Điều đầu tiên ập đến với tôi khi tôi bước ba tầng cầu thang để đến căn hộ một phòng ngủ nhỏ xíu của mình, đó là mùi bánh muffin mới nướng. Mẹ tôi. Cứ mỗi lần căng thẳng, bà lại nướng bánh. Bánh quy, bánh hạnh nhân, bánh mì, bánh ngũ cốc, bánh nướng. Tôi được kể rằng suốt thời điểm tôi bị bắt cóc, cả cộng đồng, chưa kể những chuyên gia hỗ trợ nạn nhân, đều tăng lên ít nhất bảy ký lô.
Bà có chìa khóa căn hộ của tôi. Thực tế là ba chìa, bởi tôi thích nhiều khóa. Mẹ đã mở cửa trước, nhưng cứ để vậy mà không khóa lại. Tất cả những gì tôi phải làm là đẩy nó mở ra. Tôi biết mẹ không làm như thế để cố tình trả đũa tôi, nhưng tôi có thể cảm thấy vai mình cứng đờ. Tôi không trông đợi cuộc nói chuyện sắp tới. Rất có khả năng bà cũng vậy. Do đó, bà nướng bánh.
Mẹ đang ở trong bếp, cúi người xuống lò nướng, kiểm tra thành phẩm của mình khi tôi bước vào. Cảnh sát đã không đưa lại tôi đồ của mình sau tai nạn đó. Họ có tìm thấy chúng không? Tôi không biết. Nếu có, chắc hẳn chúng sẽ được giữ lại như vật chứng. Trong khi đó, viên thanh tra quận vội vã đưa tôi chiếc quần thể thao màu xám rộng thùng thình và áo khoác màu xanh biển của cảnh sát Boston, có vẻ là bộ đồ dự trữ giấu sau xe tuần tra của viên cảnh sát nào đó. Cả hai món đều dành cho người khổng lồ. Tôi phải đưa tay giữ lấy thắt lưng quần khi bước đi. Chân tôi vẫn để trần, nên không gây ra nhiều tiếng động khi bước trên sàn gỗ.
Tôi chọn căn hộ này vì nhiều lý do. Thứ nhất, nó nằm ở tầng ba, khó xâm nhập đối với vị khách không mời mà đến nào đó. Thứ hai, những căn nhà gạch nâu cũ kĩ nổi tiếng bởi trần cao, thiết kế kiểu mắt bò và cửa sổ lồi. Căn hộ của tôi tuy nhỏ nhưng ngập tràn ánh sáng từ những ô cửa sổ cũ kĩ, và duyên dáng với sàn gỗ sồi mòn vẹt và những đường viền gỗ đẹp đẽ. Trần có thấm nước không? Có chứ. Giấy dán bong tróc ở nhà bếp? Đúng vậy. Với nước chỉ tuôn nước nóng sau ba hoặc bốn lần vặn? Ồ, một cô gái như tôi khó có đủ khả năng có được thứ tốt nhất.
Bên cạnh đó, tôi thích những vết nứt của căn hộ. Nó đầy sẹo. Như tôi. Chúng tôi thuộc về nhau, chưa kể cặp vợ chồng già chủ nhà biết câu chuyện của tôi nên chỉ lấy một phần nhỏ tiền thuê.
Tôi đã từ chối thỏa thuận viết sách và làm phim về những gì đã xảy ra. Việc giảm tiền thuê nhà là niềm vui sau khi bị bắt cóc mà tôi nhận được. Bởi tôi không trở lại trường đại học và cũng không biết sẽ làm gì với phần còn lại của cuộc đời mình, nên tiền bạc quả thật là một vấn đề. Vài tháng qua, tôi đã làm việc cho một tiệm pizza dưới phố, nổi tiếng với giới sinh viên đại học và gia đình địa phương. Tiền lương theo giờ của tôi rất thấp, tiền tip chỉ nhỉnh hơn xíu. Nhưng công việc không lo âu, và tôi cảm kích điều đó.
