Mười hai giờ rưỡi sáng thứ Hai, DD. cuối cùng cũng đến văn phòng. Cô cảm thấy như hết hơi, đầu óc vẫn còn ong ong từ cuộc nói chuyện với đặc vụ FBI ở Atlanta và hoàn cảnh xung quanh cuộc giải cứu Flora khỏi Jacob Ness. DD. cũng nhận thức được chính xác cô đã bỏ bê nhiệm vụ kiểm soát của mình đến thế nào. Đích thân tham gia vụ án, có, nhưng xử lý giấy tờ và kiểm soát thông tin thì…
Cô phải làm tốt công việc ngày hôm nay, cô tự hứa với mình khi đi bộ lên cầu thang, tách cà phê trong một tay, chiếc túi da trong tay còn lại. Cô sẽ ngồi. Cô sẽ tập trung. Cô sẽ làm việc như một giám sát viên đơn vị điều tra án mạng thực thụ, gắn chặt mông vào ghế, mắt nhìn thẳng vào tập hồ sơ trước mặt. Cô sẽ lướt qua những báo cáo, sẽ tỉ mẩn từng chi tiết, và bạn sẽ không bao giờ biết được đâu, sẽ khám phá một điều gì đó có sức đẩy mạnh vụ án. Ai bảo công việc bàn giấy là không quan trọng chứ?
Giải pháp của cô chỉ tồn tại vỏn vẹn đến lúc cô ngoặt qua khúc quanh vào văn phòng, nơi cô nhìn thấy thanh tra mới, Carol Manley, đang đợi mình. Cô nàng tóc vàng nhỏ nhắn vẫn mặc bộ đồ của ngày hôm qua, gần như nhảy dựng lên, tóc tai dựng đứng.
“Cô ở đây cả đêm à?” DD. hỏi kèm cái nhăn mặt. Rồi: “Chờ chút đã. Cô phải xem qua các đoạn camera. Vậy cô có tìm thấy đoạn quay cảnh bắt cóc Flora không?”
“Không. Tôi tìm thấy thanh tra tòa nhà.”
“Ý cô là gã bắt cóc cải trang thành thanh tra tòa nhà?”
“Không, một thanh tra thực sự. Hóa ra, anh ta là thật.”
Thanh tra tay mơ Carol Manley đã không ngủ cả đêm trước đó, và rõ ràng đã dùng rất nhiều, nếu không nói là cả chục, tách cà phê. DD., người tự hào về khả năng uống cà phê của mình, đã phải yêu cầu cô chậm lại nhiều lần để có thể hiểu được câu chuyện.
Carol đã xem qua những đoạn phim từ rất nhiều camera đặt xung quanh tòa nhà của Flora. Nhưng cô vẫn không có được phát hiện nào đáng kể.
“Có quá nhiều hình ảnh.” Cô vội vã giải thích. “Quá nhiều người dân trong khu vực đó, quá nhiều xe, quá nhiều khách bộ hành. Mỗi khung hình, mỗi thước phim, đều có cả hàng chục người. Và tôi không biết mình tìm kiếm ai, thì làm sao tôi có thể phân loại?”
“Cô bắt đầu bằng việc tìm kiếm Flora.” DD. cắt ngang.
“Chắc chắn rồi, Flora. Nhưng Flora sao cơ? Cô ấy đã biến mất vào tối thứ Sáu, sáng thứ Bảy. Tôi nghĩ tôi đã tìm thấy đoạn phim có xe của Tiến sĩ Keynes rẽ vào tòa nhà, nhưng chỉ có vậy. Không có cảnh Flora đi ra ngoài sau đó, và nó không giống như tôi có đoạn phim trực tiếp từ tòa nhà của cô ấy. Điều tốt nhất tôi có thể làm, là kiểm tra camera giao thông ở giao lộ gần đó, để xem có bất kỳ dấu hiệu nào của cô ấy trong những chiếc xe hơi đi ngang qua đó không. Nhưng một lần nữa, quá nhiều các lượt qua lại, quá nhiều xe, quá nhiều cửa sổ.”
