Lúc hoàng thân và Rogojin về gần đến nhà, chàng rất đỗi ngạc nhiên khi thấy hiên nhà đèn đuốc sáng choang và một đám đông huyên náo đã tụ tập ở đó. Họ cười nói ồn ào, lắm kẻ còn to tiếng cãi vã, tranh luận, nhìn thoáng qua cũng đủ thấy là họ tưng bừng vui vẻ hết sức. Mà thật vậy, lúc bước lên hiên nhà, chàng thấy mọi người đang uống rượu, mà còn uống rượu sâm banh nữa, và rõ ràng họ đã khề khà chén chú chén anh từ lâu rồi, vì có nhiều vị tham dự có vẻ hăng hái trông đã quá đà vui. Hoàng thân biết cả mấy vị khách đó, có điều lạ là họ không hẹn mà cùng tụ tập tại đây cứ у như thể được mời không bằng, mặc dù hoàng thân không mời ai và chính chàng cũng chỉ tình cờ nhớ lại sinh nhật của chàng mà thôi.
– Chắc ngài đã bảo ai đó là ngài sẽ đãi rượu sâm banh nên họ mới kéo đàn kéo đúm đến như thế, - Rogojin lẩm bẩm, vừa theo chân hoàng thân bước lên hiên. - Chuyện này thế nào cũng phải xảy ra mà, ngài chỉ còn có việc huýt sáo nữa thôi, - gã hằn học nói tiếp, rõ ràng là gã nhớ đến chuyện dĩ vãng gần đây của gã.
Mọi người nhao nhao lên chào hỏi hoàng thân và vây lấy chàng. Tốp này ồn ào ngậu xị, đám kia yên ắng hơn, nhưng vừa nghe nói đây là sinh nhật của ngài, họ vội vàng đến chúc tụng chàng, mọi người đều chờ đợi đến phiên mình nâng cốc chúc. Có một vài kẻ hiện diện tại đây đã khiến hoàng thân chú ý. Chẳng hạn như Burdovski, nhưng đáng ngạc nhiên nhất là Evgeni Pavlyts cũng có mặt ở giữa đám quan khách. Lúc thấy chàng này, hoàng thân không dám tin ở mắt mình và gần như sợ hãi nữa. Lúc đó, Lebedev mặt đỏ tía tai và phấn hứng vội đến để giải thích; lão đã hơi “sứa” rồi. Cứ như những lời lắp bắp của lão thì việc mọi người quây quần dự tiệc ở đây là một điều hết sức tự nhiên, và cũng là do tình cờ. Chẳng là lúc chập tối Ippolit đến đây đợi hoàng thân, trông hắn có vẻ khỏe khoắn hơn nhiều. Hắn nằm nghỉ trên đi-văng, sau đó Lebedev đến với hắn, rồi cả gia đình lão, có nghĩa là con cái lão và tướng Ivolgin, Burdovski thì đã đến với Ippolit, vì gã tháp tùng theo hắn. Sau đó một lúc Gania và Ptisyn nhân đi đâu đó cũng tạt vào, họ đến trùng hợp với lúc biến cố xảy ra tại khu vườn hòa nhạc. Sau rốt, Keller xuất hiện tuyên bố đây là sinh nhật của hoàng thân và đòi uống sâm banh. Evgeni Pavlyts mới đến được nửa giờ, Kolia cũng đã nằng nặc đòi dọn sâm banh cho bằng được và phải ăn mừng sinh nhật. Gì chứ việc dọn rượu ra thì Lebedev chẳng có nề hà gì cả.
– Nhưng đó là rượu của tôi! Rượu của tôi mà thôi! - Gã lắp bắp nói với hoàng thân. - Chính tôi đài thọ tổ chức buổi tiệc mừng sinh nhật của ngài, còn có một vài thức ăn nhẹ nữa, con gái tôi đang lo sửa soạn. Nhưng này hoàng thân, phải chi ngài biết được câu chuyện người ta đương bàn tán ở đây thì hay biết mấy! Ngài có nhớ câu trong vở kịch Hamlet:[1] “Tồn tại hay không tồn tại” không? Đó là một chủ đề thời thượng đó, thưa ngài, rất thời thượng! Hỏi và đáp. Mà ông Terentiev thì đã quá sức là… Ông ấy lại không muốn đi ngủ nữa chứ! Ông ấy chỉ uống có một ngụm sâm banh, có mỗi một ngụm thôi, cũng chẳng hại gì cho ông ta. Nào hoàng thân, hãy đến đây mà giải quyết vấn đề thử xem. Mọi người đang chờ đợi ngài. Ai nấy đều mong đợi tài nhận xét tinh tế của ngài đó.
Hoàng thân nhận ra ánh nhìn trìu mến dịu dàng của Vera Lebedeva, cô bé cũng len lỏi qua đám đông tiến đến phía chàng. Chàng đưa tay ra cho nàng trước tất cả mọi người khác, nàng đỏ mặt vì sung sướng và chúc chàng, “một sinh nhật vui vẻ và đời đời hạnh phúc”. Thế rồi nàng vội trở lại bếp, nàng đang sửa soạn món ăn ở đó; nhưng ngay khi hoàng thân chưa về, cứ khi nào được ngơi tay chốc lát, nàng lại bước ra ngoài hiên lắng nghe mấy ông khách đã chếnh choáng hơi men bàn cãi những chuyện thật hết sức lạ lùng và khó hiểu đối với nàng. Cô em gái nàng thì đã há hốc mồm ra ngủ trên một chiếc rương ở phòng bên, còn cậu con trai của Lebedev thì cứ đứng cạnh Kolia và Ippolit, cái vẻ mặt hí hửng khoái trá của nó chứng tỏ cu cậu sẵn sàng đứng yên một chỗ suốt mười tiếng đồng hồ để nghe người ta chuyện trò cũng được.
– Tôi đang chờ đợi riêng mình ngài và vô cùng sung sướng được thấy ngài về với thần thái vui tươi như vậy, - Ippolit nói lúc hoàng thân tiến đến bắt tay hắn, ngay sau khi chàng siết tay Vera.
– Nhưng làm sao bạn biết tôi đang vui tươi chứ?
– Nhìn mặt ngài là tôi biết liền. Ngài hãy đi chào các quan khách đi rồi đến đây ngay với chúng tôi. Tôi hết sức mong chờ ngài đó, - hắn nói thêm, nhấn mạnh vào việc đợi chờ của hắn. Lúc hoàng thân hỏi hắn thức khuya như vậy có hại gì không, hắn trả lời là cũng lấy làm ngạc nhiên vì ba ngày trước đây, hắn đã muốn chết đi cho xong, thế mà tối nay hắn thấy chưa bao giờ khỏe khoắn như vậy.
Burdovski đứng nhỏm dậy cho biết gã vừa đến xong, gã tháp tùng Ippolit, gã bảo rằng gã rất lấy làm sung sướng vì trong thư gửi hoàng thân gã đã viết những lời “chẳng đâu vào đâu” và bây giờ gã “rất lấy làm hoan hỉ được…”. - Chưa kịp nói hết câu, gã đã siết tay hoàng thân thật chặt rồi ngồi xuống ghế.