Đây là cuộc sống tôi đã nghĩ mình sẽ sống năm hai mươi bảy tuổi? Không. Nhưng khi lần đầu tiên rời trang trại của mẹ để đi học đại học tại một thành phố lớn, tôi biết gì chứ? Tôi học tiếng Pháp, phần lớn bởi tôi thích được đến Paris. Có thể tôi sẽ trở thành một cô giáo. Hoặc trở về Maine và gây dựng một trang trại nhỏ của riêng mình để nuôi dê. Tôi sẽ bán sữa dê, phô mai dê, thậm chí cả kem dưỡng da sữa dê và xà bông sữa dê. Tất cả đều có nhãn hiệu bằng tiếng Pháp. Lúc đó tôi thật hạnh phúc, thật ngây thơ, khi có những giấc mơ như vậy.
Nhưng giấc mơ của mọi người đều thay đổi, không chỉ giấc mơ của những cô gái bị bắt cóc trong suốt bốn trăm bảy mươi hai ngày.
Ít nhất tôi không phải đối phó với con cái. Bởi đó là điều có thể xảy ra. Bị giam giữ đủ lâu, mang thai, sinh con, có thể xảy đến. Tuy nhiên, Jacob rất cứng rắn về chuyện đó. Một lần mỗi tháng, hắn bắt tôi phải nuốt số bia tự làm kinh khủng mà hắn thề sẽ ngăn chặn việc mang thai. Nó có vị như nhựa thông và dẫn đến cơn co thắt dạ dày đau đớn ngay lập tức. Cô y tá chuyên về tấn công tình dục - người đã thực hiện cuộc kiểm tra ban đầu cho tôi - đã tò mò về thứ thuốc ấy. Nhưng theo ý kiến chuyên môn của cô, sự thù ghét cực độ và việc hoàn toàn thiếu mỡ cơ thể của tôi mới là thứ thực sự có tác dụng tránh thai. Thành thật mà nói, tôi đã không có kinh nguyệt trong hầu hết thời gian bị giam cầm. Tôi quá gầy ốm.
Lúc này, tôi nhìn mẹ đứng thẳng người dậy phía trước lò nướng, một tay mang găng cầm chặt khay bánh muffin. Bà quay người lại, thấy tôi, và ngay lập tức đứng im như phỗng. Ánh mắt bà nhìn xuống chiếc áo khoác rõ ràng không phải là của tôi, rồi đến vệt rác bẩn trên má, trên tóc tôi. Bà không nói gì. Tôi nhìn lồng ngực bà căng lên, cái hít vào tự chủ. Rồi từ từ thở ra khi bà rõ ràng đếm đến mười. Một lần nữa, bà tự hỏi làm sao để sống sót với một đứa con gái như tôi.
Trên cổ bà là một sợi dây chuyền với chiếc mặt bằng bạc. Một con cáo thanh nhã và hoàn hảo.
Bà mua nó sau khi tôi mất tích. Khi FBI chuẩn bị bà cho buổi họp báo đầu tiên, họ loại bỏ trang phục thường ngày của bà là quần yoga ống rộng và áo choàng bằng vải dệt tay, loại được ưa chuộng bởi những phụ nữ lớn tuổi người Afghanistan. Không còn là một nông dân tự do phóng khoáng, trồng khoai tây hữu cơ ở vùng Maine. Mục tiêu của bà là trông giống Mẹ, với chữ M viết hoa. Một người có thể nhận ra ngay và dễ tiếp cận - có thể khơi gợi tình cảm của tên bắt giữ tôi, nếu hắn còn có đôi chút.
Họ chuẩn bị cho bà quần jean và áo sơ mi trắng gài nút cao. Có thể là loại trang phục đơn điệu nhất bà từng mặc trong đời, chưa kể đôi giày thực sự thay cho đôi dép thô Birkenstock.
Tôi không xem cuộc họp báo đầu tiên đó. Hay cuộc họp thứ hai. Tôi nghĩ tôi có xem được cuộc họp thứ ba, khi mọi thứ đang thực sự nóng dần lên. Ngay cả khi đó, việc nhìn bà, người mẹ của mình, trên ti vi, đứng trước micro, với chiếc áo sơ mi màu xanh nhạt nút cao, quần jean, hai bên là các đặc vụ FBI mặc vest…
Mẹ tôi đó, nhưng không phải mẹ tôi. Một khoảnh khắc siêu thực trong cuộc đời đã tạo bước ngoặt cho một ngã rẽ siêu thực kinh khiếp. Tôi thà tắt ti vi, lãng phí đặc quyền hiếm hoi của mình, hơn là nhìn thấy người-mẹ-nhưng-không-phải-mẹ-tôi này. Nhưng rồi tôi thấy mặt dây chuyền hình cáo. Nằm trên chỗ hõm ở cổ bà.
