Chàng Ngốc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 41 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

– Đấy, bây giờ cả nhà cứ nhìn tôi với vẻ tò mò háo hức thế kia, - chàng hoàng thân mở đầu câu chuyện, - mà tôi không đáp ứng được thì có khi phu nhân và các cô lại giận tôi mất. Xin lỗi, tôi nói đùa đấy, - chàng vội nói thêm với nụ cười vui vẻ trên môi. - Ở bên ấy… chỗ chúng tôi nhiều trẻ con lắm, và tôi lúc nào cũng quanh quẩn với đám trẻ con, toàn trẻ con thôi. Chúng là trẻ trong làng, học cùng trường với nhau cả. Không phải tôi dạy chúng nó học đâu; không, việc đó đã có thầy giáo ở trường, thầy Jules Tibo; kể ra thì tôi cũng có dạy đấy, nhưng chủ yếu là quanh quẩn với chúng thôi, và cả bốn năm trời của tôi đều trôi qua như vậy. Tôi cũng chẳng có việc gì khác nữa. Tôi nói với chúng đủ mọi điều, chẳng giấu gì hết. Các ông bố và bà con họ hàng bọn trẻ không ai là không bực với tôi vì rút cuộc bọn trẻ cứ quấn lấy tôi, không thể thiếu tôi được, thậm chí đến ông giáo ở trường cuối cùng cũng trở thành kẻ thù số một của tôi. Tôi thành người có lắm kẻ thù, mà chung quy chỉ tại trẻ con. Ngay cả ngài Sneider cũng trách cứ tôi. Mà họ sợ cái gì mới được chứ? Cái gì cũng có thể nói với trẻ con được hết, - chả có gì là không được; tôi cứ lấy làm lạ là làm sao mà người lớn lại ít hiểu trẻ con đến thế, ngay cả những ông bố bà mẹ cũng không hiểu con cái mình được bao nhiêu. Đừng viện cớ là trẻ con còn bé, không nên biết sớm mà giấu chúng một điều gì. Nghĩ như thế thì thật đáng buồn và bất hạnh thay! Mà chính bọn trẻ cũng thấy rõ là các ông bố cứ coi chúng là một lũ oắt con chẳng hiểu được gì trong lúc chính chúng chẳng có gì là không hiểu.

Người lớn thường không biết được rằng ngay trong những vấn đề nan giải, một đứa bé cũng có thể đưa một lời khuyên không thể coi thường. Trời ơi! Khi chú chim non xinh xẻo ấy đưa mắt nhìn ta với vẻ tin cậy và vui sướng thì ta còn nỡ lòng nào mà lừa dối nó được nữa! Tôi gọi bọn trẻ là những chú chim non vì trên thế gian này chẳng có gì đẹp đẽ hơn một chú chim non. Tuy nhiên, cả làng người ta bực với tôi chủ yếu vì một chuyện lôi thôi… đằng này ông Tibo thì chỉ ghen với tôi thôi; lúc đầu ông ấy cứ lắc đầu quầy quậy, ra cái điều quá ngạc nhiên về cái chuyện tôi nói gì trẻ con cũng hiểu, còn ông ấy bảo gì chúng nó cũng trơ ra, về sau ông ấy cứ giễu cợt tôi ra mặt khi tôi bảo ông ấy rằng anh em mình sẽ chẳng dạy bảo chúng được điều gì hết, mà chúng còn dạy lại chúng ta nữa ấy. Và làm sao mà ông ấy lại có thể ghen ghét tôi, đặt điều vu oan giá họa cho tôi khi chính ông ấy sống chết với bọn trẻ cơ mà! Nhờ có trẻ con mà có người lấy lại được tinh thần đấy… Hồi ấy trong viện điều dưỡng của ngài Sneider có một bệnh nhân, một con người quá đỗi bất hạnh. Nỗi bất hạnh khủng khiếp đến mức khó lòng còn thấy được ở đâu. Ông ấy được gửi vào viện để chữa chứng loạn óc; theo tôi thì chả loạn đầu loạn óc gì đâu, chỉ tại ông ấy đau khổ ghê gớm quá mới thành ra thế đấy thôi chứ bệnh tật gì. Và giá như phu nhân và các cô biết được là cuối cùng thì bọn trẻ của chúng tôi đã trở thành những vị cứu tinh như thế nào đối với ông ta… Nhưng tốt nhất là để sau này tôi hãy kể cho cả nhà nghe về bệnh nhân này; bây giờ tôi sẽ kể về cái giai đoạn đầu của tôi ở bên ấy đã. Lúc đầu thì bọn trẻ không mến tôi đâu. Tôi thì người ngợm có phần ngộc nghệch, dáng vẻ lù rù; mặt mũi cũng chẳng lấy gì làm sáng sủa, tôi biết chứ… cuối cùng tôi còn là một anh chàng người nước ngoài nữa. Lúc đầu thì bọn trẻ cứ giễu cợt tôi, về sau còn lấy đá ném tôi khi nhìn thấy tôi hôn cô bạn Marie nữa. Tôi chỉ hôn cô ấy