Ngày xửa ngày xưa, tôi từng có thể kể cho bạn nghe tất cả về bản thân tôi.
Tôi từng có thể nói một cách chắc chắn, rằng tôi tên là Florence Dane. Mẹ tôi, người có những ước mơ lớn lao cho con cái mình, đặt tên tôi theo Florence Nightingale - người sáng lập ngành điều dưỡng, và anh trai tôi để vinh danh nhà bác học Charles Darwin.
Tôi từng có thể nói rằng nơi hạnh phúc nhất trên trái đất này là tại trang trại của mẹ tôi, nơi miền trung Maine. Hàng núi việt quất chín vào mùa hè, từng mẫu từng mẫu khoai tây vào mùa thu. Tôi lớn lên, yêu thích mùi đất mới vỡ. Cảm giác của lớp đất dưới đầu ngón tay tôi. Tiếng thở ra mãn nguyện của mẹ tôi vào cuối ngày, khi bà nhìn vào tất cả những gì bà đã hoàn thành và cảm thấy hài lòng.
Hàng xóm của chúng tôi bao gồm rất nhiều cáo, cũng như gấu và nai sừng tấm. Mẹ tôi không phiền trước những vị khách lang thang này trong khu vực của chúng tôi, nhưng bà là một người tin tưởng vững chắc ở việc không nên cho động vật hoang dã ăn. Chúng tôi sống chan hòa cùng thiên nhiên, không can thiệp vào nó. Mẹ tôi đã lớn lên trong một cộng đồng. Bà có nhiều lý thuyết về cuộc sống, nhưng không phải tất cả đều hợp lý với anh em tôi.
Về cá nhân, tôi thích cáo nhất. Tôi có thể ngồi hàng giờ ngoài hang của chúng, hy vọng được nhìn thấy bầy cáo con. Cáo rất nghịch, vừa như mèo con, vừa như chó con. Chúng thích đuổi theo những quả bóng golf hoặc quẳng những món đồ chơi nhỏ trên không. Tôi biết được điều này theo cách bọn trẻ con học về mọi thứ, bằng việc lang thang hàng giờ bên ngoài với ánh mặt trời nung đỏ khuôn mặt, bằng việc thử một chút này hay một chút nọ. Tôi mang đến cho chúng một quả bóng cao su cũ, một con chuột nhồi bông, thậm chí cả một con vịt cao su nhỏ. Những con cáo trưởng thành sẽ ngửi những món đồ đó một cách do dự, trong khi bọn cáo con sẽ nhảy vọt lên khỏi hang, chụp ngay lấy những món đồ chơi mới không một thoáng ngập ngừng. Đôi khi, tôi để lại cho chúng một hoặc hai củ cà rốt. Hoặc nếu mẹ tôi đang bận hoặc không để ý, thì cả những mẩu xúc xích còn dư nữa.
Chỉ là làm thân với láng giềng, tôi cố giải thích với mẹ như vậy vào một chiều đầu tiên bà bắt gặp tôi rải phô mai bên ngoài hang cáo. Bà không bằng lòng: “Mọi sinh vật phải học cách dựa vào bản thân. Khuyến khích sự phụ thuộc sẽ chẳng giúp ích gì cho ai cả, Flora.”
Nhưng sau đó, sau một trận bão tuyết kinh hoàng vào đầu tháng Mười một, tôi bắt gặp mẹ tôi mang thức ăn thừa từ bữa tối đến chiếc hang cũ.
Bà không nói gì, và tôi cũng vậy. Nó trở thành bí mật của riêng hai mẹ con tôi, bởi lúc đó, chúng tôi không nghĩ đến bất kỳ điều gì có thể gây tranh cãi hơn việc thuần hóa những con cáo hoang.
Thế nên ngày xửa ngày xưa, đây là điều tôi có thể đã nói với bạn về bản thân tôi: tôi thích cáo. Hoặc ít nhất tôi từng rất thích chúng. Đó không phải điều dễ dàng thay đổi ở một người. Nhưng tôi không ngồi nhìn chúng nữa, hay mang đồ chơi cho chúng, hay lén cho chúng ăn. Bốn trăm bảy mươi hai ngày sau đó… tôi cố tìm kiếm bình an nơi khu rừng. Chắc chắn tôi thích không gian mở bên ngoài hơn là khoảng không chật chội trong nhà.