Tôi không nghe những lời bà nói vào ngày đó. Nhưng tôi quỳ trên sàn căn phòng khách sạn rẻ tiền đó, đặt ngón tay mình lên mặt dây chuyền quanh cổ bà. Ngón tay tôi quá lớn, còn dáng hình mẹ bé tẹo trên chiếc ti vi cỡ nhỏ ấy, nên đầu ngón tay trỏ tôi gần như che kín hết cả đầu bà.
Tôi có thể đã khóc. Tôi không nhớ rõ. Tôi đã bị bắt đi vài tháng trời vào thời điểm đó. Tôi không biết mình có còn chút nước mắt nào sót lại không.
Nhưng tôi cố chạm vào bà, người-mẹ-nhưng-không-phải- mẹ-tôi ấy. Và trong một khoảnh khắc, tôi trở lại là một đứa trẻ, chạy nhảy líu lo trong trang trại, ném quả bóng golf cho lũ cáo nhỏ và cười khanh khách khi chúng hất bóng ngang qua những ngọn cỏ cao.
Giờ bà đặt khay bánh lên mặt lò. Đôi tay bà run rẩy nhè nhẹ.
“Con đói không?” Bà hỏi, giọng bà gần như bình thường. Trang trại của bà ở phía bắc Boston ba tiếng rưỡi đồng hồ lái xe. Giả sử Samuel gọi bà ngay sau khi tôi liên lạc với ông, bà đã ngay lập tức lên chiếc xe tải của mình và lái đến đây từ khoảnh khắc bình minh ló rạng.
“Con phải tắm.” Tôi nghe mình nói.
“Tất nhiên rồi. Con cứ từ tốn.”
Có vẻ không còn điều gì khác để nói. Tôi đi khỏi, tay vẫn cầm chiếc lưng quần rộng thùng thình. Bốn lần vặn vòi sau đó, nước trở nên nóng hổi. Tôi cởi đồ, bước vào làn nước bốc hơi. Và để nước xối lên người mình đỏ ối.
Trong một khoảnh khắc, tôi gần như có thể ngửi thấy nó lần nữa. Mùi da người cháy. Như thịt lợn nướng.
Khi khoảnh khắc ấy qua đi, tôi nhắm mắt lại. Khoảng không mênh mông lại ngập tràn trong tôi, và tôi đón nhận sự trống rỗng ấy.
Để luôn luôn cô độc trong căn phòng đông đúc.
Thời điểm duy nhất tôi cảm thấy an toàn.
***
Sau lần bị bắt cóc, khi tôi đã trở về với miền đất sống, một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Samuel là lập kế hoạch hỗ trợ sau giam giữ cho tôi. Về cơ bản, ông tiến hành đánh giá kỹ năng đối phó của tôi, trong khi vẫn làm việc với các chuyên gia hỗ trợ nạn nhân khác đang giúp đỡ gia đình tôi hiểu được mức độ của mạng lưới hỗ trợ đã áp dụng.
Mặc dù Samuel là chuyên gia về căng thẳng sau sang chấn tâm lý, ông nói với tôi rằng ông không phải fan hâm mộ của thuật ngữ này. Theo ý kiến của ông, nó thường được áp dụng quá dễ dàng và như một mô hình một-kích-thước-phù-hợp-cho-tất-cả. Ông đã làm việc với hàng chục, hàng chục người sống sót qua nhiều năm, và trong khi tất cả chúng tôi đều trải qua sang chấn tâm lý, thì chỉ một vài người thực sự mắc Rối loạn căng thẳng sau chấn thương - PTSD. Thực tế, ông cảnh báo mẹ tôi một cách rõ ràng về việc đưa ra giả định như vậy, hay thậm chí đưa ra cái cớ như vậy nhân danh tôi.