có mỗi một lần thôi… Không, xin các vị đừng cười, - chàng hoàng thân vội vàng ngăn thính giả lại, không muốn họ cười mình nữa, - không có chuyện yêu đương gì ở đây đâu. Giá mà các vị biết được đó là một sinh linh khốn khổ như thế nào thì chính các vị cũng sẽ lấy làm thương cảm chẳng kém gì tôi. Cô ta là người ở ngay trong làng. Mẹ cô ta là người già cả, và trong túp nhà ọp ẹp của mẹ con họ, một trong hai khoang cửa sổ được hương chức trong làng cho phép ngăn ra làm nơi bày bán mấy thứ lặt vặt như dây giày, chỉ khâu, thuốc lá, xà phòng cho bà lão kiếm một chút, lấy cái đắp đổi qua ngày. Bà lão là người ốm yếu, hai chân sưng tấy nên chỉ ngồi chết một chỗ. Marie là con gái bà, hai mươi tuổi, người gầy yếu; cô ta nhiễm bệnh lao phổi từ lâu nhưng vẫn phải đi làm thuê cho các nhà ở quanh vùng, làm công nhật, công việc khá nặng nhọc: cọ sàn, giặt giũ, quét sân, dọn dẹp chuồng trại. Một viên chức người Pháp có việc đảo qua làng đã dụ được cô nàng bỏ đi theo hắn nhưng một tuần sau đã bỏ lại cô ta một thân một mình ngay trên đường cái và lặn mất tăm. Cô ta thất thểu lê bước về nhà, vừa đi vừa phải xin ăn, mặt mũi lem nhem, quần áo tả tơi, giày cũng tả tơi; cô ta đi bộ suốt một tuần, đêm ngủ ngoài đồng, bị cảm mạo nặng; chân đầy vết thương, hai tay cũng sưng vù, nứt nẻ. Tuy nhiên, trước đó cô ta cũng chẳng lấy gì làm xinh đẹp; được cái đôi mắt lúc nào cũng ánh lên vẻ dịu dàng, hiền hậu, hồn nhiên. Cô ta ít nói kinh khủng. Ngày trước cũng đã có lần cô ta bỗng cất tiếng hát trong lúc làm việc và tôi nhớ là mọi người đều sửng sốt và cười phá lên: “Marie hát đấy! Đúng không nào? Marie hát đấy!”. - Và cô ta ngượng chín người, từ bấy chẳng dám hát hò gì nữa. Dạo ấy mọi người còn tử tế với cô nhưng kể từ khi cô đau ốm tiều tụy trở về thì thật chẳng còn ai thương xót gì cô nữa. Những con người tàn nhẫn biết bao! Những định kiến của họ đối với chuyện trớ trêu này mới nặng nề sao! Bà mẹ là người đầu tiên đón cô trở về với thái độ tức tối và khinh bỉ: “Mày bôi gio trát trấu vào mặt tao rồi đấy”. Bà ta cũng là người đầu tiên bêu riếu cô: được tin Marie đã trở về, mọi người đổ xô đến xem Marie, và gần như cả làng xúm cả vào túp nhà của bà già, thôi thì nam phụ lão ấu, không thiếu một ai, cả một đám đông hối hả, háo hức lạ thường. Marie nằm phủ phục trên sàn, dưới chân mẹ già, đói khát, rách rưới, và chỉ còn biết khóc. Khi mọi người xúm đến, cô ta giấu mặt trong đám tóc rối bù rồi cứ thế úp chụp xuống sàn. Mọi người chung quanh nhìn cô ta với vẻ gớm ghiếc; các ông già lớn tiếng mạt sát, rủa xả, bọn trai trẻ thậm chí còn cười cợt nữa, cánh đàn bà cũng rủa xả, mạt sát ra trò, nhìn cô ta với vẻ khinh bỉ, coi như rơm rác. Bà mẹ cứ thế ngồi im, mặc ai muốn nói gì thì nói, thậm chí còn gật đầu tán thưởng nữa kia. Trong lúc đó thì bà cũng đang ốm nặng và hầu như đang hấp hối; hai tháng sau bà chết thật; biết là mình sắp chết nhưng mãi đến hết đời bà vẫn không tính chuyện làm lành với con gái, thậm chí không thèm nói với nó lấy nửa lời, đuổi nó xuống dưới nhà mà ngủ ở đống cỏ khô, hầu như chẳng cho ăn một chút gì. Bà thường xuyên phải ngâm đôi chân đau vào nước ấm; ngày nào Marie cũng phải rửa chân cho mẹ, chăm sóc mẹ; bà mẹ cứ lẳng lặng để cho con hầu hạ, không bao giờ nói được với con lấy một lời âu yếm. Marie chịu đựng hết và sau này khi đã quen biết cô ta tôi mới nhận ra rằng cô vẫn coi tất cả những chuyện đó là hợp lý, bản thân mình chỉ là con sâu cái kiến mà thôi. Khi bà lão đã đi đến chỗ liệt giường liệt chiếu thì các bà già trong làng bắt đầu thay phiên nhau đến trông nom theo tập tục địa phương. Thế là người ta chẳng còn