DD. đưa tay lên xoa trán, thừa nhận điểm đó. Lấy lại các đoạn phim từ camera theo dõi luôn có vẻ là một ý kiến tuyệt vời, cho đến khi bạn chính là viên thanh tra phải kiểm tra chúng.
“Nên tôi buộc phải suy nghĩ.” Carol tiếp tục một cách hối hả. “Điều tôi cần là nhiều thông tin hơn nữa, một manh mối có thể nhìn thấy khác. Rồi tôi chợt nghĩ ra, ông bà chủ nhà Mary và James Reichter nói rằng thanh tra tòa nhà đã đến vào thứ Ba.”
“Nhưng Phòng Kiểm tra nhà ở không có dữ liệu nào về việc đó.”
“Chính xác! Nhưng tại sao lại không bắt đầu với các camera giao thông vào thứ Ba, phải không nào? Nói chung, tình trạng giao thông sáng thứ Ba sẽ thông thoáng hơn nhiều so với tối thứ Bảy. Hơn nữa, chúng ta biết rằng nghi phạm là một người cao lớn, điều sẽ khiến hắn dễ nhận ra trên camera. Tôi nghĩ có thể tôi có được hình ảnh của tên bắt cóc thật sự hoặc nếu may mắn hơn, cả xe và biển kiểm soát của hắn.”
DD. không thể không bị ấn tượng. Tìm kiếm hình ảnh của nghi phạm trong lần đến thăm tòa nhà vào thứ Ba thật sự là điều hợp lý hơn để khởi đầu. Và, vâng, một biển kiểm soát…
“Nhưng cô đã không tìm thấy hắn?” Cô hỏi Manley.
“Ồ, tôi đã tìm thấy anh ta. Riley Hayes. Nhưng anh ta không phải là người đóng giả là thanh tra tòa nhà. Anh ta thực sự là một nhà thầu phụ chuyên thanh tra các tòa nhà.”
“Sao cơ? Nhưng Phòng…”
“Chưa nhận được báo cáo của anh ta. Hayes vẫn đang hoàn thành nó, đó là lý do không có dữ liệu. Nhưng camera giao thông đã ghi lại hình ảnh một chiếc xe đi qua giao lộ vào thứ Ba với logo bên hông: Thanh tra Hayes. Tôi ghi lại biển số xe, gọi vài cú điện thoại, và thế là ra. Thanh tra Riley Hayes, chính anh ta đã đến tòa nhà của ông bà Reichter vào thứ Ba.”
“Nhưng…” DD. nhíu mày, nhấp một ngụm cà phê, rồi lại nhíu mày lần nữa. “Tôi muốn nói chuyện với anh ta.”
Manley toét miệng cười rạng rỡ, bập bênh lên xuống trên mấy đầu ngón chân. “Tôi biết mà. Nên tôi mới bảo anh ta đợi cô ở phòng số sáu.”
DD. phải dành một phút để chuẩn bị. Cô cất chiếc túi xách bằng da bên dưới bàn làm việc, cởi áo khoác ngoài, nhấp thêm vài ngụm cà phê. Đầu óc cô lại quay cuồng lần nữa, theo cách không tốt chút nào. Tên thanh tra tòa nhà này không thể là một thanh tra thật sự được. Bởi điều đó không hợp lý chút nào. Một nghi phạm với lý do kiểm tra tòa nhà như một mưu mẹo để có được chìa khóa, đó là cách giải thích hợp lý cho việc cũng chính hắn có thể bước vào căn hộ đã khóa của Flora. Nhưng còn một thanh tra thực sự, người quả thật đang làm công việc của mình…
Sao điều đó lại có thể xảy ra cơ chứ?