Những người sống sót vượt qua được bởi họ học được cách thích ứng. Thích ứng là đối phó. Đối phó là sức mạnh.
Mẹ tôi, anh tôi, bản thân tôi không nên kỳ vọng tôi yếu đuối vào lúc này, cũng không chủ động nuôi dưỡng sự phụ thuộc. Thay vào đó, tất cả chúng tôi nên tập trung vào việc củng cố khả năng phục hồi tự nhiên của tôi, điều đã giúp tôi vượt qua thử thách ngay từ đầu.
Về bản thân tôi, sai lầm lớn nhất mà những người sống sót có thể mắc phải, theo Samuel, là nghiền ngẫm lại về những hành động của mình. Thế nên, không tự hỏi tại sao tôi lại đến quán rượu tối hôm đó. Hay tại sao tôi không đấu tranh dữ dội hơn. Hay thoát ra ngay lần đầu tiên Jacob không khóa thùng xe container của hắn. Không kể lần Jacob dừng xe bên đường giữa một nơi tít mù nào đó và đứng ngay đó, tè vào một mương nước.
Quá khứ là quá khứ. Không quan trọng những sai lầm tôi có thể đã mắc phải hay không mắc phải. Điều quan trọng là tôi sống sót.
Samuel đã đúng về cái bẫy của việc nghiền ngẫm lại quá khứ. Tôi không phải chịu những cơn ác mộng về Jacob nhiều như nỗi bất an khủng khiếp về những thứ lẽ-ra-đã, phải-thế-mới-đúng. Lần đăng ký đầu tiên khóa học tự vệ của tôi là một nỗ lực nhằm giúp giải tỏa trạng thái ấy, khiến tôi cảm thấy thoải mái hơn. Trớ trêu thay, mẹ tôi ủng hộ bước đi đó, thậm chí tham gia lớp học đầu tiên cùng tôi. Samuel cũng chấp thuận. Tăng cường cảm giác về sức mạnh bản thân ư, tuyệt vời!
Khoảng đâu chừng giữa lớp học thứ tư hay thứ năm gì đấy, và với sự quan tâm ngày càng mạnh mẽ hơn của tôi về kỹ năng bắn súng, mẹ tôi bắt đầu lo lắng. Những ngày đó tôi còn sống ở nhà, và nghe lỏm bà thảo luận với Samuel trong lần ghé thăm của ông nhằm đánh giá sự tiến triển của chúng tôi, của cả hai chúng tôi.
Samuel không phải là nhà trị liệu, và rõ ràng không phải chuyên gia trị liệu của tôi. Tuy nhiên, ông đã đề nghị tư vấn cho tôi, hay hỗ trợ trị liệu, như cách ông thích gọi. Nhưng tôi đã chống đối mọi nỗ lực. Những buổi trị liệu riêng luôn liên quan đến việc kể lại câu chuyện của tôi, và tôi luôn bám lấy vũ khí của mình: như đã hứa, tôi đã kể câu chuyện của mình một lần rồi. Không bao giờ kể lại lần nữa.
Trớ trêu thay, mẹ tôi là người nghe theo lời khuyên của Samuel. Tôi chuyển sang lớp học lái xe chiến thuật, trong khi bà bắt đầu gặp gỡ mục sư một lần mỗi tuần.
Một trong những nhận thức khác mà mọi người sống sót phải đối mặt: vụ bắt cóc của tôi không chỉ làm tổn thương bản thân tôi, mà còn cả gia đình tôi. Mẹ tôi, sau tấm bưu thiếp thứ ba, bắt đầu bỏ bê trang trại và dành sự chú ý toàn thời gian vào việc tiếp cận gã bắt cóc, với niềm hy vọng trong nỗi tuyệt vọng được gặp lại con gái mình. Anh tôi đã bỏ trường đại học, đầu tiên là để trả lời những câu hỏi bất tận của cảnh sát và sau đó là bởi, theo lời anh, làm sao anh có thể tập trung khi biết tôi đang ở đâu đó ngoài kia, cần sự giúp đỡ của anh?
