“Chúng tôi đã tìm thấy thi thể.”
“Ý anh là những thi thể?” DD. liếc nhìn lên khỏi bàn làm việc của mình, thấy Phil đang đứng nơi ngưỡng cửa.
Anh lắc đầu.
“Không. Chỉ một thi thể. Tại một trong những điểm đến được liệt kê trong thiết bị định vị gắn trên xe của Goulding.”
“Là Kristy Kilker hay Natalie Draga?”
“Đó là điều chúng tôi sẽ tìm hiểu.”
DD. tự động đẩy ghế ngồi của mình về sau. “Chờ đã. Đây có phải một bài kiểm tra? Bởi tôi đã nghe anh nói, anh biết đấy. Tôi nghe thấy rằng tôi cứng đầu và độc đoán, tôi nên tin tưởng cộng sự của mình hơn nữa, nên có niềm tin vào khả năng giải quyết vấn đề của anh hơn nữa. Nghĩa là, giờ anh sẽ đến chỗ cái xác ấy. Và tôi ngồi chờ báo cáo của anh như một giám sát viên hạn chế nhiệm vụ ngoan ngoãn? Và rồi…” Cô cũng ngạc nhiên như bất kỳ ai khác khi phát hiện một thoáng nghẹn đột ngột trong cổ họng mình. “Rồi anh sẽ không còn nổi giận với tôi lần nữa.”
“Tôi không nổi giận với cô.”
“Tôi tin tưởng anh.” Cô thoát ra khi còn có thể. Bởi lúc này, cô đang nhớ lại cuộc nói chuyện ngày hôm qua với Phil và nó thật chua xót. Cô chưa từng nói ra, nhưng Phil là điều gần gũi nhất với hình ảnh người cha thay thế mà cô có, đặc biệt là khi cha cô không tán thành công việc của cô. Cô không nhớ cha mẹ mình, những người hiện đang sống ở Florida. Cô thậm chí không còn phiền muộn về việc họ không thấu hiểu cho công việc của cô. Nhưng với Phil, sự thất vọng rõ ràng của anh đối với cô… nó đau quá.
“Tôi tin tưởng anh, Phil à. Tôi tin tưởng Neil. Và tôi nhớ hai người. Mỗi ngày. Tôi nhớ đội chúng ta, tình cộng sự giữa chúng ta. Tôi không thích cảm giác là mình đã làm anh thất vọng. Bởi anh là đồng đội của tôi. Anh luôn là đồng đội của tôi, và hãy đối mặt với sự thật, không phải ai cũng muốn một thành viên cứng đầu và độc đoán như tôi trong đội. Tôi biết điều đó. Tôi hoàn toàn biết điều đó.”
“Cô xong chưa?”
“Có thể.”
“Bởi vì đây không phải là bài kiểm tra. Dù, quả đúng là cô cứng đầu và độc đoán thật.”
“Tôi biết.”
“Và cô nên tin tưởng hơn vào chúng tôi.”
“Tôi biết.”
“Nhưng cô cũng là cô, và tôi biết cô, DD. à. Phần lớn thời gian, khi tôi không hoàn toàn cáu tiết, thất vọng hay sợ hãi, tôi thậm chí còn thích cô nữa. Vậy giờ cả hai chúng ta đều đồng tình rằng tôi đúng còn cô sai rồi, vậy cô còn muốn đi theo tôi nữa hay không?”
“Đi theo ư?”
“Đến hiện trường vụ án. Với cái xác. Nhưng tôi là người lái.”
DD. không cần đến lời đề nghị thứ hai. “Được thôi!”
“Cô thực sự là một giám sát viên hạn chế nhiệm vụ phiền phức đấy.”
“Đúng. Tôi cũng từng nghĩ như thế về bản thân rất nhiều rồi.” Cô không quên lấy túi xách da của mình và rời khỏi bàn làm việc.
“Vậy giờ chúng ta đi đâu?” Cô hỏi khi theo sau Phil bước ra khỏi cửa, trật tự thế giới chính thức được phục hồi.
“Mattapan.”
“Lần nữa à? Tại sao những thi thể luôn được che giấu ở Mattapan nhỉ?”
“Bởi có một số khu phố quả thật là như vậy.”
Khu Mattapan có một công viên tự nhiên điều hành bởi tổ chức Massachusetts Audubon trên những mẫu đất từng là một bệnh viện tâm thần bị bỏ hoang. Cả Phil và DD. đều rất thận trọng khi đi men theo bên ngoài khu vực này, bám sát hàng rào sắt bao quanh vùng cây xanh rậm rạp ngăn cách chúng khỏi khu đô thị dày đặc những tòa nhà xung quanh.
Họ đã từng đến công viên này trước đây. Họ đã từng đứng trên những mẫu đất này, khi bộ khung xương còn lại của bệnh viện tâm thần hoang phế vẫn còn nhấp nháy đôi mắt kính gãy vỡ từ trên đỉnh đồi. Họ biết tất cả về những bóng ma trong quá khứ của khu vực này, cả phần xương cốt còn lại của sáu cô gái họ từng khai quật từ một hố ngầm vào lần cuối họ đến đây.