Sau rốt, hoàng thân đến bên Evgeni Pavlyts, chàng liền quàng lấy tay hoàng thân, thì thầm:
– Tôi có đôi lời muốn thưa cùng ngài về một việc cực kỳ quan trọng. Chúng ta hãy bước ra đằng này một lát.
– Đôi lời thôi mà, - một giọng nói khác thì thào vào tai hoàng thân, rồi một tay ai khác nắm lấy tay kia của ngài. Trong nỗi kinh ngạc, hoàng thân nhận ra một dáng người nhem nhuốc hết sức với khuôn mặt đỏ kè, mắt nháy lia lịa và cười cợt, đúng là anh chàng Ferdysenko, chẳng biết у mới chui ở đâu ra.
– Còn nhớ thằng Ferdysenko này chứ? - Y hỏi.
– Ông ở đâu đến thế? - Hoàng thân kêu lên.
– Hắn ăn năn hối cải rồi! - Keller kêu lên, bước vội đến bên họ.
– Hắn trốn kĩ mà, hắn không muốn đến với ngài. Hắn nấp ở một xó ấy. Hắn hối hận, hoàng thân ạ, hắn có cảm giác phạm tội mà.
– Nhưng tội gì chứ? Tại sao vậy?
– Hoàng thân ạ, tôi mới tình cờ gặp hắn đấy thôi. Tôi mới vừa gặp hắn rồi lôi hắn cùng đi ngay đó. Hắn là một tên bạn đặc biệt nhất của tôi đấy. Nhưng mà anh chàng hối hận.
– Vâng thưa quý vị, tôi rất lấy làm hân hạnh. Xin mời quý vị hãy đến ngồi với quý khách khác cho. Tôi sẽ trở lại ngay, - hoàng thân nói để dứt họ ra, rồi vội quay lại với Evgeni Pavlyts.
– Ở nhà ngài thật là thoải mái, - chàng nhận xét. - Tôi thật khoan khoái, dễ chịu trong suốt nửa giờ đợi ngài. Nào bây giờ bàn đến công việc đi, Lev Nikolaevits thân ái ạ, tôi đã sắp đặt mọi sự đâu vào đấy cho ngài với Kurmưsov rồi và tôi đến đây để báo cho ngài yên tâm; ngài không còn việc gì phải lo nữa; anh ta đã chấp nhận việc đó một cách thật hết sức là biết điều, nhất lại là bởi vì, theo chỗ tôi thấy, anh ta có phần lỗi hơn.
– Ông Kurmưsov nào?
– Sao, thì người mà ngài đã giữ tay lại lúc xế trưa hôm nay đó. Gã giận quá đến độ muốn cử mấy người làm chứng của gã đến gặp ngài để đòi ngài giải thích lý do đó.
– Thật vậy sao? Thật vô lý quá!
– Vâng, vô lý thật, và lẽ ra nó cũng phải kết thúc như bất cứ một chuyện vô lý nào khác; nhưng trong số chúng ta có những loại người họ…
– Há không phải ông đến vì một việc gì khác nữa hay sao, thưa ông Evgeni Pavlyts?
– Ồ, dĩ nhiên là có chứ, - chàng kia cười đáp. - Thưa hoàng thân quý mến, rạng sáng ngày mai, tôi sẽ đi Petersburg để lo cái việc không may ấy- vụ ông chú tôi ấy mà. Ngài thử tưởng tượng xem, mọi người đều biết tin ấy hết cả, chỉ có mỗi mình tôi là mù tịt thôi. Tôi bàng hoàng quá đỗi tới mức không thể đến đó (đến nhà Epantsin ấy mà). Ngày mai tôi cũng không đến đó được vì tôi bận ở Petersburg, ngài hiểu chứ? Có lẽ tôi sẽ lưu lại ở đấy ba ngày. Nói tóm lại, công việc của tôi rối như tơ vò. Mặc dù cũng chẳng có gì là tối quan trọng, thế nhưng ý tôi đã quyết phải đối thoại ngay tình với ngài không thể trì hoãn được; nghĩa là, tôi phải nói trước lúc tôi ra đi. Nếu không có gì phiền ngài, tôi sẽ xin đợi ở đây cho đến khi tiệc tàn; vả lại, tôi cũng không biết đi đâu được nữa. Tôi rối trí quá nên cũng không thể nào ngủ nổi. Dù sao, thật là vô lương và vô ý thức quá sức khi đường đột muốn ngỏ chuyện thẳng thừng như thế này, tôi cũng xin phép thưa thẳng với ngài rằng: tôi đến đây để mong được làm bạn cùng ngài. Ngài là một người độc đáo; nghĩa là ngài không bao giờ nói dối việc gì và chắc chắn ngài chẳng bao giờ nói dối cả. Hơn nữa, tôi cần có một người bạn, một người cố vấn chuyện này chuyện nọ, vì tôi đang trầm luân trong số những kẻ khốn khổ, không may…
– Chỉ phiền một nỗi là, - hoàng thân nói sau một thoáng nghĩ ngợi, - ông muốn đợi tôi cho đến khi mọi người ra về, nhưng có trời biết lúc nào họ mới chịu ra về đây. Giá hai ta cùng đi dạo trong công viên bây giờ há chẳng hay hơn sao? Tôi sẽ cáo lỗi cùng mấy người kia.
– Đừng, đừng. Có nhiều lý do khiến tôi không muốn họ nghi ngờ rằng chúng ta có chuyện gì riêng phải bàn bạc với nhau. Có lắm người ở đây rất để ý đến mối quan hệ giữa chúng ta. Ngài không biết thế sao, thưa hoàng thân? Tốt hơn chúng ta cứ để cho họ thấy rằng chúng ta chỉ trao đổi với nhau những câu chuyện bạn bè thông thường và chẳng có gì đặc biệt cả. Ngài hiểu không? Thế nào hai giờ nữa thì họ cũng ra về thôi. Tôi xin làm phiền ngài trong hai mươi phút hay nửa giờ là cùng.
– Vâng, thì xin ông cứ ở lại. Tôi rất vui được tiếp ông dù cho ông chẳng có gì cần phải giải thích cũng thế, và tôi rất lấy làm cảm kích về những lời nói đôn hậu của ông về mối giao tình thân hữu giữa đôi ta. Chỉ xin ông bỏ qua cho cái tính đãng trí của tôi hôm nay, ông cũng biết cho là chẳng hiểu làm sao lúc này tôi chịu, không thể tập trung tư tưởng được.
– Tôi biết, tôi biết chứ! - Evgeni Pavlyts lẩm bẩm với một nụ cười thoáng châm biếm. Buổi tối hôm đó chàng cảm thấy hết sức vui vẻ, yêu đời.
– Ông biết làm sao? - Hoàng thân giật mình.
– Này thưa hoàng thân, - Evgeni Pavlyts lại mỉm cười nói, nhưng không trả lời ngay vào câu hỏi của hoàng thân. - Chắc ngài không nghi ngờ rằng tôi đến đây chỉ nhằm mục đích lừa gạt ngài để rồi khai thác điều gì đấy chứ?