Những vụ trọng án giống như căn bệnh ung thư vậy. Chúng ngự trị, đòi hỏi tập trung toàn bộ nguồn lực của gia đình. Anh tôi trở thành chuyên gia truyền thông, xây dựng trang Facebook, chạy tin Twitter. Và thực tế, công việc còn là đối phó với báo chí cắm trại bên ngoài sân chúng tôi hàng tuần liền vào lúc đó, đặc biệt sau khi Jacob gửi đến một tấm bưu thiếp mới, đưa ra một miếng mồi mới.
Mẹ tôi dành thời gian mỗi ngày của mình với các chuyên gia hỗ trợ nạn nhân, cũng như những người cha mẹ khác cũng có con bị mất tích. Họ cung cấp sự hỗ trợ, cố vấn, trong khi bà tìm cách tăng tốc nhanh chóng sự hiểu biết về thực thi pháp luật, hành vi tội phạm, quản lý phương tiện truyền thông. Bà phải học cách soạn thông điệp cho các cuộc họp báo chiến lược, trong khi tham gia các chương trình tin tức buổi sáng và trạm tin hàng đêm. Bà viết thư tay trả lời hàng trăm, hàng ngàn lá thư từ những người hoàn toàn xa lạ gửi đến để chúc tôi trở về bình an. Và bà cũng phải chịu đựng những lá thư, những bài viết Facebook khác nói rằng cô gái suy đồi như tôi rõ ràng đã nhận được chính xác những gì tôi xứng đáng.
Theo lý thuyết, có những hỗ trợ tài chính dành cho các nạn nhân. Các chuyên gia cần mẫn đưa ra các loại giấy tờ cho phép mẹ tôi có thể thu thập vài ngàn ở đây, xin trợ cấp đôi chút chỗ kia. Mẹ tôi sẽ nói với bạn rằng bà không có cả thời gian lẫn tâm trí. Không, có con bị bắt cóc là một thử thách khó khăn. Lỗi ra ngoài uống rượu vào ban đêm trong kỳ nghỉ xuân của tôi đã trở thành hình phạt cho cả gia đình.
Trong trường hợp của chúng tôi, cộng đồng đã chung tay giúp sức. Những người hàng xóm ghé qua, giúp làm việc ở trang trại vào thời gian rảnh của họ. Họ gieo hạt, trồng cây, và khi thử thách tiếp tục kéo dài, họ giúp thu hoạch vụ mùa thu. Nhà thờ tổ chức bán bánh nướng để quyên góp. Doanh nghiệp địa phương gửi đến các tấm séc. Những quán ăn, nhà hàng giúp cung cấp thức ăn.
Mẹ tôi sẽ không bao giờ rời bỏ trang trại. Có lẽ cũng là chưa bao giờ. Mảnh đất, nơi ở của bà, cộng đồng của bà, đó là sự an ủi, là cái neo của bà. Nó đã ở đó khi bà cần nó nhất, và không có nó, tôi không biết bà sẽ ra sao.
Bà có nơi chốn của mình trên thế giới này.
Anh tôi và tôi vẫn còn lưu lạc.
Darwin đi khỏi. Một năm sau sự trở lại của tôi, khi tôi không thể mỉm cười một cách thần kỳ theo yêu cầu. Khi món bánh kếp tôi từng thích giờ trở thành mùi tôi không thể chịu đựng được, đối với anh là quá đủ. Người bảo vệ gia đình tôi suy sụp, và lái xe rời đi một cách nhanh chóng mà không bật đèn pha, khiến mẹ nhận ra tất cả những yêu thương và sự quan tâm tôi không muốn lẽ ra nên chuyển sang anh.
Sau nhiều cuộc tranh luận đau đớn, mẹ gửi anh đến châu Âu. Lo cho anh tờ hộ chiếu, tấm vé xe lửa, một ba lô, và tiễn anh đi với một nụ hôn và cái ôm. Đi đi, chàng trai trẻ, và tìm thấy chính mình.
Darwin không gửi bưu thiếp. Nhưng thỉnh thoảng, chúng tôi nhận được điện thoại. Giờ anh đang ở London. Rất thích nó. Đang nghĩ đến việc bắt đầu học ở trường kinh tế London. Rõ ràng, anh đủ thông minh, có đủ những chủ đề thú vị để viết trong bộ hồ sơ đăng ký theo học ở trường.