Theo sau Phil tiến đến con đường mòn xuyên rừng đầu tiên, DD. chợt rùng mình, không phải vì lý do thời tiết.
Về lý thuyết, Bệnh viện Boston đã biến mất từ lâu. Một nửa không gian xanh đã trở thành Trung tâm Tự nhiên Boston, nơi sinh sống của một trăm năm mươi loài chim và ba trăm năm mươi loài thực vật, ở giữa một khu vực đô thị dày đặc, nơi những tòa nhà ba tầng chen chúc, phần lớn đều tồi tàn, xập xệ.
Những người dân Boston đổ về đây để đi dạo qua những tán cây, lắng nghe tiếng chim, ngắm nhìn những cánh bướm. Điểm đến thường xuyên này trên thiết bị định vị của xe Devon Goulding có thể chỉ mang ý nghĩa anh ta là một người yêu thích thiên nhiên.
Ngoại trừ, tất nhiên, công viên cũng đại diện cho một không gian xanh xa xôi ẩn giấu, chính xác nơi mà một kẻ giết người sẽ cần đến để chôn giấu một thi thể.
Theo lời kể của Phil, họ đã mang chó nghiệp vụ đến đây vào sáng nay. Chỉ cần không tới hai mươi phút đã có phát hiện: một gò đất thấp bên cạnh một hố cạn có chiều dài ngang bằng, cả hai chỉ vừa được đào xới không lâu, bởi cỏ chỉ vừa lên lơ thơ.
Người thường nhìn chung thường chú ý đến gò đất mỗi khi tìm kiếm thi thể. Nhưng những chuyên gia có kinh nghiệm như cảnh sát Boston thì biết nhiều hơn thế. Gò đất được hình thành từ những đất đá mà tên sát nhân đã đào lên từ hố đất dùng làm mộ - đào xuống, hất đất sang bên cạnh. Hố đất mới chính là mộ phần. Khi đối tượng đã chôn vùi thi thể, hắn sẽ phủ đất lên trên sao cho tương đối bằng phẳng. Không một lần cân nhắc đến ảnh hưởng của việc phân hủy. Những lớp thịt và cơ cuối cùng sẽ thối rữa, trượt khỏi xương, tan chảy vào lòng đất. Nếu ruồi nhặng kịp đẻ trứng vào thi thể trước khi được chôn, quá trình này sẽ diễn ra thậm chí còn nhanh hơn nữa - chưa kể hành vi của các loại thú ăn thịt khi nguồn thức ăn tươi mới được mang vào khu vực.
Những phần mộ nông tiếp tục cuộc sống của chúng. Và cuối cùng, tất cả các thi thể đều có kết cục như nhau. Phân hủy. Cát bụi trở về với cát bụi. Tan vào trong lòng đất, cho đến nhiều tháng sau đó, một cái hố với hình dạng độc đáo được hình thành. Dạng hố lõm mà bất kỳ thanh tra điều tra án mạng có kinh nghiệm nào cũng có thể nhìn và nói, này, tôi cá là có một cái xác được chôn ở đây.
Cả nhóm bác sĩ pháp y đã có mặt. Dạng phục hồi này được tiến hành như việc đào xới của các nhà khảo cổ, với khu vực bên dưới hàng cây đã được đánh dấu bằng một loạt những dây kẻ. Mỗi xúc đất đào lên đều được cho vào những hộp đựng có đánh dấu, sau đó sẽ được sàng lọc lại nhằm tìm kiếm những chứng cứ khác. Sẽ phải mất cả ngày trời để đội pháp y chuyển xác đi, DD. biết, và hàng tuần, nếu không phải là hàng tháng, trước khi Ben đưa ra bản báo cáo đầy đủ.
DD. và Phil tiến lại, nhưng vẫn đảm bảo không quá gần. Ben Whitely rất giỏi trong công việc của mình, hay chính xác hơn, anh rất phòng thủ và ít kiên nhẫn trước những thủ thuật của cảnh sát.
Anh cũng từng có mối quan hệ lãng mạn với đồng đội của họ, Neil. Sau khi chia tay… mọi người đều rất chuyên nghiệp. Nhưng không có gì là như cũ.
“Chào buổi sáng, Ben.” Phil nói.
Anh nhận được tiếng càu nhàu đáp lại từ dáng người vạm vỡ đang khom người bên ngôi mộ nông, có vẻ như đang phủi đất. DD. nhận ra hành động của anh ta từ những hồi tưởng về quá khứ: họ đã chạm đến vị trí thi thể, và Ben lúc này đang phủi lớp đất đá cuối cùng phủ lên xương, da, hay bất cứ thứ gì còn lại.
