Chàng Ngốc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 41 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 34

❊ ❊ ❊

Tôi không muốn nói dối: Thực tế đã bủa móng vuốt trên tôi trong suốt sáu tháng nay, lắm lúc tôi quên mất cả bản án tử của tôi, hay không muốn nghĩ đến nó, tôi lại còn kiếm việc này việc kia để làm nữa. Nhân tiện, tưởng cũng nên nhắc lại sơ lược tình trạng của tôi lúc ấy. Tám tháng trước, lúc bệnh của tôi đã rất nặng, tôi bèn cắt đứt mọi mối liên lạc và không còn thăm viếng bạn bè nữa. Bởi tôi vốn là một loại người phiền muộn, cho nên bạn bè dễ dàng quên tôi, đã hẳn là cho có khác vậy đi nữa, thì rồi họ cũng phải quên tôi đi chứ. Đời sống tại nhà tôi, ý tôi muốn nói là đời sống gia đình tôi cũng đủ là một đời ẩn dật rồi. Khoảng năm tháng trước, tôi ở riệt trong phòng riêng và không hề léo lánh đến mấy phòng khác trong nhà. Mọi người trong nhà phục tùng tôi tuyệt đối, nên không ai dám vào phòng tôi ngoài những giờ giấc nhất định để quét dọn và mang thức ăn đến cho tôi. Mẹ tôi nghe lệnh tôi là đã run rồi, những lúc tôi cho phép bà vào phòng, bà không hề dám than vãn trước mặt tôi. Bà cứ đánh lũ trẻ luôn tay để chúng đừng làm ồn và quấy rầy tôi. Tôi hay phàn nàn vì chúng thường la hét, bây giờ chúng phải biết thương tôi với chứ! Chắc tôi đã làm khổ chàng “Kolia thủy chung” của tôi không ít- tôi hay gọi nó như vậy. Về sau này, đến lượt nó hành hạ tôi, đó là lẽ đương nhiên, người ta sinh ra để hành hạ lẫn nhau mà. Nhưng tôi nhận thấy rằng nó đã quyết định trước là sẽ chịu đựng tính bẳn gắt của tôi để chiều lòng kẻ bệnh tật. Đã hẳn điều đó làm phiền lòng tôi, nhưng rõ ràng nó đã yên chí mình bắt chước được “nết nhu mì của tín đồ Cơ đốc” nơi hoàng thân đó, điều ấy mới thật là khôi hài. Nó còn trẻ và hăng lắm, nó chẳng từ cái gì mà không bắt chước. Nhưng lắm khi tôi cảm thấy đã đến lúc nó nên sống với con người thật của nó. Tôi rất quý mến nó. Tôi còn hành hạ Xuricov, kẻ sống ở tầng trên chúng tôi và đi chạy việc vặt từ sáng đến tối; lúc nào tôi cũng bảo у rằng, у nên tự trách mình vì cảnh nghèo túng của y, đến nỗi rốt cuộc у cạch không dám đến thăm tôi nữa. Y là một con người rất nhu mì, một kẻ khiêm nhường bậc nhất. (Ghi chú: Người ta bảo rằng khiêm nhường là một sức mạnh lớn lao, chắc tôi phải hỏi hoàng thân về điều này, vì chính ngài đã bảo như vậy). Nhưng vào dạo tháng Ba, lúc lên gác xem thử gia đình у đã làm sao đến nỗi đứa con phải “lạnh cóng mà chết”, như lời họ nói, tôi đã cười bâng quơ trước thi thể đứa hài nhi, rồi tôi lại cao giọng giải thích cho Xuricov biết rằng у “chỉ nên tự trách mình” mà thôi, thế là đôi môi của con người khốn khổ ấy chợt run lên, rồi у đặt tay lên vai tôi, tay kia у trỏ cánh cửa mà nói khẽ như một lời thì thầm: “Xin mời cậu ra cho!”. Tôi đi ra. Tôi rất khoái chí về chuyện đó, tôi khoái chí cả cái phút у mời tôi ra khỏi cửa, nhưng suốt trong một thời gian dài, những lời у nói vẫn còn in đậm trong tôi mỗi khi hồi tưởng, một cảm xúc đớn đau và kỳ lạ, như thể một nỗi thương hại xen lẫn khinh bỉ đối với y, một cảm xúc tôi không hề muốn có. Ngay cả cái lúc у bị sỉ nhục (tôi thấy rõ là tôi đã lăng nhục y, dù tôi không cố ý làm vậy), ngay cả lúc đó, у cũng không thể nổi giận được! Lúc đó môi у run rẩy hẳn là không phải vì giận dữ, tôi dám thề như vậy; у nắm lấy tay tôi và ngỏ những lời thật hoa mỹ “Xin mời ông ra cho”, mà không vương một thoáng giận hờn. Thật là trang trọng, trang trọng quá sức, cái nỗi trang trọng chẳng hợp với у chút nào (vì thế cho nên cũng thật là khôi hài), nhưng không hề có chuyện giận dữ. Có lẽ у chỉ cảm thấy khinh bỉ tôi mà thôi. Từ lúc đó trở đi, có hai ba dạo tôi gặp y trên cầu thang, у ngả mũ chào tôi- một việc chưa hề xảy ra trước đó- nhưng у không dừng bước như trước nữa, mà chỉ vội vàng đi qua mặt tôi đầy vẻ bối rối. Nếu quả у đã khinh bỉ tôi thì у vẫn còn tiếp tục khinh tôi theo cách của у: Y khinh tôi một cách khiêm tốn, bởi tôi là con trai của chủ nợ у, у thiếu nợ mẹ tôi thường trực và không làm sao mà rứt người ra khỏi cảnh nợ nần được. Thực tế, đó là một lối giải thích có vẻ đúng nhất. Tôi đã muốn giải quyết việc ấy ổn thỏa với у cho rồi, và tôi chắc hẳn mười mươi rằng, không đầy mười phút thế nào у cũng xin lỗi tôi, nhưng tôi đã nhất định để mặc kệ y.