Nhưng vài phần bản thân tôi, một vài cảm giác… không còn như vậy nữa. Tôi có thể lặp lại những điều tôi từng làm, thăm lại những nơi cũ, nhìn thấy những người xưa. Nhưng tôi không còn cảm thấy những cảm giác như trước nữa. Có những ngày, tôi thậm chí còn không chắc mình có thể cảm thấy bất kỳ điều gì không.
Tháng Tư là tháng yêu thích nhất của tôi. Tôi khá chắc chắn điều đó vẫn còn đúng. Trang trại có một nhà kính cũ ọp ẹp. Làm sao nó có thể đứng vững mỗi mùa đông dài khắc nghiệt, chúng tôi không bao giờ biết được. Nhưng vào cuối tháng Tư, khi tuyết cuối cùng cũng tan, chúng tôi bước trong lớp bùn nhão và phá toang cánh cửa đã biến dạng, trong khi toàn bộ kết cấu căn nhà rền rĩ phản đối. Darwin sẽ lãnh nhiệm vụ chính bên trong, người đàn ông duy nhất và tự cho mình là người bảo vệ gia đình.
Mẹ tôi sẽ đến tiếp theo với một xe cút kít đầy những bao mùn và đất phủ. Tôi sẽ ở đằng sau, vác theo những khay nhựa và tất nhiên, những bao hạt giống.
Anh trai tôi, Darwin, làm rất nhanh. Hất tung những nắm đất, ném mạnh hạt giống. Ngay cả khi ấy, anh tôi đã thiếu kiên nhẫn, muốn có mặt ở bất kỳ nơi nào khác ngoại trừ nơi đó. Mẹ đã đặt tên cho anh khá đúng. Anh yêu chúng tôi, nhưng từ khi còn nhỏ, cả hai anh em tôi đã có thể thấy quanh quẩn ở nhà không phải là điều anh yêu thích. Nếu rừng sâu ngân nga bài ca với mẹ con tôi, thì với anh, cả thế giới mới là bài ca không dứt. Thế nên anh làm việc bên cạnh chúng tôi, nhanh nhẹn, hiệu quả, nhưng tâm trí anh luôn ở nơi nào khác. Mẹ tôi thường nhìn anh và thở dài. Một tâm hồn trai trẻ với trái tim dịu dàng - bà nói vậy.
Mẹ lo lắng cho anh tôi. Nhưng không bao giờ lo lắng cho tôi. Tôi luôn là một người hạnh phúc. Ít nhất, đó là cách câu chuyện tiến triển.
Anh trai tôi từ trường đại học trở về nhà ngay giây phút nghe được tin về sự biến mất của tôi. Anh ấy ở bên cạnh mẹ, đầu tiên như chiếc neo an toàn của bà. Rồi, khi tấm bưu thiếp đầu tiên được gửi đến và mọi thứ trở nên rõ ràng hơn rằng tôi đã bị bắt cóc, anh trai tôi, từ một người phiêu lưu đã trở thành chiến binh. Facebook, Twitter trở thành những mặt trận của anh. Anh tạo ra toàn bộ các chiến dịch tập hợp những người thậm chí hoàn toàn không quen biết lại để giúp tìm kiếm tôi. Và anh mang tôi trở lại sự sống, đã tạo nên một cá nhân tôi sống động cho công chúng, với những tấm hình tôi trong ngày sinh nhật đầu tiên, tôi ở trang trại, và vâng, tôi ngồi trên đồi với đàn cáo nhỏ. Nhưng những tấm hình ấy không thực sự dành cho công chúng. Chúng là để dành cho kẻ đã bắt tôi đi, khiến hắn nhìn tôi như một cô gái nhỏ, một đứa em gái, một cô con gái. Anh trai tôi đã thực hiện sứ mệnh của mình là nhân tính hóa bản thân tôi, nhằm giúp tôi giữ mạng sống mình.