Ở khoảng cách này, DD. có thể ngửi được luồng hơi thối rữa pha lẫn với mùi mục nát của lá cây, đất đá. Vậy có nghĩa phần thi thể còn lại vẫn còn chưa trơ xương, điều này hợp lý với thời gian mất tích của những người phụ nữ.
“Nam hay nữ?” DD. hỏi. Không như Phil, cô không phí thời gian cho những câu chào hỏi. Điều cô nhận ra, khiến cô thành người Ben thấy dễ chịu nhất. Anh cũng không quan tâm đến những câu xã giao.
“Nữ.”
“Thời gian tử vong?”
“Quên nó đi.”
DD. và Phil nhìn nhau. Rõ ràng, đó là câu hỏi được trả lời ở nhà xác. Hợp lý. Tỷ lệ phân rã trong các ngôi mộ nông thay đổi rất khác nhau, tùy thuộc vào độ sâu của mộ, hoạt động của côn trùng, những điều như vậy. Ben sẽ phải phân tích các mẫu đất lấy từ bên dưới thi thể để xác định thời gian tử vong, và thậm chí khi đó, anh cũng vẫn còn càu nhàu về độ chính xác. Điều này khiến hôm nay là một ngày tươi đẹp cho những thanh tra đơn vị điều tra án mạng, hơn là một bác sĩ pháp y.
“Có quần áo, nữ trang, hay bất cứ thứ gì khác có thể sử dụng để nhận dạng không?” DD. hỏi. Trên phương diện cá nhân, cô hy vọng những bộ phận cấy ghép - bất kỳ thứ gì, từ phẫu thuật nâng ngực đến thay khớp gối giả, tất cả những thứ có kèm theo số seri có thể truy ngược lại chủ nhân.
“Có đôi hoa tai.” Ben nói, vẫn không ngẩng đầu lên. “Vòng vàng. Ít quần áo. Có vẻ là quần jean xanh. Áo sơ mi. Không xác định được có gì trong túi không, vẫn chưa đến lúc.”
DD. nhìn sang Phil. “Neil và tôi đã xem qua tập hình chụp Natalie Draga trong phòng của Goulding. Tôi không nhớ cô ấy có mang hoa tai.”
“Tôi sẽ gọi Neil, đề nghị anh ấy kiểm tra lại.” Phil nói. “Còn Kristy Kilker?”
“Chúng tôi không tìm thấy bức ảnh nào của cô ấy cả. Chỉ có bằng lái xe của cô ấy.”
“Anh ấy cũng có thể kiểm tra điều đó luôn. Nhằm khi cô ấy có đeo hoa tai trong bức ảnh ấy.”
DD. gật đầu, nghĩ điều đó họa hoằn lắm mới xảy ra. Chỉ có vài phụ nữ mang cùng một đôi hoa tai suốt ngày suốt tháng, còn một cô gái tuổi đôi mươi ư? Kristy hẳn có những món trang sức khác nhau phù hợp với mỗi bộ trang phục.
“Tóc có vẻ màu nâu.” Ben nói.
Điều này phù hợp với cả Natalie lẫn Kristy.
“Có gì đó ở móng tay. Sơn móng. Có thể màu hồng đậm, hay đỏ. Các cô gái mất tích của cô có thích làm móng không?”
Phil viết với dòng ghi chú. Một chi tiết nữa để tìm hiểu.
“Anh có chắc là chỉ một thi thể không?” DD. nói lớn.
Ben cuối cùng ngẩng đầu lên, xiên cô bằng cái liếc sắc lẻm.
“Đừng bận tâm.” Ngay cả DD. cũng biết khi nào cần rút lui để tránh hậu quả đáng tiếc. “Vậy thì…” Cô cố chọn câu hỏi tiếp theo một cách cẩn thận. “Chúng tôi có hai cô gái mất tích. Một người được nhìn thấy lần cuối chín tháng trước.” Natalie Draga, người không bao giờ xuất hiện để lấy tấm sec tiền lương cuối cùng. “Một mất tích khoảng năm tháng trước.” Kristy Kilker, người từng gọi điện thoại cho mẹ một hoặc hai lần kể từ chuyến đi cô nói với bà là đến Ý.
“Nếu tôi phải chọn giữa hai người…” Ben trở lại công việc quét bụi.
“Chắc rồi.”
“Thi thể này có vẻ mới hơn. Đã ở đây khoảng chừng hai đến ba tháng.”
DD. liếc nhìn Phil.
“Chỉ là thi thể đã được chôn từ lúc nào.” Phil cảnh báo. “Natalie Draga có thể đã mất tích chín tháng trước, nhưng nó không có nghĩa là cô ấy bị giết từ lúc đó.”