Vào lúc ấy, vào lúc Xuricov để đứa con nhỏ bị chết cóng đó, đâu khoảng trung tuần tháng Ba, tự nhiên tôi cảm thấy khỏe khoắn nhiều mà không hiểu tại sao, tôi cứ mỗi ngày mỗi khá hơn suốt trong hai tuần lễ, tôi bắt đầu đi ra ngoài về đêm. Tôi yêu cái buổi hoàng hôn tháng Ba, lúc trời trở rét căm căm, lúc người ta thắp sáng những ngọn đèn khí đá, lắm lúc tôi tản bộ một quãng đường dài. Một lần kia, trên Đường Sáu cửa Hiệu, tôi chợt thấy một kẻ có dáng dấp “phong nhã” trong bóng tối: Tôi không trông rõ gã lắm, gã mang một gói giấy và khoác một chiếc áo choàng khốn khổ quá ngắn và quá mỏng manh so với thời tiết lúc ấy. Lúc gã đi qua một ngọn đèn đường, trước tôi chừng mươi bước, tôi thấy một vật rơi ra khỏi túi gã. Tôi vội vàng nhặt lên- thật đúng lúc, vì cũng có một gã mặc áo choàng dài đã vội chồm tới để chộp. Nhưng khi thấy tôi đã cầm vật ấy trong tay, gã không nói một lời nào, chỉ liếc xem tôi đang cầm vật gì trong tay rồi vội vã đi thẳng. Đó là một chiếc ví đựng tiền bằng da dê kiểu xưa, đầy ăm ắp; nhưng chẳng hiểu sao chỉ nhìn thoáng, tôi đã đoán ra cái ví ấy đựng vật gì đó thôi chứ không phải tiền. Kẻ đánh mất chiếc ví lúc ấy đã đi trước tôi bốn, năm chục bước và chẳng mấy chốc у khuất dạng trong đám đông. Tôi chạy theo và gọi у thật lớn; nhưng tôi chỉ gọi у được có mỗi một tiếng “Ê”, nên gã chẳng quay lại. Bất chợt gã băng sang bên trái, bước vào cổng một tòa nhà. Lúc tôi đến cánh cổng tối im ỉm đó, tôi chẳng thấy ai ở đó cả. Đó là một tòa nhà vĩ đại, một trong những cơ sở thênh thang mà bọn đầu cơ xây cất thành từng đơn vị gia cư nhỏ; một vài cơ sở loại đó có đến hàng trăm đơn vị gia cư như thế. Lúc chạy qua cổng, tôi có cảm tưởng như ở góc sân mênh mông phía cực phải có bóng người đang đi, tôi không biết là ai vì lúc ấy tối quá. Khi chạy đến góc đó, tôi thấy lối dẫn lên cầu thang; cầu thang hẹp, bẩn hết sức và không một chút ánh sáng nào; nhưng tôi vẫn nghe được tiếng chân người chạy lên cầu thang trên đầu tôi, tôi liền tuông chạy theo, định bụng sẽ bắt kịp gã, lúc gã chờ người ta mở cửa. Sự việc quả thật đã xảy ra như vậy. Có bao nhiêu là dãy cầu thang ngắn trong tòa nhà nên tôi chạy mệt muốn đứt hơi. Một cánh cửa mở ra rồi đóng lại ở tầng lầu thứ năm, tôi có thể nói như thế lúc tôi vẫn còn đứng ở ba dãy thang bên dưới. Khi tôi chạy lên, cứ mỗi đầu cầu thang phải dừng lại thở, rồi nhìn quanh quất tìm cái chuông, thì đã trôi qua mấy phút. Rốt cuộc, một bà lão nhà quê đang bận nhóm lửa than cho một ấm nấu trà trong gian bếp bé tí ra mở cửa cho tôi. Bà lẳng lặng nghe tôi hỏi và dĩ nhiên chẳng hiểu chút gì, rồi cũng lẳng lặng bà mở cánh cửa dẫn vào gian phòng bên cạnh, phòng đó cũng bé tí và thấp lè tè với những đồ gia dụng thô sơ, tồi tàn nhất và một chiếc giường lớn có buông màn, trên đó một kẻ tên “Terentitr” (như lời bà lão gọi gã) đang nằm, rõ ràng gã đang say rượu. Trên chiếc bàn trống trơn, một khúc nến cháy dở dang trên chân đèn bằng sắt, và một chiếc chai vuông vức đứng chỏng chơ. Terentitr vẫn nằm càu nhàu với tôi điều gì, rồi gã vẫy tay về phía một cánh cửa khác, bà lão đã ra đi, nên tôi chẳng còn biết làm gì khác hơn là mở cánh cửa đó. Tôi mở cửa và bước vào phòng kế cạnh.

Gian phòng này còn nhỏ và tù túng hơn gian phòng kia nữa; tôi khó bề mà xoay người trở lại được, một chiếc giường đơn chật hẹp ở một bên choán gần hết phòng, những thức còn lại gồm ba chiếc ghế hạng xoàng chất đầy những thứ nùi vải, giẻ rách, với một cái bàn nấu ăn hạng bét dựng trước chiếc đi-văng phủ vải dầu khiến không còn chỗ mà bước giữa khoảng bàn và giường nữa. Trên bàn, một ngọn nến bằng mỡ bò cháy sáng trên chân nến bằng sắt giống như cây nến ở phòng bên kia, trên giường có một đứa hài nhi đang khóc lóc, cứ nghe tiếng khóc thì biết đứa bé cũng chỉ mới sinh được chưa quá ba tuần lễ. Một thiếu phụ xanh xao, bệnh hoạn, trông còn trẻ và ăn mặc lôi thôi, lếch thếch đang thay tã cho nó, hình như thiếu phụ vừa bình phục sau khi sinh con, nhưng đứa bé vẫn không chịu nín và cứ khóc đòi đôi vú mẹ èo ọp. Một đứa trẻ khác nằm ngủ trên đi văng- đứa bé gái khoảng ba tuổi, đắp một chiếc áo có vẻ là áo chùng của người lớn. Đứng bên cạnh bàn là một người đàn ông ăn mặc rách rưới như tổ đỉa (ông ta vừa mới cởi áo choàng ra, vứt xuống giường), đang tháo một cái gói bọc giấy xanh có hai cân bánh mì trắng, và hai thỏi xúc xích nhỏ. Cũng có một bình trà đầy trên bàn, vài mẩu bánh mì đen rải rác. Ở dưới gầm giường thòi ra một chiếc va li mở hé với hai bó giẻ lớn.

Nói tóm lại, thật là một đống hỗn độn vô kể. Chỉ nhìn thoáng qua, tôi đã cảm thấy hai vợ chồng này là những người tử tế, nhưng cảnh nghèo đã xô đẩy họ vào nỗi bần cùng, và trong cảnh huống đó, sự hỗn độn rốt cuộc đã đánh gục mọi nỗ lực nhằm kháng cự lại nó, đến nỗi nó lại đưa người ta đến chỗ cần thiết phải tìm thấy chính trong nỗi hỗn độn mỗi ngày gia tăng ấy, một niềm thỏa mãn đắng cay, và đã như hận thù.

Tôi bước vào gặp lúc người đàn ông, vừa vào nhà trước tôi đứng tháo gói thực phẩm, đang xì xầm bàn tán chuyện gì với vợ một cách kích động lắm, người đàn bà, dù chưa thay tã lót cho con xong, đã bắt đầu mở miệng than vãn rồi; hẳn cũng lại là cái tin chẳng lành như bao nhiêu lần trước. Người đàn ông trạc hai mươi tám tuổi có gương mặt đen, gầy, một bộ râu mép viền quanh, cằm cạo sạch bóng, gương mặt của gã đó tôi trông có vẻ phong nhã và dễ thương nữa là đằng khác, một khuôn mặt buồn thảm nhưng nhuốm vẻ kiêu hãnh bệnh hoạn dễ bị chạm nọc, một quang cảnh lạ thường xảy ra lúc tôi đi vào.

Có lắm người họ lấy làm vô cùng thích thú cho cái tính dễ bẳn giận của họ (chuyện này xảy ra thường lắm), nhất là khi cơn giận lên đến cực điểm; vào lúc đó, rõ ràng là họ lấy làm sung sướng bị xúc phạm còn hơn là không bị xúc phạm nữa. Những kẻ mau nổi máu nóng như thế, sau đó luôn luôn là xót xa vì hối hận, dĩ nhiên là nếu họ đủ thông minh, và hiểu được rằng họ đã nổi nóng thập phần hơn mức cần thiết. Trong một lúc, người đàn ông đó nhìn tôi sững sờ, còn vợ gã thì hoảng hốt như thể sự kiện có kẻ đến thăm họ là một điều lạ lùng nhất hạng. Rồi thình lình, gã giận dữ xông lại phía tôi. Tôi cũng chưa kịp hé môi nói được tiếng nào, nhưng chắc chắn là gã cảm thấy bị xúc phạm nặng nề, nhất là gã lại thấy tôi ăn mặc tươm tất và đường đột bước vào căn nhà lụp xụp của gã, thấy hết cả những cái tồi tàn, xấu xí quanh gã mà chính bản thân gã cũng phải hổ thẹn quá chừng. Tự nhiên là gã lấy làm sung sướng được có dịp trút tất cả nỗi hằn học về những sự bất hạnh của gã lên đầu kẻ khác. Có lúc, tôi còn nghĩ rằng gã sắp đánh tôi tới nơi là đằng khác. Gã tái người lại như một người đàn bà bị kích động thần kinh khiến vợ gã sợ đến chết khiếp.

“Làm sao anh lại dám đường đột vào nhà tôi thế hả? Đi ra ngay!”. - Gã hét lên, run rẩy đến nỗi khó lắm mới nói được thành tiếng. Nhưng chợt gã nhìn thấy chiếc ví tiền của gã nằm trong tay tôi.

“Tôi chắc ông đã đánh rơi vật này”, tôi nói hết sức bình thản, tỉnh như không, nhưng cũng thật là lễ độ.