Carol đứng đợi cô bên ngoài phòng họp. Cô đã có sẵn một tách cà phê mới, rõ ràng không để ý tới cơn co giật bên mắt phải của mình. Là một người nghiện cà phê có kinh nghiệm, DD. nhận ra triệu chứng của việc sử dụng cà phê quá nhiều, sẽ sớm theo sau bởi cơn đau nhức kinh khủng nơi thái dương. Chúc may mắn, cô nghĩ, rồi mở cánh cửa bước vào phòng.
Trụ sở chính của Sở Cảnh sát Boston là một tòa nhà hiện đại toàn kính mà bạn có thể vừa yêu vừa ghét. Dù thế nào, nó cũng không phải là một kiến trúc xơ xác, rỉ nước, dơ bẩn, xiêu vẹo mà nhiều bộ phim về cảnh sát từng mô tả. Văn phòng của đơn vị điều tra án mạng đã chuyển thành khu vực sử dụng chung với một công ty bảo hiểm, với những cánh cửa sổ mở rộng, những ô làm việc màu xám trang nhã, và tấm thảm màu xanh dương hạng thượng phẩm. Phù hợp với kiến trúc ấy, là một dãy những phòng nhỏ cho những cuộc nói chuyện riêng tư với gia đình, hay những trao đổi kín tiếng giữa các thanh tra với nhau.
Phòng họp số sáu là một trong những căn phòng như vậy. Một căn phòng nhỏ gồm một chiếc bàn đơn sơ, vài chiếc ghế. Một cửa sổ quan sát có thể tiếp cận từ sảnh. Nó không có vẻ dọa dẫm, cũng không thân thiện, điều khiến nó trở nên hoàn hảo cho những cuộc nói chuyện thế này: nơi DD. phỏng vấn một người vừa có thể là nghi phạm, vừa có thể là một công chức bình thường.
Vị thanh tra liếc mắt nhìn lên khi DD. mở cửa. Thoạt nhìn, anh ta trẻ hơn DD. nghĩ. Mái tóc sẫm màu cắt ngắn. Hàm vuông. Vai ngang. Một anh chàng cao lớn, kiểu người để lại ấn tượng mạnh với cặp vợ chồng chủ nhà lớn tuổi như Mary và James Reichter. Trong chiếc áo sơ mi xanh đậm, tên thêu tay bằng chỉ trắng phía ngực trái, anh ta khiến người đối diện cảm nhận được sự tự tin, mạnh mẽ, chuyên nghiệp.
Không ngạc nhiên khi Mary và James trao cho anh ta chìa khóa tòa nhà của họ. DD. tưởng tượng nhiều nữ chủ nhà cũng sẽ làm thế một cách vui vẻ.
“Anh là Riley Hayes?” Cô hỏi khi bước vào phòng.
Anh ta gật đầu, không hẳn nhìn thẳng vào mắt cô. Lo lắng, cô nghĩ. Một người không đáng tin?
Nhưng đó cũng là điều thường thấy ở rất nhiều người khi được yêu cầu đến sở cảnh sát cho buổi thẩm vấn chính thức.
Carol Manley theo sau DD. bước vào phòng, đóng cánh cửa phía sau lưng họ lại. Căn phòng không rộng; DD. và Carol ngồi xuống ghế, đối diện với đối tượng của họ, và căn phòng chỉ còn đủ không gian để thở.
Carol đặt tách cà phê xuống bàn. DD. trông thấy ánh mắt của người đàn ông nhìn thoáng qua nó, hít một hơi theo phản xạ làn khói đang bốc lên, nhưng không nói một lời nào.
“Anh đã thanh tra một tòa nhà vào tuần vừa rồi.” DD. đọc địa chỉ trong khi mở tập hồ sơ Manley đã chuẩn bị về Hayes. DD. lướt qua bản báo cáo, lưu ý vài vé phạt giao thông, không có gì thực sự đáng lưu ý.
Đối diện với cô, Haynes gật đầu. “Đúng vậy.”
“Anh đã làm thanh tra các tòa nhà trong bao lâu?”