Tôi nghĩ đó là lý do anh tôi cảm thấy khó khăn vô cùng khi tôi trở về nhà, và không còn là cô gái trẻ từ những bức hình đó. Tôi không nhếch môi. Tôi không cười. Tôi không nghịch đất hay đi tìm đàn cáo. Thấy không, tên bắt cóc đã có sứ mệnh của riêng hắn, là quét sạch mọi mảnh nhân tính khỏi con người tôi. Đã lộn trái con người tôi, đã bẻ gãy bản thân tôi, đã biến tôi thành hư không.
Bạn nghĩ bạn sẽ chiến đấu, hay ít nhất sẽ chịu đựng. Bạn tự hứa với bản thân sẽ đủ mạnh mẽ. Nhưng bốn trăm bảy mươi hai ngày sau đó…
Anh tôi buộc phải rời trang trại sau khi tôi trở về. Anh phải chạy trốn khỏi đứa em gái mà không bao giờ trở lại như trước nữa. Tôi nhìn anh đi và phần lớn cảm thấy dễ chịu. Ít đi một cặp mắt dõi theo tôi mọi nơi mọi lúc. Ít đi một người giật mình bởi một Flora Dane mới mẻ và rõ ràng không cải thiện chút nào.
Ngày xửa ngày xưa, tôi có thể đã buồn bã bởi sự ra đi của anh trai tôi. Tôi có thể nói tôi thương anh, nhớ anh, mong gặp anh sớm.
Ngày xửa ngày xưa, tôi có thể nói với bạn rằng tôi yêu mẹ tôi. Bà là người bạn thân nhất của tôi trên cõi đời này, và dù thật háo hức khi được đi học đại học, tôi vẫn mong những cuối tuần được trở về nhà.
Ngày xửa ngày xưa, tôi là một cô gái như thế. Thích không gian ngoài trời, vui tươi, hạnh phúc.
Bây giờ, đó là những điều tôi vẫn không thể nói với bạn về bản thân tôi.
Đó là những điều tôi vẫn đang học từng ngày.
Mặt trời đang mọc. Ngồi ở phía sau xe điều tra, tấm chăn choàng qua vai, rác bết trên mặt, tôi cảm thấy bầu trời sáng dần lên quanh mình. Tôi không ngẩng đầu lên. Tôi không quay đầu sang xung quanh. Tôi không cần phải nhìn để biết điều gì đang diễn ra.
Bên trái tôi, bên trong căn nhà của kẻ suýt tấn công tôi, những chuyên gia khám nghiệm hiện trường đang lùng sục từng mét vuông. Một nhóm thanh tra đang kiểm tra từng căn phòng một, phân loại những thiết bị điện tử, xem từng tập thư, lục soát kĩ càng căn phòng của gã pha chế.
Tôi đã không nói dối. Tôi không phải cảnh sát hay đặc vụ FBI. Tôi chưa từng gặp Stacey Summers, cô gái đã biến mất ba tháng trước. Như phần lớn người dân ở Boston, hay ở đất nước này, tôi chỉ theo dõi vụ án của cô qua mục tin tức.
Nhưng rồi đồng thời… tôi biết cô ấy. Tôi nhận ra nụ cười rạng rỡ ở những bức hình chụp vào năm cuối trung học, với mái tóc vàng và đôi mắt xanh to tròn. Tôi nhận ra sức sống tươi trẻ của cô ấy trong những bức hình cổ vũ ở trường trung học, với chùm bông tua rua màu đỏ tung lên trời cao. Sau đó là một đoạn phim đáng lo ngại: cảnh quay an ninh của một cô gái tóc vàng bị kéo đi bởi một gã cao lớn. Bản tin sáng, bản tin trưa và bản tin tối. Không bao giờ có thứ gọi là thời gian không phù hợp để các nhà sản xuất tin tức ngừng phát những hình ảnh giật gân về một cô gái mười chín tuổi, cựu cổ động viên, bị kéo lê xuống một con hẻm tăm tối.
