tay chân; tất cả những gì thấy được là một dáng người nằm thẳng đờ, cứng nhắc. Khắp nơi: Trên giường, dưới chân giường, trên ghế bành kế cận, thậm chí cả dưới sàn nhà, quần áo vứt tứ tung, bừa bãi, một chiếc áo dài bằng lụa trắng, lộng lẫy, hoa, dải băng. Trên chiếc bàn nhỏ kê nơi đầu giường, nằm lăn lóc, lấp lánh những đồ trang sức bằng kim cương được gỡ ra. Dưới chân giường, một đống ren trắng nhúm nhó, trên dải ren trắng nhô ra dưới làn vải đắp là mút một bàn chân trần trông như được tạc bằng cẩm thạch và im lìm đến ghê rợn. Càng nhìn, hoàng thân càng cảm thấy gian phòng thêm vẻ thăm thẳm và chết chóc. Thình lình một con ruồi tỉnh giấc, bay vo ve phía trên giường rồi hạ xuống chỗ đầu nằm. Hoàng thân giật nẩy mình.
– Ta ra thôi, - Rogojin bảo, khẽ chạm vào tay hoàng thân. Hai người bước ra, ngồi lại chỗ cũ, lại ngồi đối diện nhau. Hoàng thân càng lúc càng run, chàng nhìn chăm chăm Rogojin với tia mắt lục vấn.
– Này Lev Nikolaevits, tôi thấy ngài run lẩy bẩy, - rốt cuộc Rogojin lên tiếng, - у như lần ngài lên cơn dạo ở Moskva đó, ngài còn nhớ không? Hoặc như thế ngay trước mỗi khi lên cơn? Tôi không biết phải làm gì cho ngài bây giờ?
Hoàng thân lắng nghe, cố sức để hiểu, nhưng đôi mắt chàng vẫn cứ nhìn gã như hỏi han.
– Ra đó là ông đã…? - Rốt cuộc chàng cũng nói lên được, vừa gật đầu về phía bức màn.
– Vâng… tôi… - Rogojin thì thầm, mắt gã cụp xuống.
Hai người lặng yên khoảng năm phút.
– Vì thế, - Rogojin chợt nói tiếp, cứ như câu chuyện không hề bị ngắt quãng, - nếu như bây giờ mà vì bệnh tật ngài lại lên cơn và la lối, thì thế nào ngoài phố, ngoài sân có người sẽ nghe được và đoán ra trong phòng này có người ở, rồi họ sẽ đến gõ cửa, sẽ vào đây… bởi họ cứ ngỡ lúc này tôi đi vắng rồi. Sở dĩ tôi không thắp nến là tránh cho người ngoài phố hay ngoài sân khỏi nghi ngờ. Tôi có thói quen khi đi vắng là đem cả chìa khóa theo, thành thử lúc tôi vắng nhà, chẳng có ai vào quét tước, dọn dẹp phòng trong suốt ba, bốn ngày. Tôi đã đặt điều ấy thành quy luật. Nhờ sắp đặt như thế, nên chẳng ai biết chúng ta qua đêm ở đây cả…
– Khoan đã, - hoàng thân bảo, - sáng nay, tôi có hỏi người gác cổng và bà vú già: “Nastasia Filippovna có ở đêm tại đây không?”. Như thế hẳn là họ phải biết rồi chứ!
Tôi biết ngài đã hỏi họ. Tôi đã bảo Pafnutievna rằng hôm qua Nastasia Filippovna đã ghé đây, và cũng hôm qua nàng đã đi Pavlovsk ngay, nàng ở chỗ tôi có mười phút thôi. Họ không biết nàng nghỉ đêm tại đây, chẳng ai biết cả. Hôm qua, chúng tôi trở về đây thật lặng lẽ như tôi với ngài vừa vào lúc nãy. Trên đường đi, tôi cứ nghĩ rằng nàng chẳng muốn đi vào một cách lặng lẽ, - ấy nhưng không! Nàng thì thầm, nàng đi nhón gót, nàng vén áo lên và giữ chặt vạt áo để khỏi gây tiếng sột soạt; trên cầu thang, nàng khẽ đặt ngón tay lên môi ra dấu bảo tôi yên- đó là nàng vẫn sợ ngài không nguôi. Trên tàu hỏa, nàng hoàn toàn như một người điên, chỉ là vì sợ hãi thôi, và chính nàng đã tỏ ý muốn nghỉ đêm lại đây. Lúc đầu, tôi đã định đưa nàng đến nhà bà giáo kia, nhưng không xong! “Thế nào ông ta cũng nhanh chóng đến tìm tôi ở đó, - nàng bảo, - anh phải giấu tôi đi, còn sáng mai đó chúng ta sẽ trốn mau lên Moskva”, rồi sau nàng cứ nghĩ đến chuyện dọn đến một nơi nào đó ở Oriol. Và khi đã lên giường ngủ, nàng vẫn cứ nhắc mãi là chúng tôi sẽ đi Oriol…
– Khoan đã; này Parfen, bây giờ ông định thế nào đây?
