Nhà Tiểu Họa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 14 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Buổi Tiệc

❊ ❊ ❊

Phòng tổ chức tiệc của Hội thợ bạc rộng lớn và rất đông người, loang loáng những khuôn mặt chỉ thấy mỗi miệng và mắt cùng những chiếc lông chim chĩa ra từ những vành mũ rộng. Bao lấy họ là âm thanh của những chiếc đĩa, thìa và dĩa bằng bạc va vào nhau lách cách, tiếng cười của cánh đàn ông dội vào mấy bức tường tương phản với tiếng cười khúc khích ý nhị hơn của cánh phụ nữ. Thức ăn ê hề. Những chiếc bàn dài trải lụa Damascus trắng được sắp thành dãy, trên đó là những đĩa thịt gà, gà tây, trái cây tẩm đường, bánh nướng nhân thịt và những ngọc chúc đài bằng bạc uốn cong cầu kỳ. Johannes khoác tay Nella và họ đi dọc theo rìa đám đông ồn ã, men theo bức tường ốp ván gỗ gụ sẫm màu. Hình như có những tiếng xì xào và tiếng cười khúc khích cất lên khi họ xuất hiện.

Những người vợ đã yên vị, có vẻ như họ biết mình ngồi ở đâu. Tất cả họ đều mặc đồ đen, bên trên ngực được che lại bằng một dải ren, chỉ để lộ ra một chút da trắng nõn. Một phụ nữ mắt sáng lóe tựa hai ngọn nến nhìn Nella chòng chọc. Ánh nhìn róng riết giống hệt như ánh mắt người đàn bà trên phố Kalverstraat.

“Cười đi, và ngồi xuống với tôi nào!” Johannes nói, cười xã giao chiếu lệ với người phụ nữ nọ. “Ta bỏ bụng chút gì trước khi gặp khách khứa nhé.” Nella nghĩ nếu không có đồ ăn chắc nàng bị bọn họ ăn tươi nuốt sống luôn mất.

Họ ngồi xuống bàn nơi món chính đầu tiên đã được dọn lên - món cua.

“Tôi tìm thấy nhiều phần của bản thân mình trong thức ăn.” Johannes nhận xét, cầm cái nĩa giơ lên cao. Nella, nhìn chăm chăm vào những chiếc đĩa lớn bằng bạc sáng choang và những bình rượu chễm chệ, thắc mắc không biết ý ông là gì. Vì đang là chốn đông người, câu chuyện về ông và Marin tạm gác lại. Nhận thức được ánh nhìn soi mói của những người xung quanh, Johannes giữ thái độ ôn hòa, trò chuyện với người vợ trẻ như thể họ đã sống với nhau cả hai thập kỷ cùng nhau vượt bảy đại dương.

“Những hạt cây thìa là Ả Rập rải lên một miếng phô mai tươi mới nhắc tôi nhớ rằng mình là một người vui vẻ.” Johannes nói lớn. “Bơ Hà Lan, nguyên chất và có kem, khác biệt rõ rệt so với những loại khác, mang lại cho tôi sự thỏa mãn lớn lao. Tôi bán đĩa sứ ở Delft và mua về những khoanh bơ. Và cây kinh giới ô cùng với bia mận của Cornelia giúp tôi vui hơn cả việc đạt được một thỏa thuận với khách hàng. Cô ấy nhất định phải làm cho em một ít mới được.”

“Mẹ em có làm.” Nella đáp, những tiếng nhai rào rạo, những tiếng nói cười xôn xao bắt đầu khiến nàng nản chí. Nàng cảm thấy người suy kiệt đi bởi thứ năng lượng ngồn ngộn của căn phòng, tựa như những lát trái cây rắc đường.

“Điểm tâm sáng với quả vả và kem chua vào một sớm mùa hè.” Johannes không hay biết gì, vẫn tiếp tục nói. “Một niềm vui đặc biệt khó tả đưa tôi về lại thời thơ ấu. Cơ mà giờ đây tôi chỉ nhớ mỗi cái vị của nó thôi.” Ông nhìn nàng. “Chắc là em vẫn còn nhớ thời thơ ấu chứ nhỉ, vì cách đây chưa lâu cơ mà.”