DD. gật đầu, hiểu ý anh. Họ không biết đủ về Goulding và phương thức hoạt động của hắn. Liệu hắn có giam giữ các cô gái trong một thời gian? Những bức ảnh đầy ám ảnh của Natalie Draga có vẻ hàm chứa nhiều ẩn ý. Và một lần nữa, họ không có thông tin gì về Kristy ngoại trừ một tấm bằng lái đẫm máu. Câu hỏi đó DD. muốn dành cho Goulding. Nhưng nhờ công của Flora Dane, hắn đã mãi mãi không thể trả lời. “Gọi mẹ của Kristy.” Cuối cùng cô hướng dẫn Phil. “Hỏi bà ấy về đôi hoa tai hay màu sơn móng yêu thích của con gái bà. Có thể bà ấy sẽ giúp chúng ta có một điểm khởi đầu mới.”
Phil gật đầu, đến chỗ dãy cây phía xa để gọi điện thoại.
DD. đứng lại một mình, nhìn bác sĩ pháp y đang cẩn thận quét bụi đất từ những gì còn sót lại của ít nhất một cô gái mất tích, người cuối cùng cũng có thể trở về nhà lần nữa.
“Màu sơn hồng.” Phil báo cáo mười lăm phút sau đó. “Kristy thích sơn móng. Lúc nào cũng sơn. Cô ấy cũng thích đôi hoa tai vòng tròn bằng vàng, món quà sinh nhật mười sáu tuổi từ mẹ mình.”
“Là Kristy Kilker.” DD. nói.
“Chưa đủ để nhận dạng chính thức.”
“Chưa. Chúng ta phải đợi cho đến khi Ben làm xong phép thuật của mình nơi phòng thí nghiệm. Nhưng khả năng là…”
“Kristy Kilker.” Phil đồng tình.
“Vậy thì Natalie Draga ở đâu? Một bãi rác? Có điểm đến thường xuyên nào khác trên thiết bị định vị của Goulding không?”
“Không địa điểm nào thích hợp để giấu giếm một thi thể. Chỉ có nơi này.”
“Và chó nghiệp vụ đã kiểm tra toàn bộ phần còn lại của công viên rồi chứ?”
“Đúng vậy.”
“Vậy thì Natalie Draga đang ở đâu?” DD. hỏi lần nữa.
Phil không có câu trả lời.
DD. nhìn quanh, những hàng cây, những người tò mò đứng nhìn, đội ngũ những kỹ thuật viên khám nghiệm hiện trường. “Phil, chúng ta đã bỏ lỡ điều gì?”
Cô gọi điện cho Samuel Keynes. Cô không hiểu tại sao. Ông ấy không phải nhân viên điều tra, mà là một bác sĩ tâm lý chuyên nghiệp. Ông ấy không bắt giữ kẻ xấu, chỉ hỗ trợ nạn nhân. Nhưng…
Mọi thứ về vụ án này lại quay trở về Flora Dane. Và bởi cô ấy đã mất tích, đầu mối gần nhất họ có là Tiến sĩ Keynes. Điều này khá thú vị, bởi trong phần lớn những trường hợp tương tự, DD. sẽ tìm đến người mẹ. Nhưng với sự bảo vệ mạnh mẽ của Rosa đối với con gái mình, mối quan hệ giữa họ đầy căng thẳng. Bản thân Flora không gọi cho mẹ mình sau những gì xảy ra đêm thứ Sáu. Thay vào đó, cô gọi cho chuyên gia hỗ trợ nạn nhân cũ của mình.
Keynes trả lời sau tiếng chuông đầu tiên. Như thể ông đang đợi điện thoại của cô vậy.
“Ông có biết ai đó tên Natalie Draga không?” Cô hỏi ông.
“Không.”
“Còn Kristy Kilker?”
“Không.”
“Flora chưa bao giờ đề cập đến những cái tên này? Chưa bao giờ nói gì về việc cô ấy đang cố gắng tìm kiếm những người khác?”
“Không. Thượng sĩ Thanh tra…”
“Nhưng cô ấy có nói với ông về Stacey Summers? Thôi nào. Đây là lúc phải cởi mở và thành thật, Tiến sĩ ạ. Bởi tôi có một thi thể và tôi khá chắc là còn những thi thể khác nữa. Flora nói chuyện với ông. Flora kể cho ông nghe những điều cô ấy không kể cho bất kỳ ai khác. Thậm chí cả mẹ mình. Vậy cô ấy đã nói với ông những gì về Stacey Summers?”
“Cú điện thoại sáng thứ Bảy là lần liên lạc đầu tiên tôi có với Flora trong nhiều tháng qua. Ít nhất là sáu tháng. Chúng tôi không thân thiết đến thế, Thượng sĩ Thanh tra. Không gần gũi như cô nghĩ.”
“Nhưng cô ấy nói chuyện với ông. Những điều cô ấy không nói với ai khác. Sáng nay tôi đã nói chuyện với đặc vụ FBI đã giải cứu Flora. Theo lời cô ấy nói, cô ấy có rất nhiều thắc mắc về những gì Flora đã làm suốt thời gian ở cùng Jacob Ness. Nhưng Flora không trả lời những câu hỏi ấy. Cô ấy chỉ nói chuyện với ông mà thôi.”