– Ồ kia, tôi nhìn và thấy ngài cứ run hoài đấy thôi. Chúng ta sẽ qua đêm tại đây, chung với nhau. Ngoài chiếc giường kia ra, ở đây không còn giường nào nữa, nhưng tôi định thế này: Ta lấy mấy đệm gối trên hai chiếc trường kỷ rồi kê làm chỗ ngủ ngay dưới đất đây, bên bức màn này, cạnh chiếc giường, cho hai ta, ngài và tôi, cùng ngủ chung. Bởi vì, nhỡ người ta có vào xem xét hoặc lục soát, họ sẽ thấy nàng ngay và mang nàng đi mất. Thế nào họ cũng sẽ lục vấn tôi, tôi sẽ bảo rằng chính tôi ra tay đó, rồi họ sẽ tóm tôi đi ngay. Thế thì lúc này, hãy cứ để cho nàng nằm cạnh chúng ta, cạnh ngài và tôi.
– Vâng, đúng thế, - hoàng thân nồng nhiệt tán thành.
– Và thế, chúng ta không cung khai và không để cho họ mang nàng đi.
– Không bằng bất cứ giá nào! - Hoàng thân quyết liệt nói. - Tôi bất chấp hết!
– Ồ thưa ngài, thì ý tôi cũng thế đó. Ta sẽ chẳng giao nàng cho ai hết, bằng mọi giá! Ta sẽ nghỉ đêm tại đây một cách yên ắng. Suốt ngày nay, tôi túc trực bên nàng, chỉ trừ lúc sáng tôi có vắng nhà một giờ. Rồi tối đến, tôi đi kiếm ngài đó. Tôi còn sợ điều này nữa, không khí ngột ngạt thế này thế nào xác chết cũng có mùi. Ngài có ngửi thấy có mùi gì lạ không?
– Có lẽ có, tôi không biết nữa. Nhưng chắc sáng mai sẽ có.
– Tôi phủ xác nàng bằng tấm vải dầu, loại vải dầu Mỹ hảo hạng, trải khăn vải lên trên, xong tôi mở nút bốn chai dung dịch Zdanov và đặt chung quanh xác nàng; mấy chai đó vẫn còn đấy.
– Cũng giống như… cung cách ở Moskva?
– Chỉ để khử mùi thôi, bạn ạ! Phải chi ngài thấy nàng nằm thế nào… Sáng mai trời sáng, hãy nhìn nàng mà xem. Sao, ngài không thể đứng dậy nổi sao? - Rogojin hỏi với vẻ ngạc nhiên lo ngại, lúc thấy hoàng thân run rẩy quá không sao đứng lên nổi.
– Chân không nhích nổi, - hoàng thân lẩm bẩm, - hẳn là vì sợ, tôi biết thế… lúc hết sợ, tôi sẽ đứng dậy được…
– Vậy cứ đợi chút, để tôi làm giường, rồi ngài sẽ ngả lưng… và tôi sẽ cùng ngài… rồi chúng ta sẽ nghe ngóng… bởi vì bạn ạ, tôi cũng chưa biết… tôi, bạn ạ, còn chưa biết cho hết mọi sự, cho nên tôi mới bảo trước với ngài, để ngài được biết trước về chuyện đó…
Vừa lẩm nhẩm mấy lời bâng quơ đó, Rogojin vừa trải giường. Rõ ràng từ sáng sớm hôm đó, Rogojin đã nghĩ đến chuyện làm mấy giường ngủ như thế này rồi. Đêm hôm trước, gã nằm ngủ trên đi văng, nhưng đi văng đó, hai người nằm thì lại không vừa, mà gã thì nhất quyết xếp hai chỗ nằm của họ ngay cạnh giường, nên gã mới ra sức kéo qua hết căn phòng mấy chiếc đệm gối kê từ cả hai đi văng ra, đến đặt gần lối vào đầu màn. Rốt cuộc gã cũng tàm tạm làm xong giường ngủ; gã đến bên hoàng thân khẽ vực cánh tay chàng, đỡ chàng dậy rồi đưa chàng vào giường nằm, nhưng hình như hoàng thân đã hơi lại sức, chàng bước đi một mình được, thế có nghĩa là chàng đã hết sợ, nhưng vẫn còn run rẩy.