Nella tự hỏi có phải Johannes cố tình nhắc đến cái thực tế ông lớn hơn nàng nhiều tuổi hay không, hay chỉ là do ông căng thẳng trước sự tò mò, soi mới của đám thực khách. Dù thế nào, nàng vẫn không muốn đồng ý. Ngay lúc này, nàng cảm thấy thời thơ ấu của mình xa vời không thể tin nổi. Nó đã được thay thế bằng sự thiếu chắc chắn, một mức độ thấp của nỗi sợ triền miên. Tảng đá của nỗi sợ vỡ ra thành một mối lo âu khắc khoải trong lòng nàng; nàng ghét mớ âm thanh hỗn tạp của căn phòng, âm sắc của cuộc nói chuyện này, ghét bị bao trùm bởi những thứ không quen thuộc.

“Em rời nôi cách đây lâu rồi.” Nàng lẩm bẩm, nghĩ về món đồ không mong muốn mà nhà tiểu họa đã gửi đến và thậm chí cảm thấy dễ chịu hơn.

“Ký ức được gợi nhớ thông qua thức ăn.” Johannes nói. “Thức ăn bản thân nó chứa đựng một thứ ngôn ngữ riêng. Củ cải vàng, củ cải trắng, tỏi tây, rau diếp quăn... và tôi vẫn nhai khi người khác không thể nghe thấy. À, còn cá nữa! Cá bon và cá tuyết là món ưa thích của tôi đấy, nhưng tôi cũng ăn bất kỳ thứ gì khác mà biển cả và những con kênh chảy quanh nền Cộng hòa của chúng ta ban tặng.”

Nella có cảm giác ông nói vậy là để che chắn cho nàng, như thể hy vọng sẽ giúp nàng bình tâm lại. “Mình ăn gì khi lênh đênh trên biển ngoài khơi xa?” Nàng lấy hết can đảm để đưa chuyện cùng ông.

Johannes đặt cái nĩa xuống. “Đồng loại.”

Nella khẽ phì cười, một tiếng cười dè dặt rơi xuống giữa họ và đáp xuống tấm khăn trải bàn. Johannes cho thêm một miếng cua nữa vào miệng. “Ăn thịt đồng loại là cách duy nhất để sống sót một khi thức ăn cạn kiệt.” Ông nói. “Nhưng tôi thà ăn khoai tây còn hơn. Quán rượu yêu thích của tôi ở thành phố này nằm ở Eastern Islands, bên cạnh kho hàng. Món khoai tây nóng ở đấy nhừ và mịn không nơi nào sánh được.” Ông chọc chọc vào chỗ cua trên đĩa. “Đấy là nơi bí mật của tôi.”

“Nhưng mình vừa cho em biết đấy thôi.”

Johannes đặt cái nĩa xuống. “Phải!” Ông nói. “Tôi vừa nói.” Có vẻ như chợt nhận ra từ lúc nãy đến giờ nàng vẫn lặng lẽ quan sát mình, Johannes nhìn lảng đi, cúi xuống món cua của mình. Không biết nói gì thêm, Nella cũng nhìn chăm chú vào chỗ thịt cua đã bục ra trên đĩa, hai cái càng màu mực, cái mai chuyển thành màu đỏ tía. Bứt một cái càng và dùng nĩa moi thớ thịt trắng cuối cùng ra, Johannes cất tiếng chào một người thợ bạc. Nella đang nhai một miếng thịt cua. Nó mặn và dính vào răng nàng.

Johannes rời khỏi bàn sau khi đã dùng hết món cua. “Tôi không đi lâu đâu.” Ông nói kèm theo tiếng thở dài. “Công việc ấy mà.” Ông nói nghe như thể đấy là một việc vặt và nhập vào một nhóm đàn ông ở góc phòng.

Nella cảm thấy bơ vơ khi không có Johannes bên cạnh, nhưng thích thú khi nhìn thấy chồng nàng có vẻ như biến thành một người khác hẳn. Nếu Johannes đang thực sự thấy mệt mỏi vì phải nói chuyện về công việc, về tiền hoa hồng, về tình trạng buôn bán, thì ông đúng là người giỏi giấu cảm xúc. Ông thật điển trai so với những người khác, dù họ mặc những chiếc áo khoác đắt tiền và đi bốt da. Nhiều tiếng cười rộ lên bên trên những chiếc mũ mà họ đang đội, những cái đầu ngoái lại, và giữa những khuôn mặt giống như mặt trăng nghếch lên với những gò má cháy sạm và những bộ râu quai nón vương vài mẩu thịt cua li ti, Johannes đứng ở trung tâm với làn da rám nắng và luôn miệng cười.