– Tôi chắc chắn rằng ông sẽ khai thác điều gì đó chỗ tôi, - hoàng thân nói rồi phá lên cười, - và thậm chí ông có ý muốn lừa gạt chút đỉnh cũng không sao, như thế cũng chả sao cả, tôi có sợ gì ông đâu. Với tôi dường như giờ đây thế nào cũng xong tất. Ông có tin tôi không? Với lại… với lại tôi vẫn hằng tin rằng ông là một con người xuất chúng, rồi ra chúng ta sẽ làm bạn với nhau được. Tôi rất quý ông, Evgeni Pavlyts ạ. Ông… ông quả thật là một nhân vật đứng đắn!
– Vâng, bàn chuyện với ngài thì lúc nào cũng thoải mái cả, bất cứ là việc gì cũng vậy, - Evgeni Pavlyts kết luận. - Chúng ta cùng đi nào, tôi xin nâng ly uống mừng ngài. Tôi hết sức sung sướng đã tiếp xúc với ngài. Ô! - Chàng chợt ngừng lại. - Có phải ông Ippolit đến ở với ngài đó chăng?
– Phải.
– Anh ta chưa đến nỗi sắp chết đấy chứ?
– Tại sao ông hỏi vậy?
– Ồ, chẳng tại sao cả. Tôi vừa mới chuyện trò với anh ta nửa giờ ở đây…
Suốt lúc đó, Ippolit vẫn đợi hoàng thân và cứ ném những tia nhìn về phía ngài và Evgeni Pavlyts lúc họ đứng tách rời mọi người để đàm đạo riêng. Hắn bồn chồn như lên cơn sốt lúc hai người trở lại bàn. Hắn nôn nao, rạo rực, mồ hôi nhỏ giọt trên chân mày. Đôi mắt long lanh của hắn ánh lên vẻ băn khoăn phảng phất với nỗi u uất vu vơ, hắn ơ thờ nhìn hết vật nọ đến vật kia, từ gương mặt này đến gương mặt khác. Hắn đã tích cực tham gia vào cuộc chuyện trò náo nhiệt ở bàn tiệc cho đến phút đó, nhưng sự sôi nổi của hắn chỉ là một cơn sốt. Thực tế hắn không mấy chú ý đến câu chuyện, lời lẽ của hắn rời rạc không đầu không đuôi, toàn là những lời mai mỉa và nghịch lý hết sức. Chưa nói hết câu hắn đã bỏ ngang đề mục mà hắn đã khởi đầu thật sôi nổi và hăng hái. Hoàng thân ngạc nhiên và hối tiếc khi nhận ra tối hôm ấy ngài đã tự cho phép mình uống cạn hai ly sâm banh đầy, ly thứ ba cũng đã vơi một nửa. Nhưng ngài chỉ nhận ra sự kiện đó về sau này thôi, còn lúc ấy ngài không mấy chú ý tới.
– Ngài biết không? - Ippolit kêu lên. - Tôi vui kinh khủng vì hôm nay là sinh nhật của ngài.
– Sao vậy?
– Rồi ngài sẽ thấy. Hãy ngồi xuống đi. Nhanh lên. Thứ nhất, vì hôm nay sinh nhật của ngài nên mọi người… quen biết ngài đều tụ tập tại đây đủ mặt cả. Tôi đã tính thế nào họ cũng đến, và lần thứ nhất trong đời, tôi đã tính đúng. Nhưng mà tệ quá, tôi lại không được biết hôm nay là sinh nhật ngài, nếu biết tôi đã đem đến một món quà tặng ngài rồi. Ha, ha! Có lẽ tôi sẽ đem quà đến! Chắc còn lâu trời mới sáng nhỉ?
– Còn hai giờ nữa trời sẽ rạng đông, - Ptisyn nhìn đồng hồ đáp.
– Mà rạng đông thì có quan hệ gì đâu, không có rạng đông ta vẫn có thể ngồi ngoài trời đọc được cơ mà! - Một người bảo.
– Vì tôi vẫn muốn nhìn trời lúc chớm rạng đông. Thưa hoàng thân, chúng ta nâng ly uống mừng mặt trời được chứ? Ngài nghĩ sao?
Ippolit lại đặt câu hỏi đột ngột, hắn ngỏ lời với mọi người một cách phóng túng, gần như ra lệnh, nhưng rõ ràng chính hắn cũng không ý thức được điều ấy nữa.
– Vâng, nếu bạn muốn thì cứ uống. Nhưng bạn nên bình tĩnh lại thì hơn, có đúng thế không, Ippolit?
– Này hoàng thân, lúc nào ngài cũng bảo tôi nên đi ngủ đấy nhé! Ngài cứ làm như ngài là vú em của tôi không bằng! Ngay khi mặt trời hiện ra và “vang tiếng trên các từng trời” (ai đã viết câu thơ: “Vầng thái dương vang tiếng trên các từng trời”[2] nhỉ? Câu đó chẳng có nghĩa gì nhưng thật là hay), lúc đó chúng ta sẽ đi ngủ. Này ông Lebedev! Mặt trời có phải là nguồn sự sống không? Cái tiếng “nước trường sinh” chép trong kinh Khải Huyền là nghĩa như thế nào? Ngài có được nghe về “Ngôi sao Ngải Cứu” không, hở hoàng thân?
– Tôi có nghe nói ông Lebedev cắt nghĩa cái sao Ngải Cứu ấy là hệ thống đường xe lửa chằng chịt trên khắp lục địa Âu châu này.
– Này, đừng, cho tôi xin đi, như thế này thì thật là không phải lối chút nào! - Lebedev la lên, lão nhảy choi choi hai tay múa loạn cào cào như muốn ngăn lại trận cười của mọi người sắp bùng ra. - Cho xin đi, với những quý vị như thế này… với những kẻ như thế này đây, - lão quay ngoắt sang phía hoàng thân, - ngài thấy đó, xét trên nhiều khía cạnh, thì quả đúng như vậy thật, - lão nhấn mạnh, lại đập bàn hai bận, khiến mọi người còn cười dữ hơn nữa.
Mặc dù tâm tính Lebedev vẫn không khác bao nhiêu những buổi tối khác, nhưng lần này lão lại hết sức nóng nẩy và giận dữ vì một cuộc tranh luận “thông thái” dài lê thê đã xảy ra, và trong những trường hợp tương tự, lão luôn luôn xem các đối thủ của lão chỉ bằng nửa con mắt và tỏ ra khinh người thấy rõ.
– Không đúng thế đâu, không phải đâu hoàng thân ơi. Nửa giờ trước đây chúng ta đã thỏa thuận với nhau là không ai được cười lúc một người đang nói, như vậy thì người ta mới được an tâm mà nói điều họ muốn nói chứ… rồi sau đó cũng cứ để mặc cho những tên vô thần phản đối nếu các vị này lưu tâm đến vấn đề. Chúng ta đã bầu ông tướng làm chủ tọa ở đây. Phải chứ, thưa ngài! Nhưng bây giờ lại cái trò gì nữa? Cứ cái điệu này thì dù ai nói đều cũng có thể bị la ó cho im đi giữa lúc người ta đang phát biểu một tư tưởng cao vời, một tư tưởng sâu sắc đó, ngài ạ.