Tôi đọc mọi bài viết trên báo chí về vụ bắt cóc của cô ấy. Tôi ngồi xem không chớp mắt sự xuất hiện của cha mẹ cô trong chương trình bản tin sáng trên kênh truyền hình quốc gia, dù về lý thuyết, tôi đã thề không dính líu đến những điều đó. Tôi nhìn thấy người cha, một doanh nhân mạnh mẽ, đấu tranh để giữ bình tĩnh, trong khi người mẹ, một phụ nữ lớn tuổi, vẫn còn xinh đẹp, tay bấu chặt trong lòng bàn tay của chồng mình, khẩn cầu sự trở về an toàn của cô con gái.
Stacey Summers xinh đẹp, hạnh phúc, sôi nổi. Một cô gái mà theo cha mẹ của cô, không bao giờ làm hại đến một con ruồi.
Tôi tự hỏi những điều gì cô ấy từng không biết. Tôi tự hỏi những bài học nào cô ấy đã bị buộc phải học qua.
Sự thật là, tôi biết Stacey Summers. Tôi không muốn biết. Tôi không cố ý biết. Nhưng tôi biết Stacey Summers. Không cần phải là tiến sĩ ngành tâm lý học mới hiểu rằng mỗi lần tôi nhìn vào bức hình của cô ấy, hay đọc một bài báo về cô ấy, tôi lại đang nhìn thấy chính bản thân tôi.
Không ai gọi điện thoại cho mẹ tôi trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ đầu tiên sau khi tôi mất tích. Không ai biết tôi mất tích. Thay vào đó, mẹ nhận được một tin nhắn bối rối bốn ngày sau kỳ nghỉ xuân từ bạn cùng phòng đại học của tôi: Flora có đang ở với cô không? Sao bạn ấy không nói với tụi cháu bạn ấy về nhà sớm?
Tất nhiên, mẹ tôi không hiểu Stella đang nói gì. Rõ ràng, mất hai mươi phút để xác định chính xác tôi không ở Florida với Stella, cũng không thần kỳ trở về trang trại ở Maine của mẹ hay quay về ký túc xá của tôi một cách kỳ diệu. Thực tế là đã không ai nhìn thấy tôi trong suốt nhiều ngày liền.
Mẹ tôi không phải dạng người dễ hoảng loạn. Bà đặt điện thoại xuống và cân nhắc hành động để đối phó với tình hình thực tế. Liên lạc với anh trai tôi. Kiểm tra email. Đọc lướt qua trang Facebook của tôi. Nhịp tim bà tăng lên. Đôi tay bà bắt đầu run rẩy.
Bà lái xe đến đồn cảnh sát. Sau này bà kể lại với tôi rằng bà cảm thấy cần phải nói chuyện trực tiếp với một ai đó. Nhưng ngay cả việc báo cáo của bà cũng rối rắm. Mẹ tôi sống ở Maine, nhưng tôi học đại học tại Boston và theo giả thuyết tôi đã biến mất trong kỳ nghỉ xuân ở Florida. Điều tra viên ở Maine đã khá tử tế. Ông lắng nghe mẹ tôi nói, đã tỏ ra đồng ý rằng tôi không phải kiểu con gái có thể bỏ trốn, dù trong hoàn cảnh này, họ không thể bỏ qua suy nghĩ đó có thể là một tai nạn không may do say rượu. Ông khuyến khích bà điền vào báo cáo mất tích, thứ được gửi fax đến đồn cảnh sát địa phương ở Florida.
Và rồi… không gì cả.
Mặt trời mọc, mặt trời lặn. Các bạn bè đại học của tôi đến gặp gỡ cảnh sát ở Florida. Họ trở về trường ở Boston. Họ tham gia với các lớp học. Trong khi mẹ tôi ngồi hóa đá cạnh chiếc điện thoại vẫn không reo chuông.