Tôi nghĩ, hơn bất kỳ điều gì khác trên đời, tôi mong anh trai tôi có được một cuộc sống hạnh phúc. Tôi ước anh sẽ yêu, sẽ có một công việc ưa thích, xây dựng một cuộc sống viên mãn. Để lỗi lầm của tôi không còn là hình phạt đối với anh hơn nữa.
Điều buồn cười là, tôi nghĩ anh sẽ nói chính xác những điều như vậy về tôi.
Tôi tắm đủ lâu. Xát xà bông. Thoa dầu gội. Dùng dầu xả. Làm tất cả mọi thứ mà vẫn không thấy mình sạch sẽ.
Mùi da người cháy.
Không phải thịt heo. Có thể giống mùi thịt bò nướng hơn.
Tôi đã cứu một mạng sống, tôi nhắc mình như vậy khi vặn tắt vòi nước. Một cô gái khác được an toàn nhờ tôi. Một con thú săn đã ít hơn trên phố.
Mặt trời lên cao. Căn hộ của tôi có mùi bánh muffin việt quất. Đây là một trong những khoảnh khắc tôi nên ngừng lại, biết ơn cuộc đời.
Tôi nghĩ về Jacob. Tôi không muốn vậy. Chỉ là tôi không thể làm khác.
Tôi nhớ về Jacob Ness, người đã bắt tôi, bẻ gãy tôi, và rồi nhào nặn lại tôi trong suốt bốn trăm bảy mươi hai ngày.
Và trong tâm trí tôi, hắn đang cười cợt tôi.
Mẹ tôi đã dọn sạch căn bếp. Nếu tôi không xuất hiện sau khi đã thay đồ và tắm rửa sạch sẽ, tôi khá chắc mẹ sẽ tháo tấm rèm cửa vải in của Pháp mà bà đã mua và lắp năm vừa rồi cho tôi xuống mà chà rửa cho sạch sẽ thì thôi. Mẹ tôi là một nông dân phần lớn bởi bà cần phải giữ mình bận rộn liên tục. Bà là một trong những người đòi hỏi cả danh sách dài thượt những công việc hàng ngày, nếu không đời bà sẽ mất đi mọi ý nghĩa.
Hôm nay, bà ăn mặc theo lối quen thuộc của mình. Quần yoga ống rộng màu đen với đường viền hoa văn ở gấu, kèm chiếc áo sơ mi một trăm phần trăm sợi hữu cơ rộng màu xanh bọt biển. Bên ngoài, bà khoác áo sơ mi flannel màu xám của nam, không cài nút. Ở Maine, bà có thể hòa nhập ngay. Còn ở Boston thì không như thế.
Khoảng sáu tháng sau khi tôi trở về nhà, mẹ đóng thùng tất cả những áo quần mà các chuyên gia hỗ trợ nạn nhân đã giúp bà mua cho các cuộc họp báo. Cùng nhau, chúng tôi mang chúng đến cửa hàng đồ cũ hoạt động bên ngoài tầng hầm nhà thờ. Những người phụ nữ rất hài lòng khi nhận được những món đồ chất lượng cao và chưa mấy hao mòn như vậy.
Chúng tôi gọi đó là cuộc Giải phóng. Một chiến dịch diễn ra nhằm lấy lại cuộc sống của chúng tôi. Mẹ tôi cho đi những bộ quần áo khiến bà chưa bao giờ thực sự là bà. Tôi sơn căn phòng tuổi thơ của mình màu vàng và kiên quyết trân trọng hơn vẻ đẹp của mỗi ngày.
Nhưng phải nói là mẹ tôi thực hiện chiến dịch tốt hơn tôi.
Khi tôi trở lại, mẹ đã xếp bánh muffin ra chiếc đĩa đặt giữa chiếc tủ bếp lăn được dùng vừa như bàn bếp, vừa như bàn ăn của tôi. Bà cũng đã rót hai ly nước cam và cắt sẵn trái cây. Bởi tủ lạnh của tôi phần lớn chỉ dùng để chứa nước và các hộp đồ ăn cũ, chắc hẳn mẹ đã đến cửa hàng tạp hóa ở góc đường trong khi tôi đang tắm.