“Tôi đã có một bản báo cáo đầy đủ về những gì Flora đã nói. Trái ngược với những gì cô đang cố ám chỉ, mọi thứ tôi nghe từ cô ấy đều có thể được tiếp cận bởi những điều tra viên. Flora không muốn chia sẻ những gì đã trải qua hết lần này đến lần khác… điều đó không phải là bất thường với những người đã từng trải qua mức độ chấn thương tâm lý như cô ấy.”
“Cô ấy có làm điều đó không? Giúp bắt cóc những nạn nhân khác?”
“Cô ấy chưa từng tiết lộ điều đó.”
“Vậy những điều này là gì? Tất cả những việc trượng nghĩa giúp đời này? Cảm giác tội lỗi của người sống sót nhằm làm sạch lương tâm về những điều cô ấy đã làm suốt thời gian bị giam giữ?”
“Phỏng đoán của cô cũng tốt như của tôi vậy.”
“Không. Không đúng. Thứ nhất, ông là chuyên gia. Thứ hai, cô ấy tin ông. Và cô ấy tiếp tục gọi điện thoại cho ông. Khi gặp rắc rối, khi cần giúp đỡ, số điện thoại của ông là số duy nhất cô ấy bấm. Năm năm rồi, Tiến sĩ ạ. Bao nhiêu gia đình vẫn còn gọi ông năm năm sau đó?”
Keynes không nói gì.
“Còn người mẹ…” DD. tiếp tục. “Rosa Dane. Bà ấy cũng rất thoải mái với ông. Bà ấy cũng lưu số điện thoại của ông thành Số khẩn cấp, hay chính ông là người gọi cho bà ấy? Bởi Flora không gọi cho bà ấy, và ông biết điều đó khiến bà ấy buồn.”
Thế rồi, điều đó chợt nảy đến với DD. Cách Keynes chạm vào vai Rosa ngày hôm qua trong văn phòng của cô. Cách ông đứng vững chãi như thế bên cạnh bà, khi mà, thành thật mà nói, không có lý do gì để ông có mặt ở đó. Nhưng ông ấy đã đến. Theo đề nghị của Rosa. Và ông ấy ở lại. Vị bác sĩ tốt bụng và Rosa.
“Flora biết không?” DD. thốt lên. “Về ông và mẹ cô ấy. Ông đã bao giờ nói với cô ấy chưa?”
“Thượng sĩ Thanh tra, cô có thông tin nào mới về sự biến mất của Flora không?”
“Trả lời câu hỏi của tôi trước đã.”
“Tôi sẽ không trả lời.”
“Nó liên quan…”
“Nó không liên quan. Giờ thì, cô có thông tin nào mới…”
“Rosa đang ở đó.” DD. chen vào đột ngột. “Bà ấy đang đứng bên cạnh ông, và đang hỏi về con gái bà ấy.”
Keynes không trả lời, điều DD. xem như câu trả lời là có.
“Rosa không biết, phải vậy không?” DD. nói nhẹ nhàng hơn. “Cảm giác của ông với bà ấy, ông không bao giờ nói.”
“Tôi đảm bảo với cô…”
“Tôi sai lầm. Hiểu rồi. Mối quan hệ của ông với gia đình họ chỉ đơn thuần là công việc. Một chuyên gia như ông…”
“Thượng sĩ Thanh tra…”
“Tôi có một thi thể. Một trong những phụ nữ chúng tôi tin rằng Devon Goulding đã bắt cóc. Chúng tôi tìm thấy phần còn lại của cô ấy dựa trên chứng cứ chúng tôi khôi phục được từ căn nhà của hắn.”
“Cô tin rằng cô vừa phát hiện được một trong những nạn nhân của Goulding? Nói cách khác, Flora đã đúng với những hành động của mình vào thứ Sáu. Nếu cô ấy không giết hắn, thì có thể thi thể cô vừa tìm được là của cô ấy.”
“Flora đã biến mất. Và bất cứ điều gì xảy đến với cô ấy phải có liên hệ nào đó với Devon Goulding, Stacey Summers, và ít nhất hai cô gái mất tích khác nữa. Nếu không, sẽ có quá nhiều sự trùng hợp. Nên tôi hỏi ông một lần nữa, Flora có bao giờ đề cập cái tên Kristy Kilker hay Natalie Draga không?”
“Và tôi nói với cô, tôi đã không nói chuyện với Flora nhiều tháng trước sáng thứ Bảy vừa qua.”
“Điều đó chỉ trả lời tôi thời điểm ông nói chuyện với cô ấy, nhưng không trả lời câu hỏi tôi vừa nêu. Thôi nào, Keynes. Tôi có thể không có chức danh tiến sĩ trước tên mình, nhưng điều đó không có nghĩa tôi là kẻ ngốc.”
“Cô có bất kỳ thông tin nào mới về sự biến mất của Flora không, Thượng sĩ Thanh tra?”
“Không.”
“Làm ơn gọi tôi khi cô có.”