Và rồi:
Một tấm bưu thiếp được chuyển đến qua đường bưu điện. Nét chữ của tôi, nhưng lời của một người khác. Và đột nhiên, tôi không còn là một sinh viên đại học mất tích nữa. Tôi là một nạn nhân nghi ngờ bị bắt cóc, người bị lôi đi qua khắp các tiểu bang. Chỉ trong một đêm, vụ án của tôi trở thành tin sốt dẻo và thế giới của gia đình tôi nổ tung bởi nó.
Là một người mẹ, mẹ tôi nói với tôi sau này, rằng bạn sẽ mong muốn có chút quyền kiểm soát nào đó đối với vụ bắt cóc của con bạn. Nhưng nó không diễn ra như vậy. Luật đầu tiên các nhân viên thực thi pháp luật thiết lập là: bà không được gọi cho họ; họ sẽ là người gọi cho bà. Trên thực tế, mẹ tôi chưa từng được gặp nhiều nhân viên FBI làm việc về vụ án của tôi cho đến lần họp báo đầu tiên.
Thay vào đó, bà phải gặp những người bạn mới của mình: những chuyên gia hỗ trợ nạn nhân. Những người mà, dựa trên chức danh của họ, bạn có thể sẽ nhận định sai lầm cho rằng họ làm việc nhân danh bà, người là nạn nhân. Không đâu, người hỗ trợ nạn nhân làm việc cho cơ quan thực thi pháp luật hay văn phòng luật sư. Điều đó phụ thuộc vào thẩm quyền. Mẹ tôi phải liên hệ với sáu người trong số họ suốt vụ bắt cóc của tôi. Địa phương, tiểu bang, liên bang. Họ thay phiên nhau. Bởi đặc biệt trong các tuần đầu tiên ấy, các thành viên gia đình không bao giờ bị bỏ rơi.
Các chuyên viên hỗ trợ bảo mẹ tôi rằng điều đó chỉ vì lợi ích của chính bà. Khi họ lần đầu tiên bắt đầu trả lời những cuộc điện thoại không ngừng của bà, bà cảm ơn họ. Khi họ đặt tấm bảng ở sân trước cảnh cáo giới truyền thông rằng đây là tài sản cá nhân và họ không được phép xâm nhập, bà cảm thấy biết ơn. Và khi họ cung cấp bữa ăn một cách kỳ diệu, trong khi khéo léo đưa bà đến một khách sạn trả trước để bà có thể có ít nhất một đêm yên giấc, bà tự hỏi làm sao có thể sống sót qua thử thách này nếu không có họ.
Nhưng mẹ tôi không ngu ngốc.
Không mất quá nhiều thời gian để mẹ tôi nhận ra rằng những người hỗ trợ nạn nhân luôn luôn đặt câu hỏi. Về cuộc sống của các con bà, về các mối tình đã qua. Về cuộc sống của bà, về các mối tình đã qua. Và này, giờ bà đã có cái ăn rồi, sao không nói chuyện đôi chút với các thanh tra? Điều mà, thoạt đầu, bà nghĩ là để những thanh tra có thể cập nhật cho bà về những gì họ đang làm để tìm ra tôi, nhưng sau đó, bà hiểu ra là để họ có thể quay bà với thậm chí còn nhiều câu hỏi hơn nữa. Và vâng, buổi sáng hôm nay chuyên viên hỗ trợ nạn nhân tử tế, độ lượng có thể dẫn bà đi vòng quanh căn nhà để thu thập những mẩu thông tin có thể có - điện thoại, máy tính bảng, nhật ký cá nhân. Thì sáng hôm sau, chuyên viên hỗ trợ nạn nhân của bà có thể líu lo, này, hãy thực hiện một bài kiểm tra nói dối nào, giống giọng điệu các bạn bà từng sử dụng để rủ bà đi làm móng vậy.
Tôi biến mất ở Florida. Và cuộc đời mẹ tôi trở thành một vở kịch điều tra nổi tiếng, chỉ huy mọi lúc bởi những vú em. Cả hai chúng tôi, tôi đoán, có được những bài học về sinh tồn. Và cả hai chúng tôi đều biết những điều mà chúng tôi ước ao mình không phải biết.