– Này bạn, hẳn bạn cũng thấy đó, - Rogojin chợt nói, lúc đó gã đã đặt chàng ngồi trên chiếc đệm gối tươm tất nhất phía bên trái, rồi gã vẫn để nguyên quần áo nằm duỗi mình phía bên phải, hai tay chắp sau gáy, - trời nóng quá, thế nên cũng bay mùi. Tôi sợ không dám mở cửa sổ, mẹ tôi có trồng mấy chậu hoa ra hoa rất nhiều và hương hoa rất ngát. Tôi đã định khuân mấy chậu hoa ấy về đây, song lại sợ Pafnutievna đâm nghi, tính mụ ấy tò mò lắm.
– Bà ta tò mò thật, - hoàng thân biểu đồng tình.
– Ta có thể mua vài bó hoa… rải hoa quanh xác nàng được chứ? Nhưng bạn ạ, tôi nghĩ nhìn cảnh xác nàng phủ đầy hoa thì thật đau lòng quá!
– Này, nói tôi nghe thử, - hoàng thân băn khoản nói như thể một người vừa nhớ ra được điều gì muốn hỏi nhưng lại quên bẵng ngay, - này, nói tôi nghe thử, ông giết nàng bằng vật gì? Dao chăng? Cũng lại con dao đó chăng?
– Ừ, thì cũng con dao đó.
– Khoan, còn chuyện này nữa. Tôi muốn hỏi ông điều này nữa, Parfen à! Tôi có bao nhiêu vấn đề muốn hỏi ông… nhưng trước hết, xin ông cho tôi biết điều này: Có phải ông đã định giết nàng trước ngày cưới của chúng tôi không? Trước giờ hành lễ hôn phối không? Giết nàng bằng dao ngay trước cửa nhà thờ không? Đúng thế không?
– Tôi không biết đúng thế hay không nữa. - Rogojin trả lời khô khan, gã ngạc nhiên vì câu hỏi đó, và có vẻ không hiểu.
Ông có từng giắt dao trong người lúc xuống Pavlovsk không?
– Không, không hề có việc đó, - gã đáp, sau một lúc yên lặng, gã tiếp lời, - về chuyện con dao, đây là tất cả những chi tiết tôi có thể cho ngài biết, Lev Nikolaevits ạ: Sáng hôm nay, tôi rút con dao đó ra từ một ngăn kéo khóa kín, vì mọi chuyện này đều xảy ra vào sáng sớm hôm nay, đâu khoảng trước bốn giờ. Con dao vẫn nằm giữa mấy trang sách như từ trước đến nay. Lại còn một chuyện khác nữa khiến tôi lạ lắm: Lưỡi dao cắm ngay dưới ngực trái, lút vào đâu khoảng tám, chín phân và chỉ có đâu nửa muỗng máu nhỏ thấm ra áo sơ mi nàng mặc, không có hơn.
– Thế chứ sao, đúng thế chứ sao, tôi biết mà, - hoàng thân nói, ngài ngồi nhổm dậy trong cơn xúc động dữ dội. - Tôi có đọc biết về trường hợp đó. Người ta gọi là chứng nội xuất huyết, lắm khi không có lấy một giọt máu nữa là khác. Vậy là lúc mũi dao đâm thẳng vào tim…
– Suỵt, ngài nghe gì không? - Rogojin đột nhiên ngắt lời ngài, gã chợt ngồi dậy trên gối. - Ngài có nghe gì không?
– Không, - hoàng thân đáp nhanh trong nỗi sợ sệt, và đưa mắt nhìn Rogojin.
– Có tiếng chân người! Ngài nghe thấy không? Trong phòng khách…
Cả hai lắng tai nghe.
– Tôi nghe rồi, - hoàng thân thì thầm, giọng quả quyết.
– Có người đi phải không?
– Đúng thế.
– Ta có nên đóng cửa lại không?
– Nên…
Họ đóng cửa, rồi lại cùng nằm xuống. Yên lặng một lúc lâu.
– À phải, - hoàng thân lẩm bẩm cũng với giọng khích động, hấp tấp ấy; chàng ngồi nhổm dậy như vừa bắt gặp được ý tưởng mình và cứ sợ nó vuột mất. - Phải rồi… tôi muốn hỏi ông, mấy lá bài ấy. Bài… họ bảo ông chơi bài với nàng phải không?