– Nào thì cứ nói đi, nói đi! Chẳng ai la ó anh đâu! Nhiều giọng nói nhao nhao lên.
– Nhưng đã nói, thì phải nói cho ra chuyện đấy!
– Cái “Ngôi Sao Ngải Cứu” đó là gì vậy? - Một người hỏi.
– Tôi chẳng hiểu một chút gì cả, - tướng Ivolgin trả lời và với một điệu bộ quan trọng, ông ta lấy lại vị thế chủ tọa của mình.
– Thưa hoàng thân, tôi vô cùng thích thú những cuộc tranh luận như thế này, thật là những cuộc bàn cãi thông thái lắm. - Keller nói, hắn vặn vẹo trong ghế ngồi với vẻ khoái trá ra mặt. - Thật là thông thái và đầy màu sắc chính trị, - hắn nói thêm và chợt quay sang Evgeni Pavlyts ngồi gần sát bên cạnh hắn. - Ông biết không, tôi rất thích đọc báo đăng những vụ tranh luận tại Nghị viện Anh quốc. Tôi không có ý lạm bàn những điều họ bàn cãi đâu, vì tôi đâu phải là chính trị gia, như ông cũng biết đấy, nhưng tôi lưu tâm đến cái cung cách thảo luận của họ, có thể nói là, hệt như các chính trị gia, những là: “vị tử tước cao quý đang hiện diện trước mặt tôi đây”, “vị bá tước tôn quý đã chia sẻ quan điểm cùng tôi”, “nhân vật đối lập rất đáng ngưỡng mộ của tôi, người đã khiến Âu châu rung động vì đề nghị của ngài”, đó, tôi có ý bảo tất cả những câu cú, những ngôn từ chính trị tinh vi, tế nhị đó, tất cả những thủ tục nghị trường của một dân tộc tự do mới là điều tôi yêu thích! Tôi khoái hết sức! Thưa hoàng thân, tôi lấy làm vô cùng khoái trá về điều đó! Trong chỗ sâu kín của linh hồn, tôi luôn luôn là một nghệ sĩ. Tôi thề đúng như vậy đó, thưa ông Evgeni Pavlyts.
– Vậy thì ý ông muốn nói là, - Gania đang đấu lý sôi nổi ở góc phòng bên kia, - hệ thống đường hỏa xa là một tai ách, một sự tàn phá của nhân loại, một dịch lệ đã trút xuống trái đất để làm ô uế “nước trường sinh” chứ gì? Có phải thế không nào?
Buổi tối hôm ấy, Gavrila Ardalionyts thật hết sức hăng say, vui vẻ và hứng chí, hoàng thân nhận thấy như vậy. Đã hẳn là gã đang đùa Lebedev, đang khích lão, nhưng rồi chính gã sau đó lại đâm nổi nóng.
– Không, không phải là đường hỏa xa đâu ông ơi, - Lebedev bẻ lại ngay, lúc đó lão hứng quá và cảm thấy sướng khoái vô biên. Đường hỏa xa không thôi đâu có làm ô uế “nước trường sinh”, nhưng điều đáng nguyền rủa chính là toàn thể, chính là trọn vẹn sự đời đấy, ngài ạ, nghĩa là trọn vẹn cái khuynh hướng đã bắt rễ từ nhiều thế kỷ qua trong toàn diện các lĩnh vực khoa học và các lĩnh vực thực tiễn, có lẽ mới thực sự đáng nguyền rủa đấy, ngài ạ.
– Sự nguyền rủa đó quả là có thật hay chỉ là có lẽ thôi đấy, - Evgeni Pavlyts hỏi. - Hẳn ông cũng thấy trong trường hợp này ta cần phải biết rõ điều đó.
– Thực quá đi chứ! Thực đáng nguyền rủa quá đi chứ! - Levedev hăm hở đáp.
– Này đừng có quá trớn như thế, Lebedev ạ, - Ptisyn mỉm cười bảo. - Buổi sáng tôi trông ông đôn hậu hơn nhiều.
– Nhưng mà tối đến thì tôi thẳng thắn hơn! Thẳng thắn và vui tính hơn lắm lắm! - Lebedev hớn hở quay qua vị kia, nói, - giản dị hơn, chân xác hơn, thật thà hơn và đáng quý trọng hơn, mặc dù rõ ràng là tôi đã đưa lưng ra cho quý vị công kích mà chẳng hề trách móc gì cả. Nào, bây giờ tôi thách thức tất cả các đấng vô thần ở đây: các người sẽ cứu rỗi thế gian này bằng cách nào, và các người sẽ tìm kiếm được ở đâu một nẻo chính cho thế giới này đây? Nào các người, hỡi những nhà khoa học, công kỹ nghệ gia, các hội viên nghiệp đoàn, các kẻ làm công ăn lương và tất cả các người: các người sẽ làm gì để cứu rỗi nhân loại? Bằng tín phiếu chăng? Mà tín phiếu là nghĩa lý gì chứ? Tín phiếu đưa quý vị đến đâu chứ?
– Ông thật là hiếu kỳ quá lắm, - Evgeni Pavlyts nhận xét.
– Thưa ông, theo ý tôi, ai mà không quan tâm đến những vấn đề đó thì chỉ là phường giá áo túi cơm, vô tài bất tướng mà thôi!
– Thì cứ cho ít ra cũng dẫn đến tính liên đới phổ quát và sự quân bình quyền lợi, - Ptisyn bảo.
– Nhưng chỉ có chừng đó thôi. Không còn một căn bản luân lý nào khác ngoài sự thỏa mãn cho thói tự kỷ trung tâm coi mình là cái rốn vũ trụ và nhu cầu về vật chất! Sự hòa bình của hoàn vũ, hạnh phúc của nhân loại tất cả chỉ… do nhu cầu mà ra thôi! Tôi xin phép hỏi: Tôi đã hiểu đúng ý ông bạn chưa?
– Nhưng mà nhu cầu chung về sinh sống, ăn uống đã tạo thành một niềm xác tín tuyệt đối và có căn bản khoa học, những nhu cầu đó sẽ không thể đáp ứng thỏa mãn được nếu không có sự liên đới phổ quát và sự liên kết các quyền lợi, điều này theo tôi đã là một tư tưởng đủ mạnh để làm nền tảng và là “nước trường sinh” cho các thế kỷ sắp đến của nhân loại rồi, - Gania nói, lúc này gã đã thực sự bực bội rồi.
– Nhu cầu ăn uống thật ra chẳng có gì khác hơn là bản năng tự tồn đấy thôi.
– Nhưng bản năng tự tồn há không đủ rồi sao? Nói cho cùng thì bản năng tự tồn là một định luật tự nhiên của nhân loại.