Ví dụ như, tôi biết chuyên gia hỗ trợ nạn nhân sẽ xuất hiện nơi ngưỡng cửa nhà Stacey Summers sáng hôm nay. Nhiều khả năng là người gần gũi với vụ của cô ấy. Có thể, cũng giống như tôi, cha mẹ của cô ấy thực sự trân trọng người hỗ trợ mình, đã tiến triển một quan hệ gắn bó. Hoặc có thể, như mẹ tôi, họ đơn thuần chấp nhận mối quan hệ, một sự xâm nhập vào cuộc sống mà rõ ràng không còn là cuộc sống của họ nữa.
Người hỗ trợ sẽ mang theo tấm hình của Devon Goulding, giờ đây là gã tấn công đã chết của tôi, và gần như rõ ràng là một tên tội phạm lặp lại. Người ấy sẽ hỏi họ có nhận ra người đàn ông này không, có thể nào Stacey biết hắn không? Gia đình Summers sẽ ngay lập tức đủ táo bạo, đủ nổi điên lên, để đặt ra câu hỏi của riêng họ: Là hắn đây sao? Đây có phải là tên đã bắt con gái họ? Điều gì đã xảy ra với Stacey? Cô ấy đang ở đâu? Khi nào họ có thể gặp cô ấy?
Người hỗ trợ sẽ không nói gì. Và cuối cùng, gia đình Summers sẽ không chịu nổi sự yên lặng hoang mang ấy, mỗi mẩu thông tin sẽ chỉ dẫn đến nhiều câu hỏi hơn mà thôi. Họ sẽ không thể hỏi Devon Goulding bất kỳ câu hỏi nào nữa. Lỗi đó là của tôi. Nhưng kết thúc, khám phá thực sự về con gái họ…
Tôi liếc nhìn căn nhà. Tôi hy vọng những thanh tra có thể tìm thấy câu trả lời mà tôi đã không có cơ hội tìm kiếm. Ví dụ như vết máu ở góc gara là của ai. Và có phải Devon là người đã bắt cóc Stacey Summers xinh đẹp, hạnh phúc? Và hắn đã làm gì với cô ấy sau đó?
Bởi tôi biết tôi đã xem đoạn phim Stacey bị bắt nhiều hơn số lần mình nên xem. Tôi biết tôi ngủ trong căn phòng treo đầy tường những câu chuyện về người mất tích chưa trở về nhà. Tôi biết khi ra ngoài tối hôm qua, tôi tìm kiếm điều mà lẽ ra tôi không nên tìm kiếm.
Trước đây, tôi đã kể bạn nghe tất cả về bản thân tôi. Những con cáo. Mùa xuân. Gia đình.
Và giờ…
Tôi hy vọng Stacey Summers mạnh mẽ hơn tôi.
Tôi muốn ngủ. Gục đầu xuống phía sau xe điều tra và mơ về những ngày trước đây tôi từng nghĩ về đại học hay kỳ nghỉ xuân quyến rũ, đến bãi biển Florida hứa hẹn ngập tràn nắng đẹp.
Trở về những ngày trước đây tôi luôn luôn và mãi mãi đơn độc một mình.
Tiếng la hét vang lên từ phía bên kia đường. Tôi cảm nhận sự thay đổi và khuấy động của đám đông, báo hiệu sự xuất hiện mới mẻ và chính thức tại hiện trường vụ án. Tôi không cần phải nhìn lên để biết người đó là ai. Tôi đã gọi và thế là ông ấy đến. Bởi đó là cách thức giữa hai chúng tôi. Mẹ tôi có những vú em, nhưng với tôi, mối quan hệ đã luôn là gì đó hơn thế.
Một phút trôi qua. Hai phút. Ba phút.
Rồi, ông ấy đã ở đây, đứng bên ngoài cánh cửa xe đang mở, hoàn toàn chỉn chu như thường lệ, với áo khoác dài, hai hàng nút được cài cao để chống lạnh.
“Ồ, Flora.” Chuyên gia hỗ trợ nạn nhân FBI Samuel Keynes thở ra nặng nề. “Cô đã làm gì thế?”