Mình có thể yêu ông ấy, Nella nghĩ. Trở thành vợ của một người đàn ông như thế chắc là một việc dễ dàng. Và tình yêu phải đến, bằng không mình sẽ khó bề sống nổi. Có lẽ nó sẽ tiến triển từ từ, hệt như hạt giống mùa đông của Otto vậy. Những thợ học nghề tiến lại chỗ Johannes khoe với ông những gì họ đã làm được, và ông giơ từng món đồ lên, cầm những cái bình đựng nước và lọ hoa với sự trân trọng, nâng niu. Một lời khen từ ông khiến cho cánh thanh niên rời đi trong hớn hở. Những nhà buôn khác lùi lại, nhìn Johannes bằng con mắt sắc sảo khi ông bắt đầu một cuộc tranh luận về thẩm mỹ, những điểm đáng khen của những bức tranh vẽ thực vật biển. Ông có vẻ hiểu biết và có óc quan sát, một điều khác thường đối với bản chất thương buôn của mình. Ông ghi lại những cái tên, cho một chiếc hộp bạc vào túi, rồi bảo một thợ học nghề đến gặp ông tại VOC.

Nella đang ngồi nhìn món chính thứ hai - một bát sò chan nước luộc thịt cừu và sốt hành, thì người phụ nữ có đôi mắt như nhìn xoáy vào người đối diện nọ bước về phía trước. Lưng thẳng, tóc nhét hết vào bên trong chiếc mũ chỏm có kiểu dáng trau chuốt với một dải nhung đen ngự trên đỉnh và ngọc trai đính quanh vành. Nella thầm tạ ơn Chúa vì những phép màu nho nhỏ của Người, vì nhờ bàn tay khéo léo của Cornelia mà váy nàng đã được khâu lại vừa vặn.

Người phụ nữ dừng lại nơi bàn của nàng, nhún gối thấp. “Ồ, nghe nói cô rất trẻ. Ông ấy bỏ cô lại một mình à?”

Nell nắm chặt vành bát. “Tôi mười tám tuổi rồi.”

Người phụ nữ đứng thẳng lên, mắt quét khắp căn phòng. “Ai cũng tò mò chẳng biết trông cô thế nào.” Cô ta tiếp tục, vẫn bằng giọng thật khẽ. “Nhưng giờ thì tôi thấy Brandt chọn vợ cũng tốt như làm mọi việc khác. Họ Oortman nghe cổ cổ là. Trong cuốn Ecclesiastes[1] có câu gì ấy nhỉ? Danh tiếng còn tốt hơn cả thử dầu quý giá!” Giọng cô ta đầy quan tâm, ngưỡng mộ nhưng vẫn chứa đựng điều gì đó như muốn chọc thủng phần dễ tổn thương nhất trong nàng.

Nella cố nhấc mình ra khỏi ghế, nhưng mặt bàn và chiếc váy rộng phối hợp ăn ý với nhau khiến nàng cứ dính chặt ở đấy. Người đàn bà kiên nhẫn đợi một cái nhún gối, chăm chú nhìn Nella chật vật. Rốt cuộc cũng thoát được khỏi khoảng cách chật hẹp giữa cái bàn và chiếc ghế, Nella cúi thấp, mặt gần chạm vào chiếc váy gấm thêu kim tuyến màu đen, xòe rộng ra trước mặt nàng hệt như cánh của một con quạ.

“Không cần đâu, cô em.” Người đàn bà nói. “Quá muộn rồi, quý bà ạ!” Nella nghĩ. “Tôi là Agnes, vợ của Frans Meermans. Chúng tôi sống ở biển hiệu Con cáo trên phố Prinsengracht. Frans mê săn bắn nên anh ấy chọn biển hiệu đó.”

Sự thân mật được bày tỏ ra lơ lửng một cách vụng về trong không khí, và Nella chỉ mỉm cười vì đã kịp học được từ Marin rằng đôi khi im lặng là điều cần thiết.

Agnes vỗ vào chiếc mũ chỏm và Nella nhận ra hàm ý của cô ta, ngón tay nào cũng đeo nhẫn -những viên hồng ngọc nhỏ, thạch anh tím và ngọc lục bảo lấp lánh. Sự phô trương này hoàn toàn đối nghịch với tính cách của một người Hà Lan điển hình vì hầu hết phụ nữ ở đây đeo trang sức kín đáo bên dưới những nếp gấp của xiêm y. Nella cố hình dung đôi tay Marin sáng lòa lên theo cách đó.