“Gã đứng trước mặt tôi chết lặng vì sợ, trong một thoáng trông gã chẳng hiểu gì cả. Xong rồi gã sờ lại túi, miệng gã há hốc vì thất kinh, gã lấy tay vỗ vào trán.

“Lạy Chúa tôi! Ông tìm được nó ở đâu thế? Làm sao ông tìm thấy được?”

Bằng một giọng lạnh lùng, tỉnh khô hơn nữa, tôi giải thích thật vắn tắt thế nào tôi đã tìm thấy chiếc ví tiền, thế nào tôi đã chạy theo gọi ông ta và thế nào cuối cùng, vừa quờ quạng tôi vừa theo dấu ông ta lên cầu thang.

“Ôi, lạy Chúa, - ông ta kêu lên, hướng về phía vợ. Tất cả giấy tờ của tôi đều ở trong đó hết, những giấy tờ quan trọng nhất ở trong đó cả. Ôi, thưa ông, ông có biết là ông đã làm ơn cho tôi biết bao nhiêu không? Nếu không thì kể như đời tôi tiêu rồi!”.

Lúc đó tay tôi đã đặt trên quả nắm cửa, định ra đi không đáp một câu nào, nhưng tôi thở hết nổi và chợt nỗi cảm xúc khiến tôi nổi một trận ho dữ dội, đến độ tôi đứng không còn vững nữa. Tôi thấy ông ta chạy táo tác kiếm cho tôi một chiếc ghế trống, ông túm hết mớ giẻ rách trên một cái ghế ném xuống sàn xong, vội vàng đem ghế đến cho tôi, mời tôi ngồi. Cơn ho của tôi vẫn không dứt và cứ hành hạ tôi suốt ba phút nữa. Lúc tôi yên ắng lại được rồi, ông ta đã ngồi xuống cạnh tôi trên một chiếc ghế khác mà ông ta cũng vừa quơ mớ giẻ rách vứt xuống đất, xong chăm chú nhìn tôi.

“Trông ông có vẻ đau yếu, - ông ta nói với giọng bác sĩ bảo bệnh nhân. - Tôi là một… thầy thuốc (ông ta không dùng chữ bác sĩ), lúc nói thế, ông ta quơ tay chỉ trỏ gian phòng như thể phản đối cho cái hoàn cảnh hiện tại của ông ta. - Tôi nhận thấy rằng ông…”

“Tôi bị lao phổi,” - tôi đáp cho ra vẻ cộc lốc và đứng dậy.

Ông ta cũng nhỏm dậy ngay.

“Có lẽ ông nói hơi quá… với sự chăm sóc cẩn thận…”.

Ông ta còn luống cuống, bối rối quá, vẫn chưa hoàn hồn lại được, tay trái ông ta vẫn còn cầm chiếc ví tiền.

“Ồ, ông khỏi lo lắng làm gì. - Tôi lại ngắt lời, nắm lấy quả đấm cửa. - В…n đã khám cho tôi tuần vừa rồi (tôi lại nhắc đến tên B…n), và bệnh trạng của tôi đã rõ ràng. Tôi xin lỗi…”.

Lại một lần nữa, tôi định mở cửa bỏ mặc ông bác sĩ của tôi đang bối rối, đầy lòng biết ơn và hết sức xấu hổ, nhưng cơn ho khốn nạn lại chụp lấy tôi. Đến lúc đó, bác sĩ của tôi nài nỉ tôi ngồi xuống mà nghỉ ngơi trở lại. Ông ta quay sang phía vợ, bà vợ vẫn ngồi yên tại chỗ, ngỏ một vài lời lịch sự và biết ơn cùng tôi. Lúc nói, bà bối rối đến nỗi đôi má tái mét và héo hắt của bà ửng đỏ. Tôi nán lại nhưng trong từng giây đồng hồ một, tôi tỏ ra vô cùng sợ hãi làm phiền họ (tôi làm thế là đúng điệu lắm chứ). Bác sĩ của tôi cuối cùng bị khó xử vì hối hận, tôi thấy rõ điều đó.

“Nếu tôi có… - Ông ta mở lời, cứ ngập ngừng từng chập và nhảy từ ý tưởng này sang ý tưởng khác. - Tôi hết sức tri ân ông, tôi đã cư xử với ông thật là lỗ mãng… tôi… ông thấy… - Ông ta lại chỉ trỏ gian phòng. - Lúc này tôi lâm vào một hoàn cảnh thật là…”

“Ô, - tôi nói, - tôi biết rồi, tôi thấy cả rồi, (thấy tất, chả có gì mới mẻ cả) ông lại bị mất việc và ông đến đây để khiếu nại, kêu ca và tìm một công việc khác chứ gì?”.

“Làm sao… làm sao mà ông biết được thế?”. - Ông ta ngạc nhiên hỏi.

“Nhìn thoáng là biết rồi, - tôi trả lời bằng một giọng chua chát chẳng đặng đừng. - Đã có nhiều kẻ ở tỉnh lẻ đổ về đây ăm ắp những hy vọng, để rồi cuối cùng cũng đến nước sống như thế này thôi”.

Bất chợt ông ta nồng nhiệt nói, môi run rẩy; ông ta bắt đầu phàn nàn, kể lể chuyện đời ông ta cho tôi nghe, phải công nhận rằng ông ta đã khiến tôi mủi lòng; tôi nán lại với ông ta non một tiếng đồng hồ. Chuyện đời ông ta kể chẳng có gì mới lạ. Trước kia, ông ta là một bác sĩ tỉnh lẻ, làm việc cho nhà nước, nhưng ông ta lại là nạn nhân của đủ thứ âm mưu mà cả đến vợ ông cũng bị liên lụy: Lòng kiêu hãnh của ông ta bị tổn thương, ông ta mất bình tĩnh, rồi một cuộc thay đổi nhân viên hành chính ở địa phương nghiêng chiều thuận lợi cho các kẻ thù của ông ta, một kẻ nào đó đã lén lút hại ông ta, đi phàn nàn về ông ta, thế là ông mất việc, rồi với số tiền dành dụm cuối cùng, ông ta lên Petersburg để thanh minh cho trường hợp oan ức của mình. Dĩ nhiên là ở Petersburg, cũng phải lâu lắm người ta mới chịu nghe lời “Chúc ngôn” của ông, họ nghe đó rồi bác bỏ đó. Họ hứa nhăng hứa cuội, đối xử với ông ta tàn nhẫn, khốn nạn. Họ bảo ông ta soạn một bản tường trình rồi lại bác. Sau rồi lại truyền cho ông ta thảo một bản thỉnh nguyện- nói tóm lại, ông đã chạy như chong chóng vì mấy chuyện như thế trong suốt năm tháng trời và đã tiêu cạn hết món tiền tiết kiệm của ông ta; cả mấy bộ quần áo cũ của vợ ông ta cũng phải đem đi cầm thế, rồi lúc đó một đứa con lại ra chào đời, và : “Hôm nay, tôi vừa nhận được lời từ chối dứt khoát cho bản thỉnh nguyện của tôi; tôi chẳng còn bánh mì, chẳng còn gì cả, vợ tôi lại sinh đẻ. Tôi… tôi…”.

Ông ta nhảy nhổm khỏi ghế và quay đi chỗ khác. Vợ ông ta ngồi khóc ở góc phòng, đứa bé lại khóc tướng lên giật gọng. Tôi rút sổ ghi chép đôi điều. Lúc tôi viết xong, đứng dậy, ông ta đã đứng trước mặt tôi, nhìn tôi với đôi mắt hiếu kỳ, ngượng ngập.

“Tôi đã ghi tên ông rồi, - tôi bảo ông ta, - và tất cả mọi vấn đề của ông: Nhiệm sở ông làm, tên vị thống đốc trấn nhậm ở đó, ngày tháng. Tôi có một người bạn học cũ tên là Bakhmutov, anh ta có một người chú là Piot’r Maveevitr Bakhmutov, một quan tư vấn quốc gia tại quyền và là giám đốc…”.

“Piot’r Maveevitr Bakhmutov à?! - Ông thầy thuốc của tôi kêu lên người run rẩy. - Đúng là ngài có quyền quyết định mọi việc này!”.