“Sáu tháng.”
“Chưa lâu nhỉ.” DD. nhìn lên. “Ở đây có nói ban đầu anh được đào tạo làm lính cứu hỏa.”
“Tôi từng là lính cứu hỏa. Cho đến khi bị thương ở lưng. Trong khi đang làm nhiệm vụ. Bác sĩ yêu cầu tôi thuyên chuyển sang công việc này.”
“Anh thích công việc này không?”
Anh ta nhún vai, nhìn xuống mặt bàn. “Đó là công việc.”
“Hãng thanh tra Hayes. Anh làm chủ công ty này ư?”
“Cha tôi. George Hayes. Công ty của ông ấy.”
Cô thấy điều này có vẻ thú vị. “Anh thanh tra bao nhiêu tòa nhà trong một tuần?”
“Còn tùy. Một vài tòa nhà, ví dụ như nơi của ông bà Reichter, không lớn lắm, sẽ không mất nhiều thời gian. Nhưng những nơi khác… có thể phải mất vài ngày.”
“Tại sao lại là tòa nhà của ông bà Reichter?”
“Hệ thống máy tính báo đã quá hạn. Thành phố lúc này đã quá tải, phải thuê những công ty như của cha tôi để hoàn thành bớt.”
“Vậy anh đến đó vì hệ thống máy tính báo?”
Anh ta cuối cùng cũng ngẩng đầu lên, lần đầu tiên chạm ánh mắt cô. “Cô có thể gọi đến Phòng Kiểm tra nhà ở. Điều này là thế nào vậy?”
DD. phớt lờ câu hỏi của anh ta. “Theo chủ nhà, họ không thể dẫn anh đi quanh tòa nhà. Có quá nhiều cầu thang.”
“Đúng vậy.”
“Thay vào đó, họ trao cho anh chìa khóa của các căn hộ.”
Đối diện với cô, Hayes ngừng lại, có vẻ cân nhắc. “Có ai đó báo họ mất gì ư? Vì vậy nên mới có cuộc nói chuyện này phải không?”
“Tôi không quan tâm đến chuyện mất cắp.” DD. nói với anh ta. “Không phải bộ phận của tôi.”
Hayes nhíu mày, có vẻ bối rối hơn nữa, chính xác là điều cô muốn. “Có ai ở nhà trong lúc anh kiểm tra không?” Cô hỏi.
“Có chứ. Tất nhiên rồi.”
“Ai?”
“Phụ nữ. Tầng ba. Tôi sẽ ghi lại trong báo cáo của mình: cô ta không cho tôi vào nhà.”
“Anh biết tên cô ấy không, anh Hayes?”
“Không. Cô ta không phải kiểu người thích nói chuyện. Cũng không quan tâm đến các quy định của thành phố.”
“Cô ấy không tin anh là thanh tra tòa nhà ư?”
“Tôi đưa cô ta xem chứng minh thư của tôi. Hai lần.” Một cảm xúc đầu tiên thoáng xuất hiện trên khuôn mặt anh ta: bực bội. “Thậm chí ngay cả lúc đó, cô ta còn bảo phải gọi điện thoại xác nhận trước khi tôi được phép vào nhà.” Anh ta lắc đầu. “Có vài người như thế đấy.”
“Cuối cùng thì cô ấy có cho anh vào nhà không?”
“Không. Khi cô ta gọi đến Phòng Kiểm tra nhà ở, không ai bắt máy cả. Hơn nữa…” Anh ta ngập ngừng.
“Sao cơ?” DD. thúc giục. “Hơn nữa gì?”
“Khóa cửa của cô ta. Cô ta có nhiều khóa trong, khóa ngoài. Tôi thông báo với cô ta như thế là không phù hợp với quy định. Trong trường hợp khẩn cấp, chúng sẽ cản trở khả năng tiếp cận căn hộ của đơn vị cứu hỏa.”
DD. cảm thấy lôi cuốn. “Cô ấy trả lời thế nào?”