Thấy Nella im lặng, Agnes mỉm cười gượng gạo và tiếp tục: “Thực ra, chúng tôi là hàng xóm, ở cùng một gebuurte[2].”

Agnes Meermans có cách nói chuyện cầu kỳ một cách lạ lùng, những lời nói của cô ta không tự nhiên, như thể cô ta vẫn đang tập tành làm ra vẻ duyên dáng thanh lịch trước gương. Nella nhìn chăm chăm vào chuỗi ngọc trai quanh cái đầu ngạo mạn của Agnes. Những hạt ngọc trai có cùng kích cỡ như nhau, lớn bằng những chiếc răng sữa, lấp lánh dưới ánh sáng nhảy múa của những chiếc đèn chùm.

Agnes có lẽ nhỉnh hơn Marin vài tuổi, nhưng gương mặt chẳng có nét gì nổi bật của cô ta không hề bị thời gian tàn phá, không nốt ruồi hay tàn nhang do nắng, không quầng thâm dưới mắt, không dấu hiệu của làm việc cực nhọc hay bận bịu con cái. Cô ta có vẻ như người cõi trên, không giống những người bình thường khác, ngoại trừ cặp mắt đen chớp liên hồi rồi khép hờ trong sự trễ nải đầy toan tính. Agnes nhìn săm soi chiếc váy màu bạc của Nella và vòng eo thon gọn của nàng. “Cô là người ở đâu?” Cô ta hỏi.

“Assendelft. Tên tôi là Petronella.”

“Một cái tên phổ biến nhỉ? Ở thành phố này rất nhiều người trùng tên với cô đấy. Thế cô có thích Assendelft không?”

Nella để ý thấy hàm răng của Agnes hơi xỉn màu. Nàng cân nhắc câu trả lời hợp lý nhất để đáp lại người đàn bà này, có vẻ như cô ta đang dò xét nàng. “Tôi mới rời khỏi đấy được mười một ngày thôi, nhưng cứ như cả một thập kỷ rồi ấy.”

Agnes đáp. “Thời gian tựa như một cây nến ương ngạnh lúc ta còn trẻ. Thế Marin đã tìm thấy cô như thế nào vậy?”

“Tìm thấy tôi?”

Agnes lại bật cười, khiến Nella chưng hửng. Một luồng khí nhẹ được tống ra ngoài, một sự khinh bỉ được thốt ra mà chẳng cần đến lời nói. Đây không phải một cuộc nói chuyện, mà là Agnes phóng phí tiêu và nhìn chúng găm vào đích. Dường như cô ta lúc nào cũng giữ được giọng mình nghe có vẻ thích thú, nhưng Nella đảm bảo là có điều gì khác vẫn đang diễn ra bên dưới sự gồng mình lên cố tỏ ra tự tin đó, một điều nàng cảm thấy được nhưng không thể gọi tên. Nàng nhìn thẳng vào Agnes và mỉm cười, bảo vệ hoàn cảnh trớ trêu của mình bằng cách để lộ ra hàm răng trẻ hơn và trắng hơn.

Xung quanh, mùi thịt gà được nấu chín, mùi trái cây tẩm đường và những âm thanh óc ách của bình rượu xâm lấn vào vòng tròn bé nhỏ của họ, nhưng với Agnes, Nella có sức hút hệt như nam châm và đẩy lùi mọi thứ khác.

“Một cô dâu cho Johannes Brandt.” Agnes nói kèm theo tiếng thở dài, nắm tay kéo Nella ngồi xuống ghế bên cạnh cô ta, nhẹ nhàng nhưng cương quyết. “Lâu như thế rồi mà. Marin chắc rất hài lòng; cô ta vẫn nói là anh trai mình phải có con. Nhưng Brandt vốn không ưa chuyện con thừa tự.”

“Sao ạ?”

“Trò đánh cuộc may rủi, ông ấy bảo vậy. “Xấu xí dù do một người mẹ đẹp sinh ra, thô lỗ dù được chăm sóc chu đáo ân cần, và ngu xuẩn dù cha mẹ thông minh.” Đương nhiên quan điểm đó nghe thật buồn cười, Brandt vẫn luôn như vậy. Nhưng người ta phải duy trì nòi giống chứ.”