Điều, tất nhiên, buộc tôi phải quay ra kiểm tra khóa cửa trước. Tôi chốt các chốt cửa. Khi tôi trở lại, tôi biết vẻ mặt tôi có vẻ chê trách, nhưng tôi không thể dừng được.
“Bánh muffin chứ?” Bà nói vui vẻ, ra hiệu về phía đĩa bánh trên bàn.
Tôi lấy một cái. Đột nhiên, tôi như chết đói. Tôi ăn hai cái bánh, ngấu nghiến nửa tô trái cây. Mẹ tôi không nói gì, chỉ ăn phần mình. Bà có thể đã ăn từ nhiều giờ trước. Chờ đợi tôi. Lo lắng cho tôi.
Giờ thì, bà cố gắng không biểu cảm quá nhiều.
“Samuel nói là con đã giết một gã đàn ông.” Cuối cùng bà nói, trò chơi chờ đợi bắt đầu.
Tôi lấy đĩa của mình, mang đến bồn rửa nhỏ xíu. “Tự vệ thôi. Con sẽ không bị buộc tội gì cả.”
“Con nghĩ đó là điều làm mẹ sợ ư?”
Bà đứng ngay cạnh tôi, và dù cố gắng hết sức với bài tập thở sâu, tôi vẫn có thể thấy bà đang kích động.
Điều đó khiến tôi đau đớn. Nó quả thật như vậy. Tôi không biết làm sao để lại là cô con gái nhỏ của bà lần nữa. Tôi không biết làm thế nào để quay ngược thời gian và hoàn tác những gì tôi đã làm. Tôi không thể cảm thấy thứ tôi không thể cảm thấy. Tôi không thể trở thành thứ tôi không thể trở thành.
Nhưng nó khiến tôi đau, cái nhìn ấy trên khuôn mặt mẹ tôi, nét lo âu ấy trong đôi mắt bà. Nó giết chết tôi khi tôi biết rằng con người tôi lúc này gây đau đớn cho người mẹ đã không làm gì khác ngoài việc yêu thương tôi.
“Con không lên kế hoạch cho những gì đã xảy ra.” Tôi nghe mình nói. “Nhưng con đã có chuẩn bị. Và con đã xử lý được tình huống. Gã này đã tấn công các cô gái khác. Mẹ, nhưng không còn nữa đâu. Hắn chết rồi.”
“Mẹ không quan tâm đến những cô gái khác.” Bà nói. “Mẹ quan tâm đến con.”
Bà ôm tôi, mạnh mẽ và dữ dội. Tôi biết đó là cách bà luôn ôm tôi. Và tôi buộc mình phải đứng đó. Không nhũn ra, không co cứng. Nhắc nhớ bản thân rằng cánh tay đó là của mẹ tôi. Tóc bà có mùi mà trong ký ức tôi là mùi tóc của mẹ. Đây là người phụ nữ đã bế tôi lên giường mỗi tối, đọc truyện cho tôi nghe, cho tôi ly sữa nóng khi tôi không ngủ được, và làm món bánh mì quế mỗi khi tôi ốm. Hàng triệu những khoảnh khắc nhỏ bé.
Nhưng tất cả đã rời rạc ra vào lúc này. Đây là điều tôi không thể nói với bà, không bao giờ có thể giải thích một cách rõ ràng. Những ký ức dường như không phải của tôi. Tất cả những điều này, tất cả những điều từng có, có vẻ như đã xảy ra với một người nào khác, một cuốn phim về cuộc đời một ai khác chứ không phải là tôi.
Jacob Ness muốn một người bạn đồng hành hoàn toàn thuần phục. Nên hắn bẻ gãy tôi, về thể chất, tình cảm, tinh thần. Rồi, khi tôi là hư không, chỉ còn một cơ thể người thô sống, bất lực, hắn nhào nặn tôi trở thành chính xác thứ hắn muốn. Hắn trở thành thế giới của tôi, trung tâm của tôi, ngôi sao chỉ đường của tôi.