Quả thật mọi điều trong câu chuyện vị bác sĩ tôi kể, và kết quả câu chuyện đó do tôi tình cờ đem lại, cứ như thể là đã xếp đặt từ trước, thật đúng у như một chuyện tiểu thuyết. Tôi đã bảo mấy kẻ khốn khổ đó rằng, đừng có tơ mòng hy vọng gì ở tôi cả, vì chính bản thân tôi cũng chỉ là một tên học trò nghèo kiết xác đấy thôi (tôi đã cố ý thêu dệt cho đức khiêm nhường hạ mình của tôi, thật ra, tôi đã học xong từ lâu và không còn là một cậu học trò nữa), rằng họ cũng chẳng cần biết tên tôi làm gì, nhưng tôi sẽ đi ngay đến đảo Vaxilievxki để gặp anh bạn Bakhmutov, vì tôi biết chắc chú anh ta, một chức chưởng tư vấn đương quyền và là một kẻ độc thân không con cái, hết sức cưng chiều đứa cháu trai và yêu quý cậu cháu một cách nồng nàn, coi hắn là kẻ hậu duệ cuối cùng còn mang tên dòng họ của ông. Chắc bạn tôi “có thể giúp được đôi điều cho ông và cho tôi, dĩ nhiên là nhờ thế lực của chú anh ấy”.

“Ước chi tôi được phép trần tình với đức ngài! - Ông ta kêu lên, run rẩy như lên cơn sốt, đôi mắt sáng long lanh. - Ước chi tôi được ban cho cái vinh dự bày tỏ oan khúc của tôi lên đức Ngài bằng chính môi miệng mình!”.

‘Đúng là ông ta đã nói “ban cho”… Tôi nhắc lại một lần nữa rằng việc tôi lo có thể thất bại và chẳng đi đến đâu, tôi còn nói thêm, nếu sáng hôm sau tôi không đến nhà họ, thế có nghĩa là sự việc đã kết thúc và họ chẳng có gì để trông mong nữa. Họ cúi đầu chào tiễn tôi ra cửa, họ gần như điên cuồng. Tôi chẳng bao giờ quên được nét mặt của họ. Tôi gọi xe đi ngay đến Vaxilievxki.

Nhiều năm học tại trường, tôi không mấy thân thiện với anh chàng Bakhmutov này. Chúng tôi coi chàng ta như một kẻ quý tộc, ít ra thì tôi cũng coi anh ta như vậy. Anh ta ăn mặc rất sang trọng, đi học bằng xe nhà, nhưng anh ta không điệu bộ kiêu kỳ, luôn luôn là một người bạn tốt, thông minh, hoạt bát rất mực và lắm lúc còn tỏ ra rất nhanh trí, dù trí thông minh của anh ta chưa phải là cực kỳ, nhưng anh ta luôn luôn đứng nhất lớp, chứ tôi thì có bao giờ nhất lớp được môn gì đâu. Bạn bè tôi ai cũng thích anh ta, chỉ có tôi là không ưa. Trong những năm học chung, lắm lúc anh ta lân la đến làm quen kết bạn, nhưng lần nào tôi cũng tỏ thái độ khó chịu và bực dọc ngoảnh mặt đi. Tôi đã xa anh ta đúng một năm tròn, bây giờ anh ta học ở đại học. Vào khoảng chín giờ, tôi đến gặp anh ta tại nhà (tôi được báo danh sau bao nhiêu nghi thức rườm rà), thoạt tiên, anh ta tiếp tôi với nỗi kinh ngạc và không được niềm nở lắm, nhưng rồi anh ta tươi tỉnh lại ngay và nhìn tôi, anh ta chợt phá ra cười.

“Ngọn gió nào đưa anh đến thăm tôi thế, hở Terentiev? - Anh ta reo lên với một giọng chân thành không kiểu cách và thân mật, lắm lúc có hơi oai vệ một chút nhưng không xúc phạm chút nào, vì giọng điệu đó tôi thích anh ta đến nhiều mà cũng ghét anh ta lắm lắm. - Nhưng việc gì thế này? anh ta hoảng hốt kêu lên- Trông anh đau yếu quá!”.

Cơn ho lại hành hạ tôi trở lại. Tôi rơi xuống ghế và thở muốn không nổi nữa.

“Không sao cả. Tôi bị lao phổi mà! - Tôi nói. Tôi đến anh để nhờ anh giúp cho một việc”.

Anh ta bối rối ngồi xuống, tôi liền kể cho anh ta nghe đầu đuôi câu chuyện của ông bác sĩ, tôi trình bày cho anh ta rõ rằng với ảnh hưởng lớn lao của anh ta đối với chú anh, anh ta có thể giúp ích được đôi điều.

“Tôi sẽ giúp chứ. Chắc chắn tôi sẽ giúp anh. Ngày mai tôi sẽ trình bày mọi việc với chú tôi. Tôi rất sung sướng được làm điều đó, anh đã thuật câu chuyện đó thật là rõ ràng, khúc chiết. Nhưng này Terentiev, tại sao anh lại nghĩ ra chuyện đến tìm tôi thế nhỉ?”

“Tất cả chỉ để nhờ chú anh giúp cho việc này. Với lại, Bakhmutov ạ, chúng ta luôn luôn là những kẻ thù, nhưng bởi vì anh là một con người cao quý. - Tôi nói thêm với vẻ châm biếm. - Tôi nghĩ rằng anh sẽ không từ chối một kẻ thù”.

“Thật đúng у như cách Napoleon kêu gọi nhân dân nước Anh vậy![1] - Anh ta cười lớn kêu lên. - Được, tôi sẽ làm mọi việc cần thiết, tôi sẽ làm mà! Nếu có thể được tôi sẽ đi ngay!” Anh ta vội vàng nói thêm vì thấy tôi đã lạnh lùng nghiêm trang nhỏm dậy khỏi ghế.

Và quả thật công việc đó đã được giải quyết một cách ổn thỏa mỹ mãn không ngờ. Sáu tuần lễ sau đó, ông thầy thuốc của chúng tôi đã được bổ vào một nhiệm sở khác ở một tỉnh khác, và đã được tài trợ cũng như được đài thọ lộ phí. Tôi ngỡ rằng Bakhmutov đã đến thăm ông bác sĩ đó rất thường xuyên (trong khi tôi đã cố tình chấm dứt việc viếng thăm ông ta và tiếp ông ta thật lạnh nhạt mỗi khi ông ta đến thăm tôi). Tôi ngờ rằng Bakhmutov còn thuyết phục ông bác sĩ nọ chịu mượn tiền của anh ta nữa. Trong sáu tuần lễ đó, tôi gặp Bakhmutov hai lần và lại gặp nhau một lần thứ ba lúc chúng tôi đến chào từ giã ông bác sĩ. Bakhmutov đã thết một bữa tiệc tiễn biệt tại tư thất của anh ta, một bữa ăn tối có rượu sâm banh. Bữa tiệc đó có cả sự tham dự của bà bác sĩ, nhưng bà đã rời bàn tiệc rất sớm để về trông nom con mọn. Đó là một buổi chiều trong trẻo vào đầu tháng Năm, vầng thái dương đã chìm vào vịnh biển. Bakhmutov đi bộ đưa tôi về nhà, chúng tôi đi qua cầu Nicolaevxki, cả hai đều chếnh choáng hơi men. Bakhmutov sung sướng bảo tôi rằng mọi việc đã tốt đẹp hết sức, anh ta cám ơn tôi về việc này, việc nọ, bảo rằng anh ta cảm thấy thoải mái làm sao, sau khi làm xong nghĩa cử ấy, và cho rằng mọi việc đó đều do công của tôi cả, rằng những kẻ tuyên bố hay giảng dạy chủ trương hành vi tốt đẹp của cá nhân chẳng có nghĩa lý gì cả là sai lầm. Chính tôi cũng náo nức muốn được nói hết sức.