– Ai bảo ông thế? - Evgeni Pavlyts chợt kêu lên. - Đúng đó là một định luật, nhưng nó cũng chẳng tự nhiên gì hơn là định luật đào thải, và có lẽ cả định luật tự diệt nữa. Mà có phải sự tự tồn không thôi là toàn thể định luật tự nhiên của nhân loại không đây?
– Cha chả, - Ippolit kêu lên, nó quay thoắt sang nhìn Evgeni Pavlyts, nhưng thấy chàng đang cười, hắn cũng cười theo, thúc cùi chỏ vào Kolia đứng bên cạnh rồi lại hỏi nó mấy giờ rồi, hắn còn cầm lấy chiếc đồng hồ quả quýt bằng bạc của Kolia lên và nhìn hăm hở vào đôi kim. Thế rồi như quên hết sự đời, hắn nằm duỗi thẳng cẳng trên đi văng đầu gối lên hai tay mà nhìn chăm chăm lên trần nhà. Nửa phút sau, hắn lại ngồi vào bàn ngay ngắn và lắng nghe Lebedev lảm nhảm, lão lúc này đã đấu hót hăng tiết vịt hết chỗ nói.
– Đây là một tư tưởng đáo để và châm biếm, đúng là một tư tưởng khiêu khích nhất, - Lebedev nói, lão hăng hái công kích cái tư tưởng nghịch lý của Evgeni Pavlyts. - Một tư tưởng phát biểu ra để khiêu khích đối thủ vào cuộc chiến- nhưng đúng là một tư tưởng! Ông là một con người nhạo báng thế gian và là một sĩ quan kỵ binh (dù không phải là không có đầu óc!) bởi vì chính ông cũng không biết được tư tưởng của ông chính xác, thâm thúy đến mức nào nữa! Vâng, thưa ông! Định luật tự diệt và định luật tự tồn đều mạnh ngang nhau trong thế giới loài người! Quỷ dữ cầm quyền tể trị ngang nhau trên nhân loại cho đến kỳ hạn cuối cùng của nó, một hạn kỳ chúng ta chưa biết được. Quý vị cười chăng? Quý vị không tin có quỷ dữ à? Không tin có quỷ dữ là một tư tưởng nặng đầu óc Pháp, một tư tưởng viển vông. Quý vị có biết quỷ dữ là ai không? Quý vị không biết cả danh hiệu của quỷ, vậy mà quý vị lại cười nhạo báng hình hài của quỷ, giống như Voltaire[3] vậy, cười chân quỷ, đuôi quỷ, sừng quỷ, những thứ mà quý vị bịa đặt ra, vì giống tà linh này là một con quỷ to lớn, khủng khiếp và hắn không có chân, không có sừng như quý vị vẽ vời ra đâu. Nhưng ở đây không phải là một “vấn đề ma quỷ”.
– Sao ông biết đó không phải là một “vấn đề ma quỷ”? - Ippolit chợt kêu lên và cười như điên dại.
– Ý nghĩ của cậu thật tinh tế và hàm súc lắm, - Lebedev đồng tình. - Nhưng, một lần nữa, vấn đề không phải ở chỗ đó. Vấn đề của chúng ta là “nguồn nước trường sinh” đã bị hao mòn đi vì cớ sự gia tăng của…
– … Đường ray xe lửa chăng? - Kolia buột miệng.
– Không phải là đường hỏa xa đâu, hỡi người bạn trẻ hăng hái kia, nhưng là trọn vẹn cái khuynh hướng mà hệ thống hỏa xa ấy phục vụ, có thể nói như một tiêu biểu của kĩ thuật. Xe lửa xả tốc lực chạy đây đó, kêu rổn rảng, xinh xịch, tất cả nhằm mưu cầu hạnh phúc mà họ nói là cho nhân loại! Một nhà tư tưởng xuất thế nào đó đã than phiền rằng: “Loài người đã đâm ra ồn ào hết sức và quá thiên về kỹ nghệ, cho nên không còn bao nhiêu sự thư thái cho tâm linh”. Nhưng một tư tưởng gia khác, người thường đi đây đi đó, lại sẵn sàng trả đũa một cách hiu hiu đắc thắng: “Có lẽ thế, nhưng tiếng động rổn rảng, xình xịch của xe lửa có thể đem bánh mì đến cho nhân loại đang chết đói thì có lẽ còn hay hơn là sự thư thái cho tâm hồn”,[4]- rồi hãnh diện mà bỏ người kia ra đi. Nhưng mà tôi, thằng Lebedev dễ ghét này, lại không tin ở xe lửa đem bánh mì, đem cơm áo đến cho nhân loại! Vì nếu xe lửa đem cơm bánh đến cho nhân loại mà không hành động dựa trên một căn bản đạo đức thì nó có thể lạnh lùng gạt ra ngoài một phần lớn nhân loại không cho họ được thụ hưởng ân huệ mà nó đem đến đó, như đã từng xảy ra rồi.
– Xe lửa mà ông nói đến có thể lạnh lùng gạt thiên hạ ra ngoài được sao? - Một người hỏi.
– Thì đã xảy ra rồi đó, - Lebedev nhắc lại, không buồn chú ý đến câu hỏi đó. - Chúng ta đã có một người bạn của nhân loại là Maltux[5] đó thôi. Nhưng một kẻ bác ái hành động theo những nguyên tắc luân lý không vững thì lại hóa ra một kẻ ăn nuốt nhân loại, một tên ăn thịt người, ấy là chưa nói đến cái lòng tự thị, tự ái của hắn; bởi vì nếu quý vị mà chạm đến cái nọc tự ái của bất cứ một anh nào trong vô số những ông bạn của nhân loại đó, hắn sẽ chẳng ngại ngùng gì mà nổi lửa đốt rụi cả bốn phương thiên hạ cho hả cái tính thù vặt, giống như cung cách của hết thảy chúng ta và cứ nói ngay như của chính tôi đây, kẻ đê tiện đệ nhất trên đời đây, vì có lẽ tôi sẽ là kẻ đầu tiên đem củi đốt đến rồi bỏ chạy bay biến. Nhưng xin nhắc lại, vấn đề không phải là ở chỗ đó.
– Vậy thì vấn đề ở chỗ nào?
– Chán quá rồi đấy.
– Vấn đề nằm trong một giai thoại vụn vặt đã xưa lắm rồi, vì lẽ ra tôi đã phải kể hầu quý vị câu chuyện đó từ lâu rồi cơ. Trong thời đại chúng ta, trong xứ sở chúng ta mà tôi tin là quý vị ở đây rất yêu mến, cũng như tôi rất yêu mến và sẵn sàng hy sinh, đến giọt máu cuối cùng vì xứ sở đó…
Nói tiếp đi, nói tiếp đi!
– Trong xứ sở chúng ta cũng như tại Âu châu, những trận đói kém vĩ đại và khủng khiếp thường thăm viếng nhân loại, và cứ theo con số người ta ước tính và riêng tôi vẫn còn nhớ, thì cứ khoảng một phần tư thế kỷ lại có đói kém, nói cách khác, cứ hai mươi lăm năm lại có một trận đói kém. Tôi không dám quả quyết đó là con số chính xác, nhưng cứ tình thực mà nói thì những trận đói kém đó tương đối họa hiếm.