Và rồi… Ngày cuối cùng đó. Những khoảnh khắc cuối cùng đó.
Tôi đã kể câu chuyện một lần và sẽ không bao giờ lặp lại nó nữa.
Giờ hắn đã biến mất.
Và tôi trôi lạc. Vĩnh viễn không ràng buộc. Cho đến khi cái ôm của mẹ tôi có cảm giác như thể sự an ủi của một người xa lạ.
Anh trai tôi đã bỏ chạy trước con người mà tôi trở thành. Nhưng mẹ tôi ương ngạnh hơn thế.
“Con có thể về nhà.” Bà nói, vẫn là cuộc tranh cãi muôn thuở. Nuôi dưỡng sự phụ thuộc. Bà biết điều đó, và vội vàng thêm vào. “Chỉ một chuyến về thăm. Vài ngày thôi. Chúng ta có thể tổ chức một ngày cuối tuần dành cho cánh phụ nữ.”
“Con ổn mà.”
“Đi ra ngoài một mình vào tối thứ Sáu ư?”
“Con có thể tự chăm sóc bản thân. Đó không phải điều quan trọng sao?”
Bà rút lui. Bà không thể nói chuyện với tôi khi tôi trong tâm trạng ấy, bà biết điều đó. Một lần nữa, sự lo lắng hiện diện trên khuôn mặt bà, khiến tôi cảm thấy như một cú đấm thẳng vào ngực.
“Flora.”
“Con biết mẹ không thích sự lựa chọn của con.” Tôi nghe mình nói. “Nhưng đó là những gì con chọn.”
Một cuộc tranh cãi thắng lợi trong thế giới của mẹ tôi, và bà biết điều đó. Tôi nhìn bà hít sâu. Thở chậm.
“Nếu con không về nhà cuối tuần này…” Bà nói nhanh. “Vậy thì nói với mẹ khi nào con về?”
Tôi chấp nhận sự thỏa hiệp của bà. Chúng tôi chọn một ngày, hai tuần nữa kể từ hôm nay. Tôi nói với bà, tôi cần nghỉ ngơi ngay bây giờ, nhưng bà cứ ở lại.
Nhưng bà lắc đầu. Căn hộ thành phố không phải là một nơi cho một nông dân vùng Maine. Mẹ chuẩn bị về, lái xe suốt ba tiếng rưỡi đồng hồ nữa. Bảy tiếng đồng hồ đi về để được ở một tiếng bên con gái của bà.
Đó là điều những người mẹ vẫn làm, bà nói với tôi khi tôi nhìn theo bà quay lưng và bước xuống cầu thang.
Khi mẹ đã khuất tầm nhìn, tôi đóng cửa trước lại. Tôi kiểm tra các khóa. Rồi trở vào căn hộ đầy nắng, duyên dáng và đầy sẹo của mình.
Tôi làm chính xác điều tôi nói với mẹ là sẽ làm. Tôi lên giường.
Tôi ngủ. Tôi không phải lúc nào cũng ngủ được. Thường thì những cơn buồn ngủ đến với tôi vào lúc thích hợp. Nhưng lúc này, cảm giác tươi mới từ lần giết người gần nhất…
Tôi ngủ như chết.
Khi tôi thức dậy, mặt trời đã lặn, căn phòng tối om và tôi biết ngay lập tức rằng tôi không ở một mình. Tôi có thể cảm thấy một luồng gió thổi ngang má tôi, và sự thinh lặng không thành tiếng của bước chân kẻ đột nhập.
Và rồi, từ ngay bên ngoài cánh cửa phòng ngủ đang mở của tôi. Một cái bóng, tối đen và đầy đe dọa. Tôi mở miệng nói, ai đó?
Ngoại trừ, tất nhiên, tôi đã biết.
Thế giới đầy rẫy những con quái vật.
Tôi cần phải di chuyển, nhảy ra khỏi giường, áp dụng phương án phòng thủ.
Thay vào đó, tôi sai lầm hít vào.
Rồi, tất cả những gì tôi nghe thấy là một tiếng cười xa xăm, ngay trước khi cả thế giới trở nên tối sầm lần nữa.