Keynes cúp máy. DD. vẫn đứng đó, nghiến răng mình một hồi lâu sau đó. Tự hỏi, một lần nữa, mối quan hệ giữa chuyên gia hỗ trợ nạn nhân và gia đình Dane. Và lý do tại sao, một lần nữa, cô lại có cảm giác ông ấy đã không nói với cô hết tất cả.
DD. triệu tập một cuộc họp lực lượng. Cô đặt bánh sandwich và bánh quy, bởi giữ cho đội quân có động lực luôn là điều nên làm. Cô cũng đặt thêm salad, bởi phần lớn mọi người trong số họ đang ở vào giai đoạn cuộc đời có sự đánh giá sâu sắc hơn giá trị của lá rau màu xanh đậm.
Alex bước vào khi họ vừa bắt đầu. Anh mặc áo sơ mi và quần tây chính thức của học viện. Cô nhớ lại lời đề nghị đến xem qua căn hộ của Flora mà anh đã nói vào sáng nay, và từ cái nhìn sôi nổi trên khuôn mặt anh, cô đoán hẳn là anh đã ở đó. Cô vẫy tay ra hiệu cho anh ngồi xuống. Anh tự nhiên lấy cho mình một chiếc bánh mì kẹp thịt gà.
“Đây là những gì chúng ta biết.” DD. nói, đứng trước bảng viết phía trên đầu phòng họp. Cô thích điều hành những cuộc họp như thế này. Thành thật mà nói, cô cần một cơ hội để sắp xếp lại suy nghĩ của mình về vụ án này.
Cô vừa nói, vừa vạch ra những gạch đầu dòng, thật buồn là ngắn hơn nhiều so với danh sách ở cột thứ hai, bao gồm những câu hỏi họ không thể trả lời.
“Flora Dane ra ngoài vào tối thứ Sáu, khả năng lớn là để tìm kiếm kẻ bắt cóc Stacey Summers. Theo lời Flora, cô ấy đã nhắm vào một gã khác ở quán bar thì nghi phạm thứ hai, Devon Goulding xuất hiện trong bức tranh. Hắn đấm gã Flora nhắm tới đầu tiên, rồi lôi cô ấy đi. Khi tỉnh lại, cô ấy thấy mình bị trói trần truồng trong gara để xe nhà hắn. Khi hắn trở lại, có lẽ để thực hiện việc cưỡng hiếp, cô ấy đã trả miếng bằng cách đốt cháy hắn nhờ dùng những vật dụng tìm thấy trong thùng rác.
“Devon Goulding chết tại hiện trường. Điều tra xa hơn, chúng ta tìm thấy bằng lái xe của hai phụ nữ khác, Natalie Draga và Kristy Kilker. Sáng thứ Bảy, chúng ta bắt đầu điều tra thông tin về hai người phụ nữ này. Cùng lúc đó, Flora Dane trở về căn hộ của mình, nơi cô ở cùng mẹ một lúc. Không lâu sau một giờ chiều thứ Bảy, Rosa Dane rời khỏi căn hộ của con gái mình. Và Flora không được nhìn thấy kể từ đó.”
DD. vạch thêm cột mốc thời gian ở phần dưới cùng tấm bảng trắng. Cô viết lên đó dòng chữ chiều thứ Bảy.
“Thoạt đầu, chúng ta cho rằng Flora đã bị bắt cóc bởi một người đàn ông cao lớn đã đóng giả thành thanh tra tòa nhà vài ngày trước đó nhằm có được chìa khóa đến từng căn hộ. Tuy nhiên, chúng ta đã lần ra người thanh tra đó, người hóa ra là thật và không hề có tiền án, tiền sự nào. Anh ta cũng có chứng cứ vắng mặt vào thời gian nghi vấn. Điều này dẫn đến…”
DD. chuyển sang cột thứ hai dài hơn nhiều.
“Bốn vụ mất tích người: Stacey Summers, Natalie Draga, Kristy Kilker, và Flora Dane, tất cả đều có thể hoặc không hề liên quan đến nhau. Một kẻ có thể chính xác là tên săn mồi nhưng nay đã chết, Devon Goulding, có liên quan đến ít nhất ba trong số bốn người mất tích này. Và một thi thể, được phát hiện sáng nay dựa trên những thông tin từ thiết bị định vị trên xe của Goulding. Chúng ta chưa xác định được danh tính chính xác của thi thể, nhưng tin rằng đó là Kristy Kilker. Nghĩa là chúng ta có thể đã tìm được một người. Nhưng những người còn lại đang ở đâu? Và nếu Goulding là người đứng sau tất cả chuyện này, thì làm sao Flora Dane lại biến mất sau cái chết của hắn?”