cho Marie ăn uống gì nữa hết; khắp làng trên xóm dưới người ta xua đuổi cô ta, thậm chí chẳng còn ai muốn thuê mướn cô ta như trước nữa. Mọi người đều phỉ nhổ cô ta, cánh đàn ông thậm chí còn không coi cô ta là người phụ nữ bình thường nữa, lúc nào cũng buông lời khả ố trước mặt cô ta. Thi thoảng, cũng chỉ là chuyện họa hoằn thôi, có những anh quá chén vào ngày chủ nhật đã tìm cách giải trí trong việc bố thí cho cô ta bằng cách ném thẳng những đồng xu xuống đất; Marie lẳng lặng nhặt lên. Độ ấy cô ta đã bắt đầu ho ra máu. Cuối cùng, khi bộ cánh tả tơi của cô ta đã tã quá xơ mướp thì cô ta không còn dám thò mặt ra đường nữa; từ hôm về nhà cô ta toàn đi chân đất. Vậy là bao nhiêu người, đặc biệt là cả một lũ trẻ con có đến hơn bốn chục đứa học trò bắt đầu trêu chọc, thậm chí còn ném bùn vào người cô ấy nữa. Cô ấy xin gã chăn bò cho cô ấy đi theo để trông bò giúp nhưng gã nhất định không nghe, cứ đuổi xơi xơi. Cô ta bèn tự ý đi theo đàn gia súc suốt cả ngày, ngay từ lúc mở cửa chuồng. Vậy mà cô ấy cũng đã rất được việc cho gã chăn bò đấy, gã cũng nhận thấy thế và không xua đuổi cô ấy nữa, thậm chí thỉnh thoảng còn mời cô ấy dùng tạm chút bữa trưa còn lại, có phô-mai, bánh mì tử tế. Gã thấy mình ăn ở như thế là phúc đức lắm rồi. Ngày mẹ cô mất, cha mục sư ngang nhiên mạt sát Marie trong nhà thờ. Vẫn áo váy rách bươm, Marie đứng khóc bên linh cữu. Người ta xúm đông lại chờ xem cô ta sẽ vừa khóc vừa đi theo linh cữu ra sao; lúc bấy giờ cha mục sư, - cha hãy còn trẻ lắm nhưng cứ làm như ta là một nhà truyền giáo có tầm cỡ lớn lao - vừa điểm mặt Marie vừa nói với mọi người: “Đây là kẻ đã gây nên cái chết cho người phụ nữ đáng kính này (điều này không đúng vì bà lão đã đau ốm hai năm nay rồi), lúc này y thị đang đứng trước mặt các con nhưng không dám ngước mắt nhìn ai vì đã bị Chúa điểm mặt chỉ tên rồi; y thị phải đi chân trần, phải mặc áo rách thì đó chính là lời cảnh báo cho những kẻ hư thân mất nết! Mà y thị là ai? Y thị chính là con gái của bà lão xấu số này!”, vân vân và vân vân. Và các vị hãy hình dung giúp: cử chỉ hèn hạ đó lại được hầu hết mọi người xung quanh tán thưởng, nhưng… bỗng xảy ra một chuyện bất ngờ; trẻ con đã hết lòng bênh vực cô ta vì hồi đó bọn nhóc đã đứng cả về phía tôi mà trở nên quý mến Marie. Chuyện là thế này: Tôi muốn làm được điều gì đó để giúp đỡ Marie; cô ta đang rất cần tiền, mà tôi thì chẳng bao giờ có lấy một xu. Tôi có một chiếc kẹp nhỏ bằng kim cương, tôi bán vội nó cho một gã buôn quần áo cũ đi rong quanh các thôn làng lấy tám franc[1], trong lúc nó đáng giá bốn mươi franc là cái chắc. Tôi loay hoay mãi mới gặp riêng được Marie bên ngoài bờ giậu của làng, sau một gốc cây ngay cạnh con đường mòn dẫn lên núi. Tôi đưa ngay cho cô ta tám franc và dặn cô phải tiêu dè vì tôi nhẵn túi rồi, rồi tôi hôn cô ta và bảo cô ta chớ nghĩ là tôi có ý đồ gì xấu, tôi hôn cô thế này không phải vì yêu mà vì tôi rất thương cô và ngay từ đầu tôi đã không hề nghĩ cô là người có lỗi mà chỉ là một cô nàng bất hạnh mà thôi. Tôi nóng lòng muốn được vừa an ủi vừa thuyết phục cô là không cần phải tự coi mình là kẻ hèn kém hơn ai hết nhưng hình như cô không hiểu. Tôi nhận ra ngay điều đó, cho dù cô ta hầu như chẳng nói gì, cứ đứng ì ra trước mặt tôi, cụp mắt xuống và ngượng chín người. Tôi vừa dứt lời thì cô ta hôn tay tôi, tôi cũng cầm lấy tay cô định hôn thì cô bỗng rụt tay lại. Thì ra bọn trẻ con đã nhìn thấy chúng tôi, cả một tốp khá đông: về sau tôi mới vỡ lẽ là chúng đã để ý theo dõi tôi khá lâu rồi. Chúng bắt đầu huýt sáo, vỗ tay và cười ầm lên, còn Marie cắm cổ bỏ chạy. Tôi toan cất tiếng thì