– Tương đối so với cái gì chứ?
– Tương đối so với thế kỷ mười hai và những thế kỷ trước cũng như ngay sau thế kỷ đó. Vì cứ theo sử sách, trong thời kỳ đó những trận đói kém gây hãi hùng cho nhân loại cứ hai năm lại xảy ra một lần, hay ít nhất là cứ ba năm một, cho nên thảm trạng đó đã đưa con người đến chỗ ăn thịt đồng loại, dù họ giấu nhẹm điều đó. Có một lão già ăn hại đái nát chẳng ai bảo đã khai ra rằng trong quãng đời dài dặc và khốn cùng của lão, một mình lão đã bí mật giết chết rồi ăn thịt sáu mươi ông thầy tu và một số trẻ con, con nhà quyền thế- khoảng sáu đứa con nít thôi, quá ít so với con số thầy tu mà lão đã tiêu thụ. Hình như lão không hề sờ tới các tục tử đã trưởng thành.
– Không thể như thế được! Ông tướng chủ tọa kêu lên bằng một giọng gần như bị xúc phạm. - Kính thưa quý vị, tôi thường thảo luận chuyện trò với ông ta, luôn luôn về những đề tài giống như thế, nhưng chưa lần nào ông ta đưa ra những điều vô lý nghe thật trái tai và chẳng có một li sự thật nào như thế cả!
– Này ông tướng, ngài hãy nhớ lại cái vụ vây hãm thành Carx đi. Và kính thưa quý vị, quý vị có thể tin chắc rằng câu chuyện của tôi vừa kể đó hoàn toàn đúng sự thật, về phần tôi, tôi xin phép thưa rằng bất cứ một sự thật nào cũng vậy, dù nó có những định luật bất biến của nó, nhưng nó vẫn gần như là luôn luôn vượt khỏi mức có thể tin được và có thể có được. Lắm khi, sự kiện còn cho thấy rằng càng thật bao nhiêu càng có vẻ kém thật bấy nhiêu.
– Nhưng mà ông có thể ăn hết sáu mươi ông thầy tu được không? - Mọi người hỏi lão và cười ầm lên.
– Có phải là ông ta ăn từng ấy người một lúc đâu, có lẽ là ăn từ từ trong khoảng thời gian mười lăm hay hai mươi năm gì đó, điều đó thật dễ hiểu và tự nhiên quá mà.
– Tự nhiên à?
– Vâng, tự nhiên chứ! - Lebedev đáp với một vẻ khăng khăng của nhà mô phạm. - Với lại, một tu sĩ công giáo thì ngay bản chất của ông ta vốn đã là tuân phục và hiếu kỳ rồi, cho nên thật là quá dễ dàng mà dụ ông ta đi vào rừng hay vào một nơi khuất nẻo nào đó rồi xử trí với ông ta như cách tôi đã nói vừa rồi đó. Thế nhưng tôi không chối cãi rằng con số người bị ăn thịt đó hơi thái quá, nó đã đi đến chỗ vô độ rồi.
– Có lẽ đúng đó, thưa quý vị, - hoàng thân chợt đưa ra nhận xét.
Cho mãi đến lúc đó, hoàng thân vẫn yên lặng ngồi nghe mọi người bàn cãi mà không hề nhập cuộc, dù đôi lúc chàng cũng sẵn sàng góp cười hết mình với tất cả mọi người. Chàng thật sung sướng khi thấy tất cả đều vui vẻ, náo nhiệt như thế, dù rằng họ nốc rượu cũng nhiều. Có lẽ chàng sẽ chẳng hề hé răng trong suốt buổi tối hôm đó, thế nhưng chợt một ý tưởng của chàng đã thành lời. Chàng nói một cách hết sức trang trọng đến nỗi mọi người đều quay lại nhìn chàng chăm chú.
– Thưa quý vị, tôi muốn nói rằng trong thời kỳ ấy, những trận đói kém thường xảy ra lắm. Chính tai tôi cũng có nghe nói đến, mặc dù tôi không được thông thạo lịch sử cho lắm. Nhưng tôi nghĩ sự việc chắc đã phải xảy ra như thế thật. Trong những dịp dạo chơi trên miền núi non Thụy Sĩ, tôi đã bàng hoàng trước những cảnh hoang phế của các tòa lâu đài phong kiến thời cổ xây chót vót trên những triền núi hay trên những vách đá dựng đứng, cao ít nhất là nửa dặm (nghĩa là nếu đi lên thì phải quanh co mất nhiều dặm đường mới tới). Quý vị cũng đã biết một tòa lâu đài là như thế nào rồi: Nghĩa là cả một trái núi bằng đá. Nghĩa là cả một công trình lao động khủng khiếp không thể tưởng tượng được! Và đã hẳn là một công trình xây dựng của đám dân nghèo lam lũ trong các nước chư hầu. Ngoài việc xây cất lâu đài, họ còn phải đóng đủ thứ sưu cao, thuế nặng và cung dưỡng cho giới tăng lữ nữa. Vậy thì làm sao họ kiếm được miếng sống, rồi lại còn phải canh tác đất đai nữa? Chắc lúc đó họ chỉ có một số người đủ sức lao động thôi, còn ngoài ra mọi người đã chết dần chết mòn vì nạn đói kém rồi, vì nói trắng ra họ chẳng có gì để ăn hết. Lắm lúc tôi ngạc nhiên tự hỏi làm sao đám dân này không bị diệt chủng, làm sao không có việc gì xảy ra đến với họ, làm sao họ vẫn cứ chịu đựng và tồn tại được? Lebedev chắc chắn có khi bảo rằng trong số họ có những kẻ ăn thịt người, có lẽ rất nhiều nữa là đằng khác, duy có điều tôi không hiểu tại sao ông ta lại đem cả mấy vị thầy tu vào đây, hoặc giả ông ta có ngụ ý gì khi nói như vậy.
– Đã hẳn là vì ở thế kỷ mười hai, người ta chỉ có thể ăn thịt mấy ông thầy tu được thôi, vì chỉ có mấy ngài ấy là mập béo, - Gavrila Ardalionyts nhận xét.
– Thật là một tư tưởng sáng giá và đúng phong phóc! - Lebedev kêu lên. - Vì lão già đó không hề sờ đến bọn người quyền quý. Sáu mươi ông thầy tu và không có một kẻ quyền quý nào hết, thật là một tư tưởng ghê gớm! Một tư tưởng lịch sử và có giá trị về thống kê học lắm lắm! Những sự kiện như thế đã giúp những kẻ sáng trí và hiểu biết viết nên lịch sử, vì nó đã được minh chứng bằng sự chính xác của toán học rằng trong thời đó một ông thầy tu ít nhất cũng sung sướng hơn và được cung dưỡng béo bổ hơn gấp sáu mươi lần đám nhân loại còn lại. Và cũng dám mập hơn đến sáu mươi lần nữa lắm!
– Phịa quá! Phịa quá Lebedev ơi! - Mọi người cười ha hả chung quanh lão.