“Chúng ta có chắc cô ấy bị bắt cóc không?” Phil lên tiếng, dựa lưng vào chiếc bàn với một chiếc bánh quy sô cô la đang cho dở vào miệng. “Ý tôi là, không phải một nửa nghi vấn của chúng ta là vào gã thanh tra mà phòng thanh tra thành phố tuyên bố chưa từng gửi đến sao? Giờ nếu cô đã xác định cuộc thanh tra đó là có thật, chúng ta còn lại gì? Không khóa cửa chính. Căn hộ không xáo trộn. Nếu Flora chỉ đơn giản bỏ đi thì sao? Có tin mới sốt dẻo về Stacey Summers, hoảng sợ rằng chúng ta sẽ có thể tìm hiểu ra ý định của cô ấy sau khi đã thiêu Goulding đến chết. Thế nên cô ấy chủ động biến mất.”
DD. nhún vai - thật khó để tranh cãi với những lý luận đó. “Có thể cho là tôi đa cảm, nhưng nếu Flora có ý định biến mất vài ngày, tôi nghĩ cô ấy sẽ cho mẹ mình biết, thậm chí bịa ra vài cái cớ nào đó. Hoặc cô ấy gọi điện thoại cho mẹ, bảo bà đừng lo lắng. Nhưng cô ấy không làm như vậy.”
“Chúng tôi không bao giờ cho là cô đa cảm cả.” Neil trấn an cô từ cuối căn phòng.
Phil gật đầu một cách miễn cưỡng. “Tôi đã thấy người mẹ vào ngày hôm qua. Một người mạnh mẽ. Nhưng rõ ràng run rẩy.”
“Bà ấy đã ở căn hộ của Flora.” Alex lên tiếng. Tất cả mọi người quay đầu lại nhìn anh. “Theo đề nghị của DD., tôi có ghé qua. Rosa Dane đã có mặt ở đó. Bà ấy mang một mẻ bánh muffin đến cho ông bà chủ nhà và đợi tôi ở tầng ba để mở phần băng dính bao quanh hiện trường vụ án. Bà ấy, ừm, một người đặc biệt.”
“Bà ấy nướng bánh muffin ở phòng khách sạn sao?” DD. vẫn cố làm cho ra lẽ.
“Nếu cho phép bà ấy ở trong căn hộ của cô con gái, bà ấy hứa sẽ nướng bánh cho chúng ta.”
“Anh cho bà ấy vào trong à?”
“Dựa vào cái nhìn trên khuôn mặt bà ấy, đó là điều sẽ xảy ra. Ít nhất khi cho bà ấy vào cùng anh, bà ấy sẽ được giám sát.”
“Đặc vụ FBI, Tiến sĩ Keynes, có đi cùng bà ấy không?”
“Không. Chỉ mỗi bà ấy.”
DD. gật đầu nhưng vẫn cau mày. Cuộc nói chuyện với Keynes vẫn khiến cô khó chịu.
“Rosa có để ý đến thứ gì không?” Cuối cùng DD. hỏi.
“Không thứ nào biến mất cả, tất cả quần áo của Flora đều nguyên vẹn. Giường chưa dọn, nhưng theo Rosa thì đó là điều bình thường. Flora không phải là người quá khắt khe với sự ngăn nắp. Nơi đó giống căn hộ của người mẹ hơn.”
“Bà ấy đã làm gì trong căn hộ?” DD. hỏi.
Alex nhún vai. “Đi vòng quanh. Có vẻ chăm chú tìm hiểu. Bà ấy đã dành kha khá thời gian ở trong phòng con gái mình, đọc những bài báo đính trên tường.”
“Trong đó có bài nào về vụ của Natalie Draga hay Kristy Kilker không?” Một thanh tra mới lên tiếng.
“Không.” DD. trả lời. “Hai cô gái này chưa từng được báo là mất tích. Natalie đến Boston một mình. Còn mẹ của Kristy Kilker vẫn nghĩ rằng con gái bà đang ở Ý. Thế nên, về lý thuyết, Flora tập trung vào Stacey Summers.” Cô hướng sự chú ý vào Phil. “Có thông tin gì từ điện thoại hay máy tính của Flora không?”
“Tôi đang tìm hiểu. Flora rõ ràng tìm kiếm các quán bar ở Boston. Cô ấy đã tìm hiểu về quán Tonic vài ngày trước khi đến đó.”
DD. cau mày. “Nhưng Stacey Summers biến mất từ quán Birches, nghĩa là có thứ gì đó đã đặt quán Tonic vào tầm ngắm của Flora. Nhưng đó là thứ gì?”
Quanh bàn, không ai có ý kiến nào cả.
“Natalie Draga từng làm việc ở quán Tonic.” Carol Manley cất tiếng. “Có thể Flora biết điều gì đó mà chúng ta không biết. Ý tôi là, chỉ bởi Natalie chưa từng được tuyên bố chính thức là mất tích không có nghĩa bạn bè cô ấy không bắt đầu hỏi quanh, này, mọi người gần đây có gặp Natalie không, kiểu như vậy. Với sự ám ảnh của Flora, có thể những lời đồn này khiến cô ấy chú ý.”