“Bất cứ kẻ nào bài xích lòng nhân ái của cá nhân, - tôi mở lời, - là bài xích nhân tính và coi khinh tư cách của con người. Nhưng cái tổ chức “Bác ái xã hội” và vấn đề tự do cá nhân là hai vấn đề riêng rẽ, tách bạch, cái này không thể loại bỏ cái kia. Bao giờ cũng có những nghĩa cử riêng biệt bởi vì chúng là những nhu cầu riêng tư của con người, một nhu cầu thiết cốt của một cá nhân này để ảnh hưởng trực tiếp đến một cá nhân khác. Tại Moskva, có một ông cụ già, một “vị tướng”, thực ra đó là một chức trưởng tư vấn quốc gia có một cái tên Đức. Ông ta đã dành trọn đời mình đi thăm viếng các nhà giam và các tội phạm; mọi toán tội tù trên đường lên Xibir đều biết rằng “ông tướng già” đó sẽ đón họ trên Đồi Chim sẻ. Ông ta tận tụy dốc lòng theo đuổi công việc. Ông xuất hiện, đi lẫn vào trong hàng những kẻ tội đày, họ vây lấy ông, ông dừng lại trước mặt từng người một, hỏi han những nhu cầu của họ, chẳng bao giờ ông tỏ vẻ muốn thuyết ai điều gì, ông gọi mỗi kẻ tội tù là “người bạn khốn khổ của tôi”. Ông biếu họ tiền bạc, gửi cho họ những món cần thiết nhất như vải quấn chân, quần áo lót, vải vóc, lắm lúc ông còn mang theo những quyển sách đạo phân phát cho những kẻ biết đọc, sốt sắng bảo họ nên đọc những sách ấy trong cuộc hành trình và những kẻ nào biết đọc hãy đọc cho những kẻ mù chữ nghe với. Ít khi nào ông hỏi tội nhân về tội ác у phạm, nhưng hết sức lắng nghe nếu có kẻ nào kể lể chuyện đời y. Ông làm mình như kẻ bằng vai phải lứa với các tội đồ, không tỏ ra có chi khác biệt họ. Ông nói chuyện với họ như nói với anh em, nhưng rốt cuộc họ đều xem ông như một người cha. Nếu ông thấy trong đám những kẻ tội đày có một thiếu phụ bồng con, thế nào ông cũng đến vuốt ve đứa bé và búng tay chọc cho nó cười. Ông cứ theo đuổi nghĩa cử đó suốt bao nhiêu năm trời cho đến lúc ông qua đời, đến nỗi danh ông vang khắp nước Nga và toàn vùng Xibir, ít ra cũng là trong giới tội đồ. Một kẻ từng ở Xibir cho tôi biết rằng у đã chứng kiến những kẻ tội phạm sừng sỏ, trơ lì nhất cũng vẫn còn nhớ đến ông tướng, tuy rằng mỗi khi đến thăm các toán tội đồ, ít khi nào ông cho mỗi phạm nhân quá hai mươi copec. Sự thật thì họ không nói về ông với một vẻ nồng nàn đặc biệt hay với một giọng điệu nghiêm trang gì cho lắm. Trong vòng những kẻ “cùng khốn” ấy, có anh đã hạ sát hàng tá người hay giết sáu đứa trẻ con cho nó sướng tay vậy thôi (tôi nghe nói có những kẻ như thế thật) lại đột nhiên có vẻ rầu rĩ, có lẽ chỉ một lần trong suốt hai mươi năm, lại chợt thở dài thườn thượt mà than rằng: “Ông tướng già ấy lúc này đang làm gì nhỉ? Ổng ta còn sống chăng?”. Có lẽ у nói thế với một nụ cười kèm theo, và tất cả chỉ có thế thôi. Nhưng làm sao bạn biết được một hạt giống như thế nào đã nảy mầm miên viễn trong linh hồn gã do “ông tướng già” đó?, người mà gã vẫn còn nhớ tới sau những hai mươi năm trời? Này Bakhmutov, bạn có thể nói được gì về ảnh hưởng của mối dây liên lạc giữa ông tướng đó và kẻ tội tù nọ có quan hệ gì đến định mệnh của người sau được không? Ở đây bạn có cả một cuộc đời với một cõi cách biệt vô biên còn giấu kín với chúng ta. Một tay cao cờ hạng nhất, một kẻ tuyệt vời thông minh thì cũng chỉ có thể nghĩ trước được một vài nước, một tay cờ người Pháp có tài tính trước được mười nước đã được người ta viết thành sách ca tụng như một kỳ tích. Nhưng ở đây có bao nhiêu nước cờ và còn bao nhiêu nước nữa chúng ta không biết? Trong việc gieo trồng hạt giống, trong việc ban của “bố thí”, việc lành của bạn dưới mọi hình thức, bạn đã ban ra một phần cá tính bạn và nhận vào một phần cá tính của người khác; bạn đã giao tiếp với người khác trên một căn bản tương hỗ, và bạn sẽ được tưởng thưởng bằng kiến thức hiểu biết và bởi những khám phá bất ngờ nhất. Chắc chắn rồi ra bạn sẽ xem việc bạn làm như một khoa học; nó sẽ thấm đượm cả cuộc sống bạn và có lẽ làm tràn đầy cuộc sống ấy. Mặt khác, tất cả tư tưởng của bạn; tất cả những hạt giống bạn đã gieo trồng mà có lẽ bạn đã quên đi, sẽ đâm rễ và lớn lên; kẻ nào đã nhận những hạt giống đó từ nơi bạn sẽ gieo chúng sang cho người khác. Và bạn làm sao biết được bạn sẽ góp phần như thế nào trong việc tạo dựng nên định mệnh của nhân loại? Nếu sự hiểu biết này và trọn vẹn cuộc đời tận tụy cho công việc này rốt cuộc có thể giúp bạn gieo được vài hạt giống lớn lao, đi tặng cho thế giới này một tư tưởng lớn lao, thế thì… vv…”. Tôi đã nói dài dòng văn tự về đề tài đó.

“Vậy mà nghĩ thử xem, anh lại là kẻ sắp phải chết đi!” Bakhmutov la lên với vẻ thống trách một kẻ nào đó.

Lúc đó chúng tôi đang đứng nghiêng mình trên thành cầu, tay tựa lan can cầu mà nhìn dòng sông Neva.

“Mà anh có biết tôi vừa nghĩ gì không?”. Tôi nói, nghiêng mình ra xa hơn trên thành cầu.

“Không phải anh định nhảy xuống sông đấy chứ?”. - Bakhmutov hốt hoảng kêu lên. Có lẽ anh ta đã đọc được tư tưởng qua nét mặt tôi.

“Không đâu, ngay bây giờ đây, tôi chỉ có ý nghĩ như thế này: Lúc này đây, ta chỉ còn có hai ba tháng nữa để mà sống, có lẽ là bốn; nhưng ví dụ như tôi chỉ còn sống được có hai tháng nữa và nếu ta nôn nả muốn làm một việc tốt đòi hỏi ta nhiều nỗ lực, nhiều bươn chải và phiền toái, như công việc của vị bác sĩ của chúng ta vừa rồi, thì trong trường hợp đó, ta phải bỏ cuộc vì không đủ thì giờ, và ta lại tìm kiếm “một việc lành” khác, một việc lành khiêm tốn hơn nó nằm trong tầm phương tiện của ta (nếu ta vẫn còn khuynh hướng muốn làm việc thiện). Bạn phải công nhận rằng đó là một tư tưởng ngộ nghĩnh đấy chứ!”

Anh chàng Bakhmutov đó rất lo ngại cho tôi, anh ta đưa tôi về tận nhà và đã khéo léo tránh không hề tỏ ý an ủi tôi và anh ta đã lặng im gần suốt quãng đường. Lúc giã từ, anh siết chặt tay tôi nồng nàn, và hỏi tôi xem anh ta có thể đến thăm tôi hay không? Tôi đáp rằng nếu đến thăm tôi với tư cách một kẻ an ủi (vì dù có yên lặng đi nữa thì anh ta vẫn cứ đến là để an ủi tôi đấy thôi, tôi đã cắt nghĩa cho anh ta rõ điều đó), thì cứ mỗi lần đến anh ta chỉ càng nhắc nhở tôi thêm về nỗi chết đó thôi. Anh ta nhún vai nhưng đồng ý với tôi: Chúng tôi chia tay nhau một cách hết sức lịch sự còn hơn điều tôi tưởng.