– Tôi đồng ý đây là một tư tưởng lịch sử, nhưng rồi ông muốn đi đến đâu đây? - Hoàng thân lại nói (chàng nói một cách trang trọng và không một thoáng châm chọc, giễu cợt nào nhắm vào Lebedev hết, trong khi lão đáng là cái đích chế giễu của mọi người, cho nên lời lẽ của chàng trái ngược hẳn với giọng điệu chung của đám đông đến nỗi nghe nó khôi hài quá sức, một lúc sau mọi người đã trở lại cười chính chàng, dù chàng không nhận thấy).
– Thưa hoàng thân, ngài không thấy lão là một tên điên sao? - Evgeni Pavlyts nghiêng mình sát qua bên hoàng thân, nói. - Người ta vừa nói với tôi ở đây rằng lão bị mấy ông thầy cãi và các lời biện bác của họ ám ảnh, lão lại còn muốn đi thi làm luật sư nữa. Tôi hy vọng được nghe lão thuyết một bài nhai lại thật hay ho!
– Tôi đang đi đến một kết luận trọng đại, - Lebedev vẫn đao to búa lớn, - nhưng trước hết, chúng ta hãy xét đến khía cạnh pháp lý và tâm lý của kẻ tội phạm này… Chúng ta thấy rằng kẻ tội phạm đó- hay có thể nói là thân chủ của tôi- dù không làm sao tìm được lương thực nào khác, nhưng đã nhiều lần trong quãng đời li kỳ của у, у đã tỏ ra muốn ăn năn, thông hối và kiêng không đụng đến thịt nhà tu nữa. Điều đó đã được biểu lộ qua sự kiện sau: chúng ta biết у đã ăn thịt năm, sáu đứa trẻ con, một con số vô nghĩa nếu đem ra so sánh, nhưng lại đầy ý nghĩa trên một phương diện khác. Rõ ràng thân chủ tôi đã bị nỗi hối hận giày vò đến khốn khổ, khốn nạn (bởi у là một con chiên ngoan đạo và là một người có ý thức, như tôi sẽ chứng tỏ với quý vị sau đây). Y tha thiết muốn được vợi bớt tội lỗi. Y đã thử thay thực đơn sáu lần, nghĩa là ăn thịt người thế tục, chứ không ăn thầy tu nữa. Không ai chối cãi được đó là một cuộc thử nghiệm; vì nếu cho đó là một vấn đề thay đổi thực đơn cho khoái khẩu thì con số sáu ấy nó vô nghĩa quá; tại sao chỉ có sáu mà không phải là ba mươi chứ? (Ý tôi muốn chia hai: 30 thầy tu, 30 tục tử). Còn nếu đó là một cuộc thử nghiệm phát xuất từ nỗi tuyệt vọng, sợ hãi vì đã phạm thượng và xúc phạm đến giáo hội thì lúc đó, con số sáu thật là dễ hiểu vậy! Vì sáu lần thử thách để trấn an lương tâm là quá đủ rồi, dù cũng chẳng đi đến kết quả nào. Điểm trước tiên, theo ý tôi, trẻ con thì bé quá- nghĩa là không đủ lớn- cho nên trong một thời gian nhất định nào đó, cái số cầu về trẻ con nhà danh giá phải gấp ba hay gấp năm lần con số tu sĩ, thế là tội nhẹ hơn ở phương diện này thì lại nặng hơn ở phương diện khác, và có tính cách lượng hơn là chất. Thưa quý vị, đó là tôi đặt mình vào tâm trạng của một tội nhân ở vào thế kỷ mười hai mà tính toán như thế. Cứ như tôi biết, với tư cách một con người ở thế kỷ mười chín, có lẽ tôi đã lập luận khác hẳn, có thể nói với quý vị như vậy. Vì vậy, kính thưa quý vị, không có lý do gì quý vị lại cười nhạo tôi cả, và trong vị thế của ông, thưa ông tướng, thật ông không nên, không phải chút nào hết. Hai nữa, theo quan điểm của riêng tôi, thì trẻ con không đủ chất bổ dưỡng, có lẽ thịt trẻ con ngọt quá, ngấy quá cho nên đã chẳng khoái khẩu mà lại còn đau khổ vì hối hận nữa. Vậy thưa quý vị, để kết luận, thì lời cuối cùng, lời sau hết này có hàm chứa giải pháp cho một trong những vấn đề hóc búa nhất của thời đại đó cũng như thời đại của chúng ta đây! Đó là, kẻ tội phạm rốt cuộc đã đến tự cáo giác mình với giới tăng lữ rồi nạp mình cho nhà chức trách. Người ta thắc mắc không biết những hình phạt gì sẽ chờ đợi у trong thời buổi đó- nào là bánh xe lăn, giàn hỏa, rồi lửa…! Ai đã bắt у phải đi tố giác mình? Tại sao у lại không ngừng ở con số sáu mươi và cứ giữ kín mọi sự cho đến ngày trút hơi thở cuối cùng? Tại sao у lại không tự thú với các nhà tu mà thôi rồi cứ sống trong nỗi sám hối hệt như một nhà khổ tu? Sau rốt, tại sao у lại không đi tu luôn cho xong? Câu trả lời là đây: Chắc chắn là phải có một động lực nào đó mạnh hơn giàn hỏa, mạnh hơn một thói quen đã kéo dài suốt hai mươi năm. Chắc chắn phải có một tư tưởng nào đó mãnh liệt hơn là thiên tai, địa họa, hơn là những vụ mất mùa, những màn tra tấn, dịch lệ, phong cùi cùng tất cả những cảnh địa ngục trần gian vượt ngoài sức chịu đựng của con người, sở dĩ con người đã chịu đựng nổi những điều kể trên chính là nhờ nguồn tư tưởng đó đã ràng buộc nhân loại với nhau và hướng dẫn tâm hồn họ, làm sinh hoa kết trái cho “nguồn nước trường sinh”… Hãy chỉ cho tôi xem một điều gì mạnh mẽ được như thế trong thời đại của tội ác và của đường hỏa xa chúng ta đây- nghĩa là, ta phải nói là thời đại của tàu thủy chạy hơi nước và của đường hỏa xa, nhưng tôi chỉ nói là thời đại của tội ác và của đường hỏa xa bởi vì tôi say, nhưng mà đúng vậy. Hãy chỉ cho tôi thấy một tư tưởng nào ràng buộc con người lại với nhau ngày hôm nay có mãnh lực bằng nửa cái tư tưởng của thời đại ấy? Vậy thì, dám chắc rằng “nguồn nước trường sinh” đã không bị hao mòn hay bị uế tạp bởi “Ngôi sao Ngải Cứu” đó, bởi hệ thống đường ray xe lửa chằng chịt làm rối trí con người đó đâu. Và đừng toan dọa tôi với sự thịnh vượng, giàu có của quý vị, với sự họa hiếm của nạn đói kém, và với tốc độ của các phương tiện giao thông! Ở đâu giàu thịnh hơn, ở đó sức mạnh suy giảm đi; nguồn tư tưởng ràng buộc con người lại với nhau không còn tồn tại nữa; mọi sự đều hóa ra mềm nhũn, mọi sự đều mục nát, và con người cũng mục nát, hư thối luôn. Vâng, tất cả mọi người chúng ta đều mục nát hết! Nhưng như thế đủ rồi, đó không phải là một vấn đề cho lúc này. Vấn đề cho lúc này, thưa hoàng thân tôn kính, là dọn thức ăn lên cho quý khách của chúng ta dùng, có phải thế không ạ?