“Cô ta bảo rằng hỏa hoạn là điều cô ta ít lo lắng nhất.” Anh ta nói khô khốc. “Rồi cô ta yêu cầu tôi đi khỏi, cô ta không cần ai phải dạy mình về an toàn.”
“Tiếp theo anh làm gì?”
Anh ta nhún vai. “Hỏi rằng liệu tôi có thể ít nhất kiểm tra thiết bị báo cháy hay lối đi khẩn cấp trong căn hộ của cô ta không.”
“Cô ấy đồng ý chứ?”
“Ôi trời. Cô ta chỉ tay vào một thiết bị báo động trên trần sảnh, có thể nhìn thấy từ ngưỡng cửa. Bảo tôi rằng tôi có thể nhìn thấy từ nơi mình đang đứng là nó vẫn hoạt động ổn - đèn led xanh sáng chứng tỏ vẫn có điện, trong khi đèn đỏ thể hiện có pin dự phòng. Về lối thoát hiểm của căn hộ, cô ta sẵn lòng để tôi kiểm tra lối thoát hỏa hoạn - từ phía bên ngoài.”
“Cô ấy có vẻ xinh đẹp.” DD. trấn an anh ta. “Anh có thể miêu tả đôi chút về cô ấy được chứ?”
Hayes giật mình, có vẻ ngạc nhiên bởi yêu cầu này. “Tôi không biết. Nhỏ con. Ý tôi là…” Anh ta đỏ mặt. “Với tôi, phần lớn các cô gái đều có vẻ nhỏ nhắn như nhau. Tóc vàng, hơi bù xù. Cô ta ăn mặc bình thường. Quần thụng, đi chân không. Tôi không biết nữa. Cô ta không thân thiện, đó là điều ấn tượng với tôi nhất.”
“Các cô gái khác nhìn chung đều rất thân thiện phải không? Với một anh chàng trẻ tuổi, bảnh trai như anh?”
Anh ta lưỡng lự, nét mặt một lần nữa hiện lên sự thận trọng. “Cô muốn gì? Cô ta nói gì về tôi à?”
“Tại sao chứ? Anh làm gì sai sao? Có thể mất bình tĩnh, trở nên giận dữ? Rõ ràng cô ấy đã không đối xử với anh bằng sự tôn trọng mà lẽ ra anh xứng đáng được nhận.”
Hayes lắc đầu. “Nghe này, tôi không biết chuyện gì đang diễn ra ở đây. Đúng, tôi đã thanh tra tòa nhà của gia đình Reichter. Đúng, tôi đã nói chuyện với một người phụ nữ nào đó ở tầng ba. Nhưng chỉ có vậy. Cô ta không cho tôi vào nhà, tôi không ép. Tôi có ghi chú về một máy báo khói đang hoạt động mà mình nhìn thấy, và rồi, vâng, tôi đi vòng quanh tòa nhà và kiểm tra lối thoát hỏa hoạn.”
“Anh leo lên đó à?”
“Tất nhiên.”
“Ghé mắt nhìn vào cửa sổ nhà cô ấy?”
“Sao cơ? Này, nghe tôi này.” Anh ta chống tay vào mặt bàn, khuôn mặt đỏ ửng. “Tôi làm công việc của mình, không hơn. Tôi không biết cô ta đã nói gì, nhưng dù có là gì đi nữa… Tôi đi quanh tòa nhà, kiểm tra lối thoát hiểm, chỉ vậy thôi. Hãy hỏi ông bà Reichter. Tôi trả tất cả chìa khóa cho họ, chỉ mười lăm, hai mươi phút là tối đa. Và tôi có thể cho các cô thấy báo cáo của tôi - các biểu đồ, mọi thứ tôi phải làm. Mười lăm, hai mươi phút là hợp lý. Nên dù cô ta có nói điều gì đã xảy ra, thì không phải thế.”
“Anh không ngại kiểm tra nói dối chứ?”