Nhưng buổi chiều và cả buổi đêm hôm đó, tôi cảm thấy hạt giống đầu tiên của “niềm tín quyết tối hậu” trong tôi đã đâm chồi. Tôi khát khao bám chặt lấy tư tưởng mới mẻ này, khát khao xem xét nó cho cặn kẽ, cho đầy đủ mọi bề (suốt đêm tôi không ngủ được), và càng suy xét nó, càng đắm mình vào tư tưởng đó, tôi càng thấy hãi sợ. Cuối cùng, một nỗi sợ sệt kinh khiếp nhất đã bủa lấy người tôi và cứ theo tôi không rời suốt những ngày sau đó. Thỉnh thoảng, nghĩ đến nỗi sợ miên man ấy, tôi cóng người lại với nỗi hãi hùng mới mẻ; và từ nỗi hãi hùng đó, tôi có thể kết luận rằng “niềm tín quyết tối hậu” của tôi đã đâm rễ quá vững chắc trong tôi và phải đưa đến một kết cục bất khả tránh thoát. Nhưng tôi thiếu quyết tâm cho cái kết cục đó. Ba tuần lễ sau khi sự lưỡng lự này qua đi, quyết định đã đến với tôi, nhưng qua một trạng huống hết sức lạ lùng.

Trong “Chúc ngôn” này, tôi có ghi đầy đủ những con số và ngày tháng. Dĩ nhiên, điều đó cũng chẳng có gì khác biệt đối với tôi, nhưng bây giờ và có lẽ chỉ vào ngay lúc này thôi, tôi mong muốn những kẻ xét đoán hành động của tôi thấy được rõ rằng, cái chuỗi luận lý nó dẫn đến “niềm tín quyết tối hậu” của tôi đó. Tôi vừa viết ở trên rằng, cái quyết định sau cùng mà tôi còn thiếu để thực hiện cho được “niềm tín quyết tối hậu” của tôi đã đến với tôi không phải qua một chuỗi luận lý nào cả mà từ một nỗi khích động lạ lùng, một cảnh huống lạ lùng, có lẽ hoàn toàn không liên quan gì với mạch chuyện đó cả. Khoảng mười ngày trước đây, Rogojin đến thăm tôi về một việc riêng tư của ông ta mà nói ra đây là thừa. Trước đó, tôi chưa bao giờ gặp Rogojin, nhưng tôi đã nghe nói nhiều về ông ta. Tôi cho ông ta biết mọi điều ông ta cần biết, sau đó ông ta đi ngay, ông ta chỉ đến để dò la tin tức nên mối liên hệ của chúng tôi coi như kết thúc ở đó. Nhưng ông ta khiến tôi chú ý quá sức, suốt ngày hôm đó những tư tưởng lạ lùng đã xâm chiếm lấy tôi, vì thế tôi quyết định đến thăm đáp lễ ông ta vào ngày hôm sau. Rõ ràng Rogojin không vui chút nào khi gặp tôi, và ông ta còn “khẽ khàng” tỏ cái vẻ rằng chúng tôi chẳng còn lý do gì mà liên lạc với nhau nữa; tuy nhiên, tôi đã trải qua một tiếng đồng hồ thật là thú vị, có lẽ ông ta cũng vậy. Sự tương phản giữa hai chúng tôi rõ rệt cho đến nỗi chúng tôi không làm sao mà không nhận thức được; tôi là một con người đang đếm những ngày còn lại của mình; còn ông ta thì đang sống trong một cõi đời sôi nổi nhất, đầy đủ nhất, sống cho giây phút hiện tại, chẳng cần lý gì đến những chung cuộc “tối hậu”, những con số hay bất luận cái gì khác không có liên hệ gì… liên hệ gì đến… điều mà ta có thể nói là mục đích của sự điên rồ của ông ta. Hẳn ông Rogojin phải tha thứ cho tôi về lời diễn tả này, chỉ vì tôi là một người viết tồi không biết làm sao diễn đạt được tư tưởng của mình. Mặc dù lạnh lùng và thờ ơ đến điều, nhưng đối với tôi thì ông ta ra dáng một người thông minh và có thể hiểu biết nhiều, dù ông ta không mấy chú tâm đến những việc chẳng đụng chạm thiết thân gì đến ông ta. Tôi chẳng đả động xa gần gì với ông ta về “niềm tín quyết tối hậu” của tôi, nhưng không biết sao tôi có cảm tưởng như khi nghe tôi nói, ông ta đã đoán biết được điều đó. Ông ta không nói gì, ông ta là một kẻ trầm lặng dễ sợ. Lúc tôi ra đi, tôi có bóng gió bảo ông ta rằng dù cho chúng tôi có hoàn toàn khác biệt và tương phản nhau, nhưng mà les extrémités se touchent[2] (tôi có giải thích bằng Nga ngữ cho ông ta hiểu câu ấy), thế cho nên chắc ông ta cũng chẳng xa lạ gì với “niềm tín quyết tối hậu” của tôi như bề ngoài có vẻ như vậy. Ông ta đã trả lời cho điều đó bằng một cái nhìn thật gay gắt, quạu quọ, ông đứng lên, đi tìm mũ cho tôi cứ như thể tôi tự ý muốn ra về và ông ta chỉ đưa tôi ra khỏi ngôi nhà u ám của ông ta cho đúng phép lịch sự đấy thôi. Ngôi nhà đó đã gây nên một ấn tượng trong tôi, trông nó như một chốn nghĩa địa, nhưng ông ta có vẻ thích điều đó, mà cũng thật dễ hiểu, một kẻ sống quá mãnh liệt và vội vã như thế, tự đời sống của ông ta đã quá đủ rồi, chẳng cần gì đến một không khí dễ chịu chung quanh nữa.

Cuộc viếng thăm này của Rogojin khiến tôi mệt mỏi hết sức. Với lại ngay từ sáng hôm đó, người tôi đã không được khỏe rồi, đến chiều thì tôi mòn mỏi quá phải lên giường nằm, lắm lúc tôi thấy người sốt kịch liệt và còn mê sảng từng chập nữa, Kolia ngồi với tôi đến mãi tới mười một giờ. Tôi nhớ rõ từng điều nó nói và từng câu chuyện chúng tôi trao đổi nhau. Nhưng những lúc chợp mắt đi, tôi cứ mãi trông thấy Ivan Fomitr Xuricov, tôi mơ thấy gã trở thành một nhà triệu phú. Gã không biết phải cất tiền ở đâu, gã nghĩ nát óc không biết phải cất tiền chốn nào, người cứ run lẩy bẩy vì sợ bị đánh cắp, rốt cuộc hình như gã quyết định chôn tiền xuống đất. Đến cuối, tôi khuyên gã thay vì chôn một núi vàng như thế xuống đất, gã nên nấu chảy vàng ra mà đúc thành một chiếc quan tài vàng, rồi đào xác đứa con bị “chết cóng” của gã lên mà liệm vào đó. Xuricov có vẻ tán thành đề nghị báng bổ ấy với dòng lệ biết ơn, rồi gã liền bắt tay ngay vào việc thực hiện kế hoạch ấy. Hình như tôi có tỏ một cử chỉ ghê tởm rồi bỏ đi. Lúc tôi tỉnh trí lại, Kolia đã cam đoan với tôi rằng tôi không hề ngủ chút nào, và suốt lúc đó tôi cứ nói chuyện mãi với nó về Xuricov. Lắm lúc tôi khốn khổ và bứt rứt quá chừng, nên lúc Kolia ra về, nó cũng ái ngại không yên. Lúc đứng dậy khóa cửa lại sau lưng nó, tôi chợt nhớ một bức tranh sơn dầu tôi đã có dịp thấy tại nhà Rogojin, treo nơi ngạch cửa trong một gian phòng ảm đạm nhất ở đó. Chính ông ta đã chỉ cho tôi xem bức tranh đó khi chúng tôi đi qua. Tôi đã dừng lại trước bức tranh ấy có đến năm phút. Xét trên quan điểm nghệ thuật thì đó là một bức họa tồi, nhưng nó đã day dứt tôi một cách lạ lùng.