Agnes có vẻ bất kính và thiếu tôn trọng quá mức khi gọi Johannes bằng họ để nói về ông một cách thoải mái không chút kiêng dè. Nella cảm thấy bị lăng mạ và không biết phải nói gì. Nàng không thể hình dung nối Johannes nói về chuyện con thừa tự với người đàn bà kỳ quặc này trong trường hợp nào.

Agnes nhấc một chiếc bình lên và rót rượu ra hai cái ly. Trong một lúc, họ ngồi im lặng quan sát đám thực khách đang ngà ngà say, rượu văng lên khăn trải bàn, những chiếc đĩa được vét sạch bong, chỗ thức ăn cuối cùng được múc lên bằng môi. “Golden Bend.” Agnes nói, mắt cô ta nhìn Nella thăm dò ước lượng như thể nàng là một cỗ bài. “Đến từ Assendelft, nghe xa xôi như thể tận Batavia ấy nhỉ.” Cô ta vén một lọn tóc tưởng tượng ra sau vành tai, những ngón tay đeo đầy nhẫn lại sáng lóa lên lần nữa.

“Một chút thôi.”

“Nhưng một cuộc hôn nhân dựa trên tình yêu như cuộc hôn nhân của tôi là của hiếm đấy! Frans làm tôi hư.” Cô ta thì thào ra vẻ bí ẩn. “Cũng như Brandt sẽ làm cô hư.”

“Hy vọng là vậy.” Nella đáp, cảm thấy lố bịch.

“Frans của tôi là một người đàn ông tốt.” Agnes nói.

Sự quan tâm không được chào đón cứ chờn vờn lơ lửng hệt như sự thách thức, và Nella thấy khó hiểu về sự thách thức lạ lùng đó. Có lẽ đây là cách nói chuyện thời thượng, sấn sổ và khiến người khác lúng túng, nhưng lại được coi là tự nhiên, không khách khí.

“Cô gặp tên mọi chưa nhỉ?” Agnes tiếp tục. “Một sinh vật lạ. Ở điền trang Surinam của tôi có hàng trăm người, nhưng tôi chưa từng gặp một ai giống như vậy.”

Nella nhấp một ngụm rượu. “Chị nói về Otto phải không? Chị đến Surinam chưa?”

Agnes bật cười. “Cô hỏi có duyên thật đấy!”

“Vậy là chưa?”

Nụ cười của Agnes biến mất. Trông cô ta gần như đau buồn. “Toàn bộ điền trang được trao cho chúng tôi là một minh chứng tuyệt vời của phúc Chúa ban cho đấy. Không có người anh em trai nào chực chờ giành giật, cô thấy đấy chỉ có mỗi tôi. Tôi không bao giờ có thể liều mạng sống của mình trên một chuyến hải trình dài ba tháng, giờ Chúa đã ban cho tôi những cối đường của cha mình. Làm thế nào tôi có thể tưởng nhớ đến ông nếu tôi bị mắc kẹt ở đâu đó trên một con tàu?”

Rượu xộc thẳng lên mũi Nella. Agnes ngả người gần hơn về phía nàng. “Tôi nghĩ tên mọi đó không thể nào là một nô lệ theo nghĩa chính xác nhất được.” Cô ta nói. “Brandt không cho chúng tôi gọi y như thế. Tôi biết một cặp vợ chồng là thành viên hội đồng quản trị VOC, họ cũng có một tên mọi như thế trong nhà. Tôi thích một người có thể chơi được nhạc ấy. Nhà viên chức thu thuế vùng này có đến ba, trong đó có một phụ nữ, cô ta có thể chơi đại hồ cầm kia đấy! Tôi nghỉ trên thế gian này giờ đây bất kỳ thứ gì cũng mua được bằng tiền. Y cảm thấy điều đó như thế nào nhỉ? Chúng tôi ai cũng thắc mắc. Việc Brandt mang y về nhà...”

“Agnes!” Có tiếng ai đó gọi, và Nella vội đứng lên. “Cứ tự nhiên!” Người đàn ông đứng trước họ nói, phác một cử chỉ để trấn an nàng rằng việc nhún gối chào trong bộ xiêm y nặng nề là không cần thiết.

Hai bàn tay Agnes duyên dáng đan vào nhau đặt trong lòng. “Chồng tôi, Meermans.” Cô ta nói. “Và đây là Petronella Oortman.”