chúng đã ném đá tới tấp vào người tôi. Ngay hôm đó cả làng đều biết chuyện; tiếng xấu lại đổ cả lên đầu Marie: mọi người lại càng ghét bỏ cô hơn. Tôi còn nghe nói là người ta đã định trừng phạt cô ta nhưng đội ơn Chúa, điều đó đã không xảy ra; bù lại, bọn trẻ cứ xúm vào để chặn đường cô; trêu chọc cô càng khoảnh ác hơn, ném cả bùn vào người cô; cô thì vốn đã yếu phổi mà cứ phải chạy đến đứt hơi; còn bọn trẻ thì vừa đuổi theo vừa quát hét, chửi bới. Thậm chí có lần tôi đã lao vào đánh nhau với chúng. Sau đó tôi đã tìm cách nói chuyện với chúng, hôm nào tôi cũng nói, lúc nào nói được là tôi nói. Thỉnh thoảng chúng cũng dừng lại lắng nghe đôi chút, tuy mồm vẫn chưa thôi cảu rảu. Tôi kể cho chúng biết chuyện Marie là cô gái bất hạnh như thế nào; chẳng mấy chốc chúng không còn nói những câu khó chịu nữa mà chỉ lẳng lặng lảng đi. Dần dà chúng tôi đã bắt chuyện với nhau, tôi không giấu chúng nó một điều gì; tôi kể với chúng đủ thứ chuyện. Chúng dỏng tai nghe rất chăm chú và chẳng mấy chốc đã bắt đầu cảm thấy thương hại Marie. Có mấy đứa mỗi lần gặp cô ta đã cất lời chào hỏi thân tình; phong tục ở đấy là hễ chạm trán nhau ngoài đường, không cứ người quen người lạ, ai nấy đều phải kính cẩn rạp mình cất lời chào hỏi lẫn nhau. Riêng Marie thì hẳn phải ngạc nhiên lắm lắm. Một hôm có hai bé gái kiếm được một ít cái ăn mang đến cho cô rồi đến kể lại với tôi. Các bé nói rằng Marie đã bật khóc và bây giờ các bé thấy rất yêu cô ấy. Chẳng bao lâu cả bọn đều trở nên yêu quý cô ta nên bỗng dưng lại có cảm tình cả với tôi nữa. Chúng bắt đầu đến chỗ tôi xoành xoạch, đòi kể chuyện suốt; tôi cảm thấy mình kể chuyện cũng không tồi vì chúng rất thích nghe. Về sau tôi vừa học vừa ra sức đọc truyện chỉ cốt để đem ra kể và đã kể chuyện cho chúng nghe suốt ba năm. Sau này khi mọi người, kể cả ngài Sneider, trách móc tôi là cứ đi nói đủ thứ chuyện với trẻ con như với người lớn thì tôi đã thưa lại với các vị rằng nói dối trẻ con thì ngượng lắm vì quả thật có úp mở thế nào thì trước sau chúng cũng biết tỏng nhưng có khi lại hiểu chệch đi, còn cứ như để tôi cho chúng biết thì thật rõ ràng. Bất cứ bạn là ai, cứ nhớ lại thời thơ ấu của mình là đủ rõ… Mọi người chẳng ai đồng ý với tôi. Tôi đã hôn Marie trước ngày mẹ cô ấy mất hai tuần lễ; khi cha mục sư rao giảng những điều như tôi vừa nói thì tất cả bọn trẻ con đã đứng về phía tôi. Tôi lập tức kể lại và giảng giải về hành vi của cha mục sư này thì tất cả chúng nó đều căm giận, có mấy đứa còn ném vỡ cả kính cửa sổ nhà ông ấy ra. Tôi can ngăn chúng vì như thế là ngu dại, nhưng cả làng lập tức biết hết và đổ riệt cho tôi đã làm hư hết trẻ con. Sau đó người ta còn biết là trẻ con làng này rất quý Marie và sợ hết hồn; nhưng Marie đã thấy đời lâng lâng hạnh phúc. Người ta còn cấm ngặt trẻ con tìm đến với cô ta nhưng chúng đã lén lút kéo cả đàn chạy đến với cô ở một chỗ khá xa, cách làng ngót nửa dặm, mang đủ thứ ăn được đến cho cô, có cả mấy đứa chỉ lao đến để ôm hôn cô và nói: “Je vous aime, Marie!”[2] rồi ba chân bốn cẳng chạy về. Marie suýt phát điên lên trước niềm hạnh phúc bất ngờ đến mức nằm mơ cũng chẳng bao giờ thấy được; cô ngượng ngùng và hoan hỉ biết bao, nhất là khi bọn trẻ con, đặc biệt là các bé gái, cứ muốn chạy ào đến bên cô để báo cho cô biết là tôi rất yêu cô và nói với chúng rất nhiều về cô. Chúng kể với cô là tôi đã kể hết với bọn nó rồi và bây giờ bọn nó yêu thương cô lắm và còn yêu thương mãi mãi. Rồi chúng lại chạy đến với tôi và với những gương mặt xinh xinh toát lên vẻ hân hoan và lòng tận tụy, chúng cho biết là vừa được gặp Marie và Marie gửi lời hỏi thăm tôi.

Chiều chiều tôi lại đến bên một thác nước trong vùng; ở đó có một chỗ kín đáo nằm lọt thỏm trong một khoảnh rừng dương; chiều chiều bọn trẻ con lại đến đó với tôi, có mấy đứa còn phải lén lút đi lại nữa. Tôi có cảm tưởng là tình yêu của tôi đối với Marie đã khiến chúng vui mừng khôn xiết và đây là điều duy nhất tôi lừa dối chúng trong suốt quãng đời xuất ngoại của tôi. Tôi không cải chính, không bảo với chúng là tôi không hề yêu Marie mà chỉ thương xót cô ta thôi; tôi thấy rõ là giờ đây chúng chỉ muốn mọi việc phải diễn ra theo ý chúng, nên tôi đành im lặng; làm như chúng đã suy đoán đúng. Và những trái tim bé bỏng ấy mới tinh tế và dịu dàng sao! Chúng vẫn thấy chàng Léon[3] tốt bụng của chúng e khó lòng thương nổi cô nàng Marie áo váy tả tơi, chân cẳng không giày không dép kia được. Các vị hãy hình dung giúp, chúng đã kiếm cho cô ta nào giày, nào tất, nào đồ lót và cả một chiếc áo liền váy nữa; chúng đã xoay xở ra sao thì quả tình tôi không hiểu; cả bọn đã cùng chung tay góp sức. Khi thấy tôi căn vặn thì chúng chỉ cười xòa, còn bọn bé gái cứ vỗ tay đen đét và hôn tôi tới tấp. Thỉnh thoảng tôi cũng bí mật tìm đến với Marie. Cô ta đã trở bệnh rất nặng và đi đứng khó khăn; cuối cùng cô đành phải chia tay với gã chăn bò nhưng sáng ngày ra vẫn lẽo đẽo đi theo đàn gia súc. Cô đến ngồi riêng ra một góc; ở đó bên vách núi dựng đứng có một mỏm đá nhô ra; cô tìm đến một chỗ khuất, ngồi bệt luôn xuống đấy và cứ ngồi bất động từ sáng, cho mãi đến lúc đàn gia súc lục tục về chuồng. Cô bị lao phổi nặng nên yếu sức lắm rồi, chỉ còn biết ngồi thừ ra đấy, mắt nhắm nghiền, đầu gục vào vách đá mà ngủ gà ngủ gật, thở hổn hà hổn hển; mặt cô nom quá hốc hác, mồ hôi túa ra trên trán và hai bên thái dương. Tôi luôn luôn bắt gặp cô trong bộ dạng như thế. Tôi thường chỉ tạt đến chỗ cô trong chốc lát và tôi cũng không muốn để ai nhìn thấy. Nhận ra tôi, Marie bỗng giật mình, mở choàng mắt ra và lao tới hôn tay tôi. Tôi không còn rụt tay lại vì đã biết đây chính là niềm hạnh phúc của cô; suốt những phút tôi ngồi chơi, cô cứ run rẩy khóc ròng; thực ra cũng đã mấy lần cô thốt ra những tiếng ú ớ như muốn nói gì, nhưng rất khó hiểu. Cô ta cứ như một người điên, tỏ ra xúc động ghê gớm và đầy phấn khích. Thỉnh thoảng cũng có trẻ con đi cùng với tôi. Những lúc đó các bé thường dừng lại cách đấy một quãng, đứng canh chừng cho chúng tôi và rất lấy thế làm thích thú. Khi chúng tôi ra về, Marie lại trơ trọi một mình ngồi bất động như trước, mắt nhắm nghiền, đầu gục vào vách đá; có thể cô đang mơ tưởng điều gì đó. Một sáng nọ cô đã không còn ra chỗ đàn bò được nữa, phải ở lại trong căn nhà trống trải của mình. Bọn trẻ biết tin ngay và trong ngày hôm đó hầu như cả bọn đã lần lượt đến thăm cô; cô đã nằm trơ ra ở đấy, trên giường. Suốt hai ngày liền chỉ có trẻ con thay phiên nhau đến trông nom cô gái nhưng rồi sau đó khi mọi người trong làng được tin là Marie chỉ còn hấp hối trên giường bệnh thì các bà già trong làng đã lục tục kéo đến ngồi túc trực bên cô. Hình như người làng đã bắt đầu thấy thương cô, ít ra cũng không còn ngăn cấm, mắng mỏ trẻ con như trước. Marie cứ thiếp đi từng chập trong giấc ngủ chập chờn vì vẫn ho như xé phổi. Các bà già ra sức xua đuổi trẻ con, nhưng chúng cứ xúm đến bên cửa sổ, có lúc chỉ cố tranh thủ nói cho được một câu: “Bonjour, notre bonne Marie!”.[4] Còn cô ta thì hễ thoáng thấy bóng chúng hoặc nghe thấy tiếng chúng là cuống quýt chống khuỷu tay xuống cố nhổm người lên để gật đầu và cảm ơn chúng nó, không còn chịu nghe lời các bà ngồi quanh đấy nữa. Chúng nó vẫn tiếp tục mang quà đến cho cô nhưng cô hầu như chẳng còn ăn uống gì được nữa. Tôi đoan chắc với các vị rằng nhờ có trẻ con, cô ta đã ra đi thanh thản, không kém phần hạnh phúc. Nhờ có chúng, cô đã quên được nỗi khổ đau bi thiết của mình, dường như cô đã nhận được sự tha thứ của chúng vì mãi cho đến lúc lâm chung cô vẫn coi mình là người mang trọng tội. Như những chú chim non, sáng sáng chúng đã đập cánh vào cửa sổ nhà cô và cất tiếng ríu ran: “Nous t’aimons, Marie!”.[5] Cô chết rất nhanh. Trước đó, tôi cứ nghĩ là cô còn sống rất lâu nữa ấy. Ngay trước hôm cô mất, tôi đã ghé thăm cô trước lúc trời sẩm tối; hình như cô đã nhận ra tôi, và tôi đã bắt tay cô lần cuối cùng, một bàn tay khô héo biết bao! Vậy mà ngay sáng hôm sau, mọi người đã đến tìm tôi để báo tin là Marie đã chết. Thật không có cách nào để ngăn cản bọn trẻ con được nữa: chúng bày đầy hoa lên linh cữu, đội vòng hoa lên đầu cô. Vị mục sư trong nhà thờ không còn thóa mạ cô gái xấu số giờ đây đã thành người thiên cổ. Lễ mai táng rất vắng người, hầu như chỉ có mấy kẻ tò mò ghé xem cho biết; nhưng đến lúc chuyển linh cữu thì bọn trẻ con xúm cả lại đòi khiêng. Vì chúng không khiêng nổi nên người lớn phải ra tay, còn tất cả bọn trẻ con thì cứ vừa chạy theo vừa khóc. Từ đó phần mộ của Marie được các bé chăm sóc thường xuyên: năm nào mộ cũng đầy hoa, chúng còn trồng hồng ra khắp xung quanh. Nhưng cũng ngay sau đám tang này cả làng đã phát động cao trào tẩy chay tôi về chuyện trẻ con. Thủ xướng việc này là vị mục sư và ông giáo ở trường. Bọn trẻ bị nghiêm cấm không được gặp tôi, còn ngài Sneider thì có trách nhiệm theo dõi vấn đề này. Nhưng bọn trẻ và tôi vẫn nhìn thấy nhau, vẫn từ xa ra hiệu cho nhau. Chúng vẫn gửi cho tôi những mẩu giấy nhỏ. Về sau, tất cả những chuyện đó đều đã lùi xa, nhưng hồi đó thì phải nói là rất thú. Thậm chí tôi còn trở nên thân thiết hơn với bọn trẻ qua chuyện tẩy chay này. Vào năm cuối cùng, thậm chí tôi đã dàn hòa với thầy Tibo và cha mục sư. Riêng ngài Sneider thì vẫn nói dai và tranh cãi mãi với tôi về cái “chủ trương” tai hại của tôi đối với trẻ con. Chủ trương cái của nợ gì mới được cơ chứ! Cuối cùng ngài Sneider đã nhồi nhét cho tôi một ý tưởng rất lạ, - mà lại ngay trước lúc tôi lên đường về nước, - ngài nói với tôi rằng ngài tin chắc rằng tôi hoàn toàn là một đứa trẻ con, có nghĩa là tôi chỉ được cái to xác và mặt mũi già dặn nom như người lớn nhưng nếu nói về mức độ phát triển, về tâm lý, tính cách và có khi còn cả trí tuệ nữa thì tôi không phải người đã trưởng thành và tôi sẽ cứ là như thế, cho dù có sống đến sáu mươi tuổi đi chăng nữa. Tôi cười ngất, dĩ nhiên là ngài ấy nhầm: Tôi mà là trẻ con thế nào được? Nhưng có điều rất đúng là quả thật tôi không thích gần người lớn, người đã trưởng thành, - và tôi đã nhận ra điều đó từ lâu, - tôi không thích vì tôi không biết cách gần gũi, chan hòa với họ. Họ có nói gì với tôi đi nữa, xử tốt với tôi thế nào chăng nữa, tôi vẫn luôn cảm thấy thế nào ấy, không thoải mái, mà thật là sướng đến tỉnh người khi được quay ra ngay với đám bạn chơi, mà bạn chơi của tôi thì bao giờ cũng là trẻ con, nhưng không phải vì bản thân tôi là trẻ con mà chỉ vì tôi khoái trẻ con. Hồi tôi mới đến ngụ ở làng, - cái ngày tôi vẫn hay tha thủi một mình trên các ngọn núi ấy, - những lúc lang thang như thế thì thỉnh thoảng, đặc biệt là vào giữa trưa lúc tan trường, tôi được gặp cả đám học sinh vai đeo những chiếc túi nhỏ đựng bảng đá cứ chạy nhảy, la hét, cười nói, nô đùa ầm ĩ, thế là toàn bộ tâm hồn bỗng hướng cả vào bọn trẻ. Không hiểu sao nhưng cứ mỗi lần gặp chúng nó là tôi lại thấy lòng dào dạt, chứa chan hạnh phúc. Tôi đứng sững lại và cất tiếng cười hoan hỉ, đưa mắt nhìn những đôi chân bé nhỏ loang loáng lướt qua trong những bước chạy không ngừng không nghỉ, nhìn thấy cả miệng cười và mắt khóc (vì nhiều đứa đã kịp trêu chọc nhau đến phát khóc lên rồi lại làm lành và nô nghịch trong suốt thời gian chạy nhảy từ trường về đến nhà), và thế là tôi bỗng thấy lòng nhẹ nhõm, quên hết nỗi buồn chán của mình. Sau đó, suốt ba năm ròng, tôi cũng đã không thể nào hiểu nổi là người đời thường buồn chán ra sao và buồn chán để làm gì? Số phận của tôi đã có chiều lệ thuộc cả vào đám trẻ con rồi. Và tôi cũng chưa bao giờ tính chuyện rời bỏ ngôi làng và trí óc tôi cũng chưa hề nảy ra ý nghĩ là đến một lúc nào đó tôi sẽ lên đường về đây, về lại nước Nga. Tôi cứ có cảm tưởng là tôi sẽ ở đấy mãi, nhưng cuối cùng tôi đã thấy được rằng ngài Sneider không còn có thể cưu mang tôi được nữa và tình hình lập tức có vẻ trở nên nghiêm trọng đến nỗi ngài Sneider phải hối thúc tôi về nước và thay mặt tôi trả lời thư điện gửi sang. Tôi đang chuẩn bị xem xét xác định việc này và sẽ tranh thủ ý kiến của người hiểu biết. Có thể kiếp phận của tôi sẽ hoàn toàn thay đổi, nhưng tất cả những điều đó cũng không quan trọng và chưa phải là cái chính. Cái chính là toàn bộ cuộc đời tôi đã đổi thay rồi. Tôi đã để lại bên ấy rất nhiều, quá nhiều. Mọi thứ đều đã tan biến hết. Lúc ngồi trên tàu, tôi đã nghĩ: “Ta đang trên đường đến với mọi người đây; có lẽ ta không biết gì thật đấy, nhưng một cuộc sống mới đã bắt đầu”. Tôi định bụng sẽ hoàn tất phần việc của mình một cách trung thực và dứt khoát. Có thể tôi sẽ cảm thấy buồn chán và khó chịu khi phải tiếp xúc với mọi người. Tôi định bụng trước hết là hãy cứ tỏ ra nhã nhặn và cởi mở với tất cả mọi người; hẳn là chẳng có ai đòi hỏi gì hơn nữa ở tôi. Có thể là ngay cả ở đây mọi người sẽ coi tôi là một đứa trẻ con thì cũng kệ họ thôi! Ai cũng coi tôi là một thằng ngốc vì quả thật tôi đã từng ốm đau liểng xiểng nên hồi ấy tôi thật chẳng khác nào một gã ngô nghê; nhưng giờ đây tôi còn ngốc cái nỗi gì khi tôi hiểu rõ rằng mọi người cứ coi tôi là đồ ngốc? Mỗi khi bước vào một căn phòng, tôi vẫn nghĩ: “Ở đây người ta đang coi mình là một kẻ ngô nghê đấy, nhưng dù sao ta vẫn thông minh sáng láng, nhưng họ nào có nhận ra…”. Tôi thường nghĩ như vậy. Đến Berlin, tôi đã nhận được mấy bức thư ngắn mà các bé đã kịp viết cho tôi và tôi lập tức hiểu được rằng tôi yêu chúng biết bao. Lá thư đầu tiên đọc mới đau lòng làm sao! Bọn trẻ đã buồn biết mấy trong giờ phút tiễn đưa tôi! Trước đó đến một tháng, chúng nó đã bắt đầu tiễn biệt tôi: “Léon s’en va, Léon s’en va pour toujours!”.[6] Chiều nào chúng tôi cũng lại đến với nhau bên thác nước và toàn nói về cuộc chia ly sắp tới. Đôi khi không khí cũng trở nên vui vẻ rộn ràng như trước; duy đến lúc chia tay trong đêm tối khi bọn trẻ xúm cả vào ôm chặt lấy tôi nồng nhiệt thiết tha đến thế thì đó thật là điều khác trước. Có mấy bé tách riêng ra, lặng lẽ đuổi theo tôi để được một mình ôm hôn tôi. Hôm tôi lên đường về nước, tất cả trẻ con đã kéo cả đoàn tiễn tôi ra ga. Ga xe lửa nằm cách làng chúng tôi chừng một dặm. Chúng nó cố kìm nén để không bật khóc nhưng nhiều đứa cầm lòng không đậu đã khóc òa lên, nhất là các bé gái. Chúng tôi phải cắm cổ đi nhanh vì sợ nhỡ tàu, nhưng có một bé trai đang đi trong đoàn bỗng đâm sầm đến chỗ tôi ôm chặt lấy tôi bằng đôi tay bé nhỏ để hôn tôi bằng được ngay giữa đường làm cho cả đoàn phải dừng hết cả lại; và tuy đang rất vội, tất cả đều vui vẻ dừng lại chờ cho bé từ biệt xong rồi mới tiếp tục đi. Khi tôi đã ngồi chễm chệ trong toa và tàu chuyển bánh, tất cả bọn trẻ con đã đồng thanh hô “ura!” và đứng không nhúc nhích cho đến lúc toa tàu khuất dạng mới thôi. Và tôi cũng nhìn theo mãi… Thưa phu nhân và các tiểu thư, ban nãy, khi bước vào đây và đưa mắt nhìn qua những gương mặt khả ái của các vị, - bây giờ tôi rất hay ngắm nghía mặt mũi mọi người, - và được nghe các vị mở lời thì đó là lần đầu tiên kể từ lúc bấy giờ, tôi bỗng thấy lòng nhẹ nhõm. Tôi vừa có ý nghĩ rằng có lẽ chính tôi cũng thuộc diện những người có phước: Tôi biết rằng con người ta thật chẳng dễ gì gặp được những người mà ta có thể đem lòng quý mến được ngay, còn tôi thì đúng là vừa xuống tàu đã được gặp ngay các vị. Tôi biết quá rõ rằng lúc nào cũng bộc bạch tình cảm của mình với mọi người thì cũng đáng ngượng lắm nhưng tôi nói chuyện với các vị thế này thì thật chẳng thấy gì là ngượng ngập. Tôi là kẻ ít giao du, có lẽ cũng còn lâu tôi mới lại đến thăm các vị được. Xin chớ hiểu lầm: tôi nói thế không phải vì không quý các vị đâu, và cũng đừng nghĩ là tôi có điều gì phật ý. Các vị có hỏi tôi về gương mặt của các vị và muốn biết tôi có nhận xét gì. Tôi sẵn lòng thưa chuyện hầu phu nhân và các tiểu thư. Adelaida Ivanovna ạ, cô có một gương mặt ngời ngời hạnh phúc, gương mặt khả ái nhất trong tất cả ba gương mặt trẻ. Ngoài ra, cô rất xinh, người ta có thể nhìn cô và nói: “Cô nàng có gương mặt một nữ tu trẻ tuổi đôn hậu lạ lùng”. Cô đến với mọi người một cách giản dị và vui vẻ, nhưng cũng biết cách nhanh chóng gợi mở trái tim của họ. Đó là cảm tưởng của tôi về gương mặt của cô. Còn cô, Aleksandra Ivanovna ạ, gương mặt cô cũng rất tuyệt vời và rất dễ thương nhưng có thể lòng cô đang trĩu nặng một nỗi buồn thầm kín; tâm hồn cô, không nghi ngờ gì nữa, cực kỳ đôn hậu, nhưng lòng cô vẫn không vui. Gương mặt cô có một sắc thái đặc biệt nhắc tôi nhớ tới bức họa Madonna của Holbein ở Dresden.[7] Ồ, đó là nói về gương mặt cô đấy; tôi đoán thế này không hiểu có đúng không đây? Xin các vị cứ tự suy xét lấy xem tôi đoán có được không. Nhưng về gương mặt của phu nhân, Lizaveta Prokofievna ạ, - chàng bỗng quay sang với tướng quân phu nhân, - về gương mặt của phu nhân thì tôi không những chỉ cảm thấy mà còn thực bụng tin rằng phu nhân hoàn toàn là một đứa bé con về mọi mặt, về mọi mặt, cả mặt tốt lẫn mặt xấu, cho dù phu nhân đã ngần ấy tuổi đầu. Tôi nói thế phu nhân không giận tôi đấy chứ? Phu nhân biết tôi trân trọng trẻ con ra sao rồi đấy chứ? Và các vị cũng đừng nghĩ rằng tôi chỉ bộc tuệch bộc toạc thế thôi mà tông tốc nói hết với các vị những suy nghĩ của mình về gương mặt của các vị; ồ không, hoàn toàn không phải thế! Có lẽ tôi đã có ý của tôi rồi.

❀ ❀ ❀

[1] Đơn vị tiền tệ của các nước Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Luxembourg và một số nước châu Phi nói tiếng Pháp (nhưng tỉ giá khác nhau chẳng hạn như có thời kỳ 1 đô-la đổi được 5,7 franc Pháp nhưng chỉ đổi được 1,4 franc Thụy Sĩ).

[2] Em yêu chị, Marie! (tiếng Pháp)

[3] Tên của chàng hoàng thân là Lev có nghĩa là : sư tử, trong tiếng Pháp là Léon.

[4] Chúng em chào chị, chị Marie yêu quí của chúng em! (tiếng Pháp)

[5] Chúng em yêu chị, Marie! (tiếng Pháp)

[6] Léon bỏ đi rồi. Léon đã ra đi mãi mãi! (tiếng Pháp).

[7] Bức họa Madonna với gia đình thị dân Jakov Meier của họa sĩ người Đức Hans Holbein (1497-1543) được lưu giữ tại Bảo tàng nghệ thuật Dresden (Madonna là Đức Mẹ Đồng trinh Maria - tiếng Ý).

tác giả những công trình nghiên cứu về thời Trung cổ, người sưu tầm các mẫu chữ Nga - Slave cổ. [15] Câu này được khắc trên tấm Huy chương do Nga hoàng Nikolai I trao tặng bá tước P.A. Kleinmikel (1793-1869) khi ngài đã hoàn thành việc chỉ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Fyodor Dostoievsky

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.