“Thật sao? Ý tôi là… Tôi có cần phải gọi luật sư không? Chuyện gì đã xảy ra vậy?”
“Cái tên Flora Dane có khiến anh chú ý?”
“Không. Lẽ ra phải vậy sao?”
“Đó là người phụ nữ ở căn hộ tầng ba.”
“Tôi không biết. Như tôi đã nói rồi đấy, cô ta không phải là người dễ bắt chuyện.”
“Cô ấy đã mất tích.”
“Sao cơ?”
“Cô ấy biến mất. Có thể bị bắt cóc. Tối thứ Bảy. Nhiều khả năng bởi ai đó có chìa của tất cả các ổ khóa trên cánh cửa căn hộ nhà cô ấy.”
Hayes im lặng, mặt trắng bệch. Anh ta nhìn DD., rồi nhìn Carol Manley, rồi lại nhìn DD. lần nữa. DD. không thể nói được điều gì đang diễn ra bên trong tâm trí của anh ta. Tội lỗi? Vô tội? Chối bỏ? Sự hợp lý hóa? Anh ta không đáng tin, cô kết luận. Vừa đủ để lưu tâm.
“Tôi đã trả chìa khóa lại cho chủ nhà.” Anh ta phản pháo. “Dù điều gì đã xảy ra cũng không liên quan đến tôi.”
“Rất dễ để in chìa - hay làm một chìa giả.”
“Không. Tôi không làm thế.”
“Anh đã ở đâu vào tối thứ Bảy?”
“Gì cơ?”
“Tối thứ Bảy. Anh ở đâu?”
“Tôi có hẹn.” Hayes ngồi thẳng dậy, cao giọng. “Ở quán Boston Beer Garden. Tôi đến đó với nhóm bạn của tôi. Tôi có thể cung cấp cho cô tên của họ.”
“Mấy giờ?”
“Bảy giờ.”
“Trước đó?”
“Chuẩn bị. Tôi có một người bạn cùng phòng. Cậu ấy có thể làm chứng.” Hayes gật đầu. Anh thấy đường ra và đang lần theo hướng đó. “Nghe này, hãy hỏi cha tôi, hỏi bất kỳ ai. Tôi là một người tốt. Tôi có mặt, làm công việc của mình, hết chuyện. Thứ Ba ở tòa nhà Reichter… Tôi không biết điều gì đã xảy ra với cô gái ấy, nhưng tôi đảm bảo với cô: tôi không liên quan gì đến chuyện đó. Tối thứ Bảy, tôi ra ngoài cùng bạn bè mình và tôi có thể chứng minh điều đó.”
Mười phút sau, tại văn phòng của DD.
Carol Manley: “Tôi không nghĩ anh chàng này là người làm bộ chìa khóa giả hay bắt cóc Flora Dane.”
“Đúng vậy.”
“Nhưng nếu không phải anh ta, thì ai có thể làm được điều đó? Mở cánh cửa gồm ba ổ khóa, bắt đi cô gái bán chuyên nghiệp được đào tạo kĩ lưỡng khi đang ngủ.”
“Tôi không có ý kiến.” DD. nói.
“Vậy thì chúng ta bắt đầu lại ngay từ điểm khởi đầu. Chúng ta có một nạn nhân, Flora Dane.”
“Chắc rồi.”
“Ừm, và Stacey Summers, bởi có thể chung một thủ phạm, phải không nào? Nhưng rồi có cả Devon Goulding, người Flora giết, và vài bức hình của các phụ nữ mất tích khác, những người hắn có thể đã giết.”
“Không thể là Devon Goulding.” DD. nói. “Hắn đã chết trước khi Flora mất tích.”
Carol thở dài, đưa bàn tay vuốt lên mái tóc rối của mình.
“Tôi bối rối quá!” Viên thanh tra mới thành thật.
“Tôi cũng thế.” DD. đồng tình. “Tôi cũng thế.”