“Petronella Oortman.” Anh ta nói, nhìn quanh phòng. “Anh biết.”

Trong một lúc, cảnh tượng người đàn ông đang đứng và người phụ nữ ăn mặc chải chuốt, khoe khoang ngồi bên cạnh nàng là hình ảnh hoàn hảo nhất của một cuộc hôn nhân mà Nella từng thấy, cả hai như bị trói buộc trong những sợi dây vô hình. Sự hòa hợp ấy thật đáng sợ.

Frans Meermans ít tuổi hơn Johannes một chút, và khuôn mặt to bè của anh ta không chút chai sạn bởi nắng gió; dễ chừng năm con sò có thể tọng hết một lúc vào bên trong cái quai hàm to bè và nhẵn nhụi đó. Anh ta đang cầm một cái mũ, vành rộng hơn bất kỳ mũ của ai khác trong phòng. “Mất một đồng gun-đơn cho mình rồi, Johannes.” Nella nghĩ, tự hỏi ngoài ra chồng nàng còn thắng những kiểu cá cược nào khác nữa không.

Meermans thuộc tuýp người sẽ sớm phát phì, nàng cho là vậy. Và có khả năng như thế thật, căn cứ vào thức ăn họ dọn trên những cái đĩa to cỡ đại. Người anh ta bốc mùi lông chó ướt và khói củi, hoang dại hơn hương sáp thơm mùi trái cây của cô vợ. Anh ta cúi người về phía trước và cầm lên một cái thìa bạc sáng lóa. “Cô là thợ bạc hử?” Anh ta hỏi.

Agnes cười gượng gạo trước câu nói đùa nhạt nhẽo đó. “Ta sẽ nói chuyện với Brandt tối nay chứ?” Cô ta hỏi.

Theo bản năng, Meermans ngẩng đầu lên và lia mắt khắp phòng.

Johannes đã rời khỏi nhóm người đứng gần bàn Nella và giờ không thấy ông đâu nữa. “Ừ!” Anh ta nói. “Đường chất trong kho hàng của ông ta cũng ngót nghét hai tuần rồi.”

“Chúng ta phải thống nhất các điều khoản. Cô ta không chịu ăn ngọt, không có nghĩa là những người khác cũng vậy.” Agnes cười nhưng tiếng cười chẳng vui vẻ gì; tay run run rót cho mình thêm một ly rượu nữa.

Nella đứng lên. “Tôi phải đi tìm chồng tôi đây.”

“Ông ta đến bây giờ đấy.” Agnes nói giọng nghiêm túc. Meermans nắm chặt vành mũ. Agnes khẽ nhún gối thật thấp để tỏ sự tôn kính khi Johannes tới. Lưng Meermans căng cứng và anh ta thở phù ra. “Chào phu nhân Meermans!” Johannes nói. Hai người đàn ông chào nhau bằng một cái cúi đầu đúng phép tắc.

“Chào ngài!” Agnes thốt ra, đôi mắt đen nhìn chiếc áo khoác đắt tiền của ông không chớp. Nella thấy có vẻ như Agnes đang cố hết sức ghìm lại mới không đưa tay vuốt ve chiếc áo bằng nhung ấy. “Tôi thấy tối nay ngài lại làm ảo thuật như mọi khi nữa rồi.”

“Ảo thuật gì đâu, phu nhân. Tôi lúc nào cũng vậy mà.”

Agnes liếc nhìn chồng, lúc này có vẻ chỉ tập trung vào tấm khăn trải bàn. Như thể cảm thấy ánh mắt vợ đậu lên cổ, Meermans nói: “Chúng tôi muốn bàn về chỗ đường...” Giọng anh ta đuối dần, và Nella nhìn thấy nét lo âu trên khuôn mặt bị khuất đi một nửa ấy.

“Khi nào sẽ bán?” Câu hỏi của Agnes như thọc mạnh vào không khí.

“Tôi tự biết điều đó, phu nhân.”

“Đương nhiên rồi, thưa ngài. Tôi không bao giờ nghi ngờ...”

“Sự tham nhũng của Van Riebeeck[3] ở Goede Hoop[4], những hoàng đế ti tiện khốn nạn ở những vùng đất xa xôi.” Johannes nói. “Tình trạng hối lộ ở Batavia, những thị trường chợ đen ở phương đông - mọi người đang mong muốn sản phẩm có chất lượng, và tôi