– Đúng thế, - Rogojin đáp sau đó một lúc.
– Cỗ bài đó… đâu rồi?
– Đây này, - Rogojin đáp sau một lúc yên lặng lâu hơn. - Ngay đây này…
Gã rút trong túi ra một cỗ bài cũ gói trong giấy trao cho hoàng thân. Hoàng thân cầm bộ bài, nhưng hình như chàng cũng không biết phải làm gì nữa. Một nỗi buồn chán, thất vọng mới mẻ đè nặng cõi lòng chàng; chàng chợt hiểu rằng vào lúc ấy và ngay từ xa xôi dạo trước, chàng đã không nói lên điều chàng phải nói, chàng đã không làm điều chàng phải làm, bây giờ, bộ bài chàng cầm trong tay này, bộ bài chàng sung sướng được ngắm nghía này, không còn ích lợi gì nữa, hoàn toàn vô dụng rồi. Chàng đứng lên, hai tay vặn vào nhau trong nỗi thất vọng. Rogojin vẫn nằm yên, làm như không nhận thấy cử chỉ của chàng, nhưng đôi mắt sáng rực mở trừng trừng của gã vẫn nhìn đăm đăm vào cõi tối tăm. Hoàng thân ngồi xuống một chiếc ghế và nhìn gã hãi hùng. Nửa giờ trôi qua, chợt Rogojin la lớn tiếng, dường như gã quên mất rằng gã phải nói nhỏ.
– Cái tên sĩ quan ấy… cái tên sĩ quan ấy… ngài có còn nhớ cái tên sĩ quan bị nàng quất bằng roi ngựa ở sân hòa nhạc đó không? Ha, ha! Ngài còn nhớ chứ? Cả cái tên sinh viên sĩ quan kia nữa… cái tên sinh viên sĩ quan nhào tới đó nữa…
Hoàng thân kinh hãi nhảy nhỏm dậy khỏi ghế. Lúc Rogojin yên lặng trở lại rồi (gã trở lại yên lặng thật đột ngột), hoàng thân khẽ nghiêng mình xuống cạnh gã, nhìn gã chăm chú. Tim chàng đập mạnh, hơi thở khó nhọc quá. Rogojin không quay đầu lại nhìn chàng và hình như gã đã quên phắt chàng đi rồi cũng nên. Hoàng thân cứ nhìn và chờ đợi. Thời gian trôi qua, hừng đông đã ló dạng. Rogojin cứ thỉnh thoảng lại ú ớ mấy tiếng bâng quơ với giọng khàn khàn, xong gã hét lớn, gã phá lên cười; hoàng thân đưa bàn tay run rẩy của chàng khẽ xoa đầu gã, vuốt tóc gã, vuốt má gã… chàng chẳng biết làm gì hơn nữa! Chàng bắt đầu run trở lại, chân như rời khỏi thân chàng. Một cảm giác thật mới lạ làm quặn thắt lòng chàng với nỗi thống khổ vô bờ.
Lúc đó, trời đã sáng hẳn. Sau cùng, chàng nằm xuống gối trở lại, người mệt rã rời và đắm đuối tuyệt vọng, chàng chạm mặt ngài trên khuôn mặt im lìm tái nhợt của Rogojin; nước mắt chàng trào ra ướt má Rogojin, nhưng có lẽ chàng cũng không nhận ra đó là nước mắt chàng, chàng không còn ý thức được điều gì hết.
Rồi mấy tiếng đồng hồ sau đó, cửa mở ra, người ta tràn vào, thấy tên sát nhân đang nằm bất tỉnh trong cơn sốt. Hoàng thân ngồi như một pho tượng trên gối, bên cạnh gã, cứ mỗi lần người bệnh kêu rên hay nói sảng, chàng lại vội đưa bàn tay run rẩy ra vuốt tóc, vuốt má gã như vỗ về, an ủi gã. Nhưng chàng không hiểu chút gì trước những lời người ta hỏi, và không nhận ra những kẻ đang bước vào, đang đứng xung quanh chàng là ai nữa. Giá bây giờ có cả ông Sneider từ Thụy Sĩ đến đây mà nhìn người học trò, và cũng là người bệnh cũ của ông, rồi nhớ lại bệnh trạng của chàng vào năm đầu tiên đến Thụy Sĩ chữa trị, chắc ông cũng đến đưa hai tay lên trời mà kêu lên như trước.
– Rõ gã khờ!
❀ ❀ ❀
[1] Madame Bovary: tiểu thuyết Bà Bovary nổi tiếng của nhà văn Pháp Flober (1821-1880) viết năm 1857.