DD. gật đầu. Đó chính xác là lý do tại sao cô lại “quay” Keynes về chủ đề này. Bởi vì Flora bị ám ảnh bởi những vụ việc mất tích và có vẻ cô ấy có được thông tin tốt hơn thậm chí là so với cảnh sát.
“Được rồi.” DD. nói. “Lúc này, hãy tập trung vào vụ án mà chúng ta biết là Flora thực sự quan tâm, vụ Stacey Summers. Tôi muốn có vài người đến thăm gia đình và bạn bè Stacey. Nhưng lần này, hãy mang theo hình của Flora nữa. Hãy xem cô ấy đã tiến được bao xa với việc điều tra riêng của mình. Bởi vì nếu Flora tìm kiếm ở một số quán bar trong khu vực, thì tôi đoán một trong những người bạn của Stacey hẳn đã đề cập đến điều gì đó. Có thể quán Tonic là nơi họ thường đến trong quá khứ, hay Stacey có quen ai đó làm việc ở đây. Có thể Flora thậm chí còn biết được có một cô gái xinh đẹp khác từng làm việc ở quán Tonic đã không được nhìn thấy vài tháng qua. Thành thật mà nói, tôi không có ý tưởng nào. Nhưng bất kể có mối liên kết nào ở đây…” DD. vẽ những đường nối giữa Natalie, Kristy, Goulding và Stacey Summers. “Thì chúng ta cần tìm ra nó.”
“Tôi có thể có một manh mối.” Alex đề nghị. Anh đã ăn xong phần bánh sandwich của mình, và giờ đang lau tay. “Ở lối thoát hỏa hoạn bên ngoài căn hộ của Flora, anh tìm thấy có kim tuyến.”
“Kim tuyến à?” DD. không cố ý tỏ vẻ hoài nghi như vậy, nó chỉ không phải là dạng manh mối cô mong đợi.
“Này, đối với những người làm hiện trường như bọn anh, kim tuyến là loại băng dính mới đấy nhé.”
“Em thậm chí còn không hiểu câu đó.” DD. trấn an chồng mình. Quanh bàn, những thanh tra khác cũng gật đầu.
Alex tựa người về trước. “Kim tuyến gần như là một bằng chứng truy vết hoàn hảo. Nó dễ dàng rơi rớt, trong khi cũng vô cùng đặc biệt. Chưa hết, như băng dính, có những cơ sở dữ liệu bao quát giúp xác định nguồn cụ thể của thứ kim tuyến bị nghi vấn. Ví dụ, kim tuyến hiện diện trong mọi thứ, từ lớp trang điểm của phụ nữ, đến những tấm thiệp mừng, hay những món quần áo khác nhau. Không cần phải nói, kích cỡ, màu sắc, đường cắt của mỗi loại kim tuyến đều khác nhau. Chưa hết, ở mức độ hiển vi, ta có thể xác định một mẩu kim tuyến xuất phát từ một máy cắt cụ thể, từ một nhà sản xuất cụ thể, chứng minh được mẩu kim tuyến trên giường nạn nhân có chính xác từ cùng một nguồn kim tuyến trên áo của kẻ giết người hay không. Một loại vật chất tuyệt vời.”
“Vậy anh đã tìm thấy gì ở lối thoát hiểm hỏa hoạn?”
“Anh đã tìm thấy kim tuyến vàng trên tay vịn, anh đoán do sự tiếp xúc với bàn tay của một người nào đó. Với sự giúp đỡ của Rosa, anh đã kiểm tra tủ quần áo của Flora. Không có nguồn kim tuyến lấp lánh nào trên quần áo. Cũng không có kim tuyến trên giường, tức không có khả năng Flora dính kim tuyến trên da rồi sau đó làm rơi rớt lại trên giường khi đi ngủ. Trong một số sản phẩm mỹ phẩm của Flora có kim tuyến, nhưng không phù hợp với mẫu tìm thấy ở lối thoát hiểm.”
“Điều đó có nghĩa là sao?” DD. hỏi anh.
“Có nghĩa là có ai đó đã dùng lối thoát hiểm với những vệt kim tuyến trên tay, quần áo hay tương tự vậy.”
“Và điều đó giúp chúng ta thế nào đây?”
“Tìm nghi phạm, chúng ta có thể sử dụng kim tuyến để lần ra anh ta hay cô ta. Hoặc…” Ánh mắt của Alex trở nên thâm trầm hơn. Anh chỉ vào vòng tròn của những cái tên DD. đã kết nối lại bằng đường thẳng trên bảng. “Chúng ta tin những vụ này đều có liên quan với nhau phải không?”
DD. gật đầu.
“Vậy thì tìm kiếm trong nhà Devon Goulding những thứ có kim tuyến. Cũng như thi thể của Kristy Kilker. Nếu chúng ta tìm thấy vệt kim tuyến phù hợp với những gì trên lối thoát hiểm căn hộ của Flora, thì đó là bằng chứng của em. Những vụ án này có liên quan.” Alex gật đầu nghiêm nghị. “Kim tuyến đã nói với chúng ta điều đó.”