Lebedev đã khiến cho một vài vị thính giả đâm bực bội thật sự (cũng nên ghi nhận rằng trong suốt lúc đó, rượu cứ mở nút đều đều), bây giờ lão lại lập tức xoa dịu tất cả các đổi thủ của mình bằng lời kết luận bất ngờ đó. Lão ta gọi cách kết luận như vậy là một “ngón nghề xoay ngược tình thế của trạng sư”. Tiếng cười vui lại vang dậy, quan khách lại hân hoan, khoái trá, mọi người đều đứng dậy khỏi bàn cho duỗi chân, duỗi cẳng và thơ thẩn thả dạo trên hàng hiên. Chỉ có Keller là vẫn còn bất mãn với bài diễn thuyết của Lebedev và hắn bực mình ghê lắm.
– Y công kích sự giáo huấn, у tuyên truyền cho thói cuồng tín của thế kỷ mười hai, у nhăn mặt làm điệu, làm bộ và không có một chút thực tâm nào hết. Thế у thu lợi bằng gì từ ngôi nhà này nào, cứ thử trả lời tôi xem? - Hắn nói oang oang làm mọi người chung quanh phải dừng bước.
– Tôi biết có một nhà giải nghĩa sách Khải Huyền thứ thiệt, - ông tướng từ bên góc kia nói với đám thính giả, đặc biệt là với Ptisyn, kẻ mà ông ta đang nắm lấy cúc áo, - đó là ông Grigori Xemionovitr Burmixtrov quá cố, ông ta có tài làm cho con tim người nghe phải bốc lửa. Đầu tiên ông ta đeo mục kỷnh vào, mở một pho cổ thư vĩ đại đóng bìa da đen cẩn thận, à phải, ông ta còn có một bộ râu bạc và hai cái bội tinh “Vì lòng từ thiện” nữa chứ. Ông ta mở lời một cách thật là nghiêm nghị, thật là trang trọng, các tướng lĩnh đều cúi đầu chào ông ấy và các mệnh phụ phu nhân thì ngất xỉu luôn, vâng, đúng thế đó, còn ở đây thì anh chàng này lại kết thúc câu chuyện bằng một màn ăn uống! Thật chẳng ra thể thống gì nữa!
Ptisyn lắng nghe ông tướng nói, mỉm cười, ông có vẻ sắp cắp mũ lên ra đi, nhưng cũng chưa quyết ý được hoặc giả đã quên khuấy cả ý định của mình rồi. Trước lúc mọi người đứng dậy khỏi bàn, Gania thôi không uống nữa và đẩy ly sang một bên; một đám mây u ám kéo qua khuôn mặt gã. Lúc mọi người đã đứng dậy khỏi bàn rồi, gã bước đến bên Rogojin và ngồi xuống cạnh gã này. Hẳn mọi người dám nghĩ là hai người đang thân thiết với nhau hết sức. Rogojin lúc đầu đã mấy lần dợm bước lẳng lặng ra đi rồi, bây giờ gã lại ngồi im thin thít, đầu cúi gầm xuống như thể đã quên khuấy mất chuyện muốn bỏ đó mà đi. Suốt buổi tối hôm đó, gã không uống một giọt rượu nào và thần thái rất ưu tư. Họa hoằn gã mới nhướn mắt lên nhìn mọi người xung quanh. Lúc này hình như gã đang chờ đợi một điều gì xảy ra tại đây; một điều vô cùng quan trọng đối với gã và gã đã nhất quyết không bỏ đi nếu điều ấy chưa xảy ra.
Hoàng thân chỉ uống có đôi ba ly và thấy thơ thới đôi chút, thế thôi. Lúc đứng dậy khỏi bàn, chàng bắt gặp tia mắt của Evgeni Pavlyts, nhớ lại câu chuyện hai người đã nói với nhau, chàng cười một cách hòa nhã. Evgeni Pavlyts gật đầu với chàng và chợt ra dấu chỉ Ippolit là kẻ chàng đang nhìn đăm đắm lúc đó. Ippolit đang duỗi chân trên đi-văng mà ngủ.
– Này hoàng thân, tại sao cái thằng ranh con đó nó cứ bám riết lấy ngài thế? - Chàng nói thẳng ra bằng một giọng bực bội rõ rệt và hằn học nữa, đến nỗi hoàng thân phải ngạc nhiên. - Tôi dám cuộc rằng hắn đang nuôi một ý tưởng hắc ám, tai ác nào trong đầu hắn đấy.
Hoàng thân đáp:
– Tôi nhận thấy hôm nay ông có vẻ đặc biệt chú ý đến cậu ấy quá, Evgeni Pavlyts ạ. Có đúng thế không?
– Ngài cũng có thể nói rằng trong tình cảnh hiện tại của tôi, tôi đã có đủ thứ chuyện phải lao tâm, khổ trí rồi, cho nên tôi hết sức ngạc nhiên thấy mình không thể quay mặt đi đừng nhìn cái bản mặt dễ ghét ấy suốt buổi tối nay được!
– Cậu ấy có khuôn mặt đẹp trai!
– Thì kia kìa, hãy nhìn đi! - Evgeni kêu lên mà kéo lấy tay hoàng thân. - Kia kìa!
Một lần nữa, hoàng thân lại trố mắt nhìn Evgeni Pavlyts với nỗi kinh ngạc.
❀ ❀ ❀
[1] Hamlet: Hoàng tử nước Đan Mạch; Hamlet là tên của một trong những bi kịch lừng danh của W. Secxpia, đại thi hào Anh.
[2] Sách Khải huyền, chương XXII, điều 5.
[3] Voltaire (1694-1778): văn hào Pháp - khuynh hướng hoài nghi.
[4] Ý nói về cuộc tranh luận giữa nhà văn lãng mạn, xa rời thực tế V. X. Petrenrin và nhà văn, nhà triết học Nga A.I. Gerxen (1812-1870) đăng trên tạp chí niên giám Sao Bắc Cực (1861) và được in trong hồi ký Quá khứ và trầm tư (1852-1868) của Gerxen. Gerxen viết rằng: “Phải sợ gì nhỉ? Lẽ nào những tiếng ồn ào của xe lửa đã chẳng mang bánh mì đến cho nhân loại đói rách đó sao”.
[5] Thomas Robert Maltux (1766-1834): Nhà truyền đạo, nhà kinh tế học người Anh, viết tác phẩm Kinh nghiệm về định luật dân số (1789). Ông cho rằng đói kém bần hàn là hậu quả tất yếu của sự tăng dân số quá mức và mọi cải cách xã hội nhằm giúp người nghèo đều vô hiệu. Ông kêu gọi giảm tỉ lệ sinh đi vì sự tồn tại của nhân loại.