Bức tranh diễn tả cảnh đấng Christ được vực xuống khỏi thập tự giá. Tôi tin rằng các họa sĩ hay có thói quen diễn tả đấng Christ lúc đang treo thân trên thập tự giá hay lúc ngài được vực xuống khỏi thập hình, với một nét đẹp phi phàm còn hiện trên gương mặt ngài; họ cố gắng duy trì nét đẹp trên con người ngài cả trong những giờ thống khổ nhất của ngài. Trong bức tranh của Rogojin, không có nét đẹp đó; bức tranh đó thực tả cái thi thể của một con người đã gánh chịu nỗi thống khổ vô biên trước khi bị treo trên cây thập tự, con người đó đã chịu thương chịu khó, chịu cực hình, bị lũ lýnh canh khảo đả, bị dân đánh đập lúc ngài vác thập tự giá và quỵ xuống dưới sức nặng của thập hình, con người đó cuối cùng đã chịu khổ hình là bị đóng đinh trên cây thập tự trong suốt sáu tiếng đồng hồ (ít ra cũng theo sự tính toán của tôi). Quả thực đây là khuôn mặt của một người vừa mới được vực xuống khỏi thập tự giá; một khuôn mặt vẫn còn vương vấn nhiều hơi ấm và sự sống; chưa có gì là vẻ cứng nhắc, nỗi đau đớn như vẫn còn giày vò trên khuôn mặt người chết như thể ngài vẫn còn cảm thấy nó (người nghệ sĩ quả đã “đạt” được nét đó rất tuyệt); mặt khác, gương mặt đó “thật” một cách tàn nhẫn: thật giống у như thiên nhiên, và cái xác chết của con người, bất luận là ai, cũng đều trông giống hệt như vậy sau lúc trải qua một nỗi thống khổ dường ấy. Tôi được biết giáo hội Thiên chúa, ngay từ những thế kỷ đầu tiên, đã tuyên bố rằng nỗi thống khổ của đấng Christ không phải có tính cách tượng trưng mà là nỗi thống khổ thực sự, vì thế cho nên thân thể của ngài bị treo trên thập tự giá cũng hoàn toàn bị chi phối dưới các quy luật của tự nhiên. Trong bức tranh, gương mặt ngài bị tàn phá khủng khiếp vì những cú đấm, sưng tấy lên, đầy những vết bầm tím rớm máu nổi cục, đôi mắt mở trân trân, con ngươi trợn trừng và tròng trắng mở lớn loáng lên một tia trong vắt chết chóc. Nhưng lạ nhất là khi nhìn ngắm thi thể con người bị khảo đả này, người ta chợt nảy ra một câu hỏi lạ lùng kỳ dị: Nếu tất cả những môn đồ của ngài, những kẻ sẽ trở nên các thánh tông đồ của ngài mai sau; nếu những người đàn bà đã dõi theo bước ngài và đứng dưới chân thập tự giá; nếu tất cả những kẻ tin cậy và ngưỡng mộ ngài mà nhìn thấy một xác chết thảm thương như thế (mà chắc chắn xác ngài phải như vậy rồi), thì làm sao họ còn dám tin rằng kẻ tuẫn tiết này có thể sống lại được? Chắc chắn người ta chẳng thể nào đừng nghĩ rằng nếu sự chết là một điều hãi hùng như thế, nếu những quy luật tự nhiên nó tàn khốc đến như vậy, thì làm sao họ còn có thể vượt thắng được? Làm sao họ có thể thắng lướt được khi mà chính ngài cũng không thể chiến thắng, ngài, kẻ mà lúc sống đã khuất phục được tự nhiên, kẻ mà tự nhiên phải tuân lệnh, kẻ đã phán “Talitha cumi!”[3] và khiến đứa con gái nhỏ trỗi dậy; kẻ đã gọi: “Hỡi Lazar, hãy ra”[4], và kẻ chết liền đứng dậy mà ra khỏi mồ? Khi người ta ngắm bức tranh này người ta nhận thức được tự nhiên dưới hình thể một con ác thú khổng lồ tàn nhẫn và câm nín, hay nói cho đúng hơn, cho chính xác hơn nữa, dù có hơi kỳ lạ, là dưới hình thể một cái máy khổng lồ kiểu tối tân, điếc lác và lì lợm, đã vô ý thức mà tóm lấy, mà nghiền nát, mà nuốt chửng một Thực thể vĩ đại, một Thực thể vô giá, một Thực thể có giá trị bằng cả tự nhiên và những quy luật của cõi tự nhiên đó, bằng cả trái đất, mà trái đất đó có lẽ cũng được tạo dựng nên chỉ để cho Thực Thể đó xuất hiện! Bức tranh ấy đã diễn tả ý niệm về một quyền lực tối tăm, hỗn xược và vĩnh cửu một cách ngu xuẩn mà mọi sự, mà muôn loài phải tuân phục nó, nó thống trị chúng ta mà chúng ta không nhận biết. Đoàn dân vây quanh kẻ chết ấy, mà trong bức tranh không còn thấy người nào, chắc hẳn đã cảm thấy một nỗi thống khổ và khiếp đảm ghê gớm vào buổi chiều hôm đó, cái buổi chiều đã nghiền nát ngay mọi hy vọng và gần như cả lòng tin của họ. Chắc hẳn họ đã chia tay nhau trong nỗi hãi hùng cực độ, mặc dù mỗi người đều ra đi với một ý tưởng chất ngất không rời. Và nếu vào cái buổi chiều áp ngày chịu đóng đinh trên thập tự giá mà vị Thầy có thể nhìn trước được cái hình dung của ngài vào lúc chịu nhục hình thế này, thì ngài có còn chịu treo thân trên thập tự giá để mà chết như thế không? Câu hỏi đó cũng vô tình thoạt đến trong tâm trí ta lúc ta nhìn bức tranh đó.

Suốt trong một tiếng rưỡi đồng hồ sau lúc Kolia ra đi, những tư tưởng ấy cứ bềnh bồng trong tâm trí tôi từng mảnh một, lắm lúc bằng những hình ảnh sống động, có lẽ trong cơn mê sảng. Mà há có một hình ảnh nào hiện ra trong trí tưởng mà không có hình ảnh được chăng? Quả thật tôi đã tưởng tượng từng cơn rằng tôi đã thấy, bằng một hình thể lạ lùng và khó diễn tả được, cái quyền lực vô biên ấy, cái thực thể câm nín, điếc đặc và tối tăm ấy. Tôi nhớ lại dường như có kẻ đã nắm tay tôi dắt đi, tay hắn cầm một ngọn nến, hắn chỉ cho tôi thấy một con nhện khổng lồ gớm ghiếc, và cam đoan với tôi rằng đó chính là cái Thực thể toàn năng, câm nín và tối tăm đó, và hắn cười rộ trước sự phẫn nộ của tôi. Ban đêm, trong phòng tôi lúc nào cũng có một ngọn đèn nhỏ thắp trước bức tượng thánh, hắt ra một tia sáng yếu ớt, mờ mịt; tuy nhiên người ta có thể phân biệt được mọi vật và còn có thể đọc sách được dưới ngọn đèn nhỏ ấy. Tôi tưởng lúc đó phải quá nửa đêm rồi. Tôi không ngủ được, cứ nằm đó mà mắt mở thao láo. Chợt cửa phòng tôi mở ra và Rogojin bước vào.

Ông ta bước vào, đóng cửa lại, lặng lẽ nhìn tôi rồi âm thầm đi lại một góc phòng có một cái ghế ở ngay dưới ngọn đèn nhỏ ấy. Tôi hết sức ngạc nhiên và nhìn ông ta, chờ xem ông ta sẽ làm gì. Rogojin chống khuỷu tay lên chiếc bàn nhỏ rồi nhìn tôi đăm đăm. Cứ như thể trong hai, ba phút đồng hồ, tôi vẫn còn nhớ cái thái độ yên lặng của ông ta đã khiến tôi bị tổn thương và nổi giận. Tại sao ông ta lại không chịu nói chứ? Dĩ nhiên việc ông ta đến vào một giờ trễ tràng như thế đã hẳn là quá lạ lùng đối với tôi rồi, nhưng tôi nhớ mình không hề ngạc nhiên về chuyện ấy. Trái lại, tôi biết rằng dù tôi đã không thể diễn đạt được ý tưởng của tôi một cách minh bạch cho ông ta rõ vào buổi sáng hôm ấy, nhưng ông ta đã hiểu, và cái ý tưởng đó thật cũng đáng cho ông ta bõ công đến với tôi để thảo luận lại, dù vào một giờ khắc trễ nải như thế mặc lòng. Cho nên tôi nghĩ là ông ta đến vì việc ấy. Cuộc chia tay của chúng tôi vào buổi sáng hôm đó có hơi lạnh nhạt, tôi còn nhớ có một đôi lần ông ta đã nhìn tôi thật châm biếm. Tôi trông thấy vẻ mỉa mai trên gương mặt của ông ta lúc này, điều đó đã khiến tôi chạnh lòng. Đó quả thực là Rogojin bằng xương bằng thịt chứ không phải là một sự hiện thấy hay một ảo tưởng gì hết, ngay từ phút đầu, tôi đã không một mảy may nghi ngờ. Và tôi cũng chẳng hề nghi ngờ gì sau đó.

Lúc đó ông ta cứ ngồi mà nhìn tôi biếm nhẽ như thế. Tôi giận dữ trở mình trên giường, tựa khuỷu tay lên gối, tôi cũng nhất định yên lặng đáp lại, dù cho phải yên lặng như thế đến bao lâu mặc lòng. Không hiểu sao tôi lại muốn rằng chính ông ta phải là người lên tiếng trước. Suốt trong hai mươi phút đồng hồ, tôi cứ nghĩ như thế. Chợt một tư tưởng đến với tôi. Biết đâu đó không phải là Rogojin mà chỉ là một con ma?

Suốt trong chuỗi ngày bệnh tật của tôi và cả trước thời gian đó, tôi chưa bao giờ thấy ma, nhưng lúc nào tôi cũng cảm thấy, ngay từ lúc còn bé cũng như bây giờ, nghĩa là dạo gần đây, rằng nếu tôi thấy tận mắt một con ma, chỉ một lần thôi, chắc tôi sẽ chết ngay tại chỗ, mặc dù tôi chẳng bao giờ tin chuyện ma quỷ cả. Nhưng lúc cái tư tưởng ám ảnh tôi rằng đó không phải là Rogojin mà chỉ là một con ma đấy thôi, tôi nhớ là tôi cũng chẳng hãi một chút nào. Sự thật thì tôi còn nổi giận nữa là đằng khác. Một điều lạ lùng nữa là tôi cũng chẳng hề bận tâm đến câu trả lời xem đó có phải là Rogojin hay không nữa, tôi coi như đó chỉ là chuyện đương nhiên vậy thôi. Hình như lúc ấy tôi đang mải nghĩ đến một chuyện nào khác. Chẳng hạn tôi mải nghĩ đến việc tại sao lúc sáng gặp tôi, Rogojin mặc áo ngủ và đi dép, mà bây giờ ông ta lại mặc áo chùng, áo gilê trắng và thắt cà vạt trắng. Tôi tự nhủ: Nếu đó chỉ là một con ma và ta chẳng hãi gì, thì tại sao ta không chịu trỗi dậy đi đến gần mà xem cho rõ thực hư? Có lẽ tôi đã không dám và sợ thật. Nhưng ngay lúc tôi có ý nghĩ rằng tôi sợ, chợt tôi cảm thấy toàn thân như chạm vào nước đá, một cơn lạnh buốt chạy suốt dọc xương sống, đầu gối tôi run lên. Chính lúc đó, như đoán biết được tôi sợ, Rogojin rút cánh tay đang tựa trên bàn lên, ngồi thẳng dậy và mở miệng như sắp cười đến nơi: Ông ta nhìn thẳng vào mặt tôi đăm đăm. Tôi chợt nổi giận quá sức đến nỗi tôi muốn lao tới ông ta, nhưng vì đã thề rằng sẽ không mở miệng trước nên tôi vẫn nằm yên trên giường, nhất lại vì tôi cũng không chắc đó có phải là Rogojin hay không.

Tôi không nhớ cảnh đó kéo dài bao lâu, cũng không nhớ tôi có bị ngất đi từng chập hay không nữa. Rốt cuộc, Rogojin đứng dậy thong thả nhìn tôi chăm chú như lúc ông ta mới vào, nhưng lúc này ông ta không nhăn nhở cười tôi nữa, và thật khẽ khàng, gần như là đi nhón gót chân, ông ta bước tới mở cửa ra, rồi đóng lại phía sau lưng. Tôi cũng không trỗi dậy khỏi giường; tôi cũng chẳng nhớ mình đã nằm mở mắt thao láo trên giường suy nghĩ trong bao lâu nữa. Có Chúa biết được tôi nghĩ gì lúc đó; tôi cũng chẳng nhớ tôi thiếp ngủ đi lúc nào nữa. Sáng hôm sau, tôi thức dậy lúc người nhà gõ cửa phòng tôi hồi mười giờ. Tôi đã ấn định với người nhà rằng nếu đến mười giờ mà tôi chưa mở cửa gọi trà, thì Matriona phải đến gõ. Lúc tôi mở cửa cho bà, lập tức tôi nghĩ: Cửa nẻo khóa như thế này mà làm sao ông ta vào được? Tôi hỏi thăm và kết luận rằng Rogojin bằng xương bằng thịt không thể nào vào được, vì mọi cửa nẻo nhà tôi đều khóa chặt vào ban đêm.

Chính hiện tượng lạ lùng tôi vừa diễn tả thật chi tiết đó đã khiến tôi quyết định được một cách dứt khoát. Đó chẳng phải do lý trí, không phải xác tín logic đã đưa tôi đến sự quyết tâm đâu, nhưng chính do mối tình cảm hiềm kỵ. Tôi không thể nào cứ sống một cuộc sống dệt bằng những khuôn thước lạ lùng và xúc phạm đến như thế được. Sự hiện thấy đó đã hạ nhục tôi. Tôi chẳng còn sức nào chịu đựng nổi cái quyền lực tối tăm mang hình dáng một con nhện. Và chỉ vào lúc đó, vào lúc hoàng hôn đó mà tôi đã cảm thấy rằng tôi đã quyết định dứt khoát được và cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Đó mới chỉ là giai đoạn đầu; đến giai đoạn thứ hai thì tôi đã đi xuống Pavlovsk, nhưng chuyện đó thì tôi đã giải thích đầy đủ cả rồi.

❀ ❀ ❀

[1] Sau khi thất bại tại Waterloo và bị phế truất khỏi ngai vàng lần thứ hai (1815), Napoleon chuẩn bị chạy sang Mỹ nhưng bị quân Anh bao vây ở cảng Roshfor và buộc phải điều đình với quân Anh. Sau Napoleon bị đày ra đảo Elena.

[2] Các sự tương phản đến với nhau (tiếng Pháp trong nguyên bản).

[3] Trích Kinh Thánh, sách Phúc âm thánh Mác, chương V, điều 41. Talitha cumi: Hỡi con gái nhỏ, hãy dậy đi! (tiếng Hy Lạp).

[4] Trích Kinh Thánh, sách Phúc âm thánh Joan, chương XI, điều 43.

tác giả những công trình nghiên cứu về thời Trung cổ, người sưu tầm các mẫu chữ Nga - Slave cổ. [15] Câu này được khắc trên tấm Huy chương do Nga hoàng Nikolai I trao tặng bá tước P.A. Kleinmikel (1793-1869) khi ngài đã hoàn thành việc chỉ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Fyodor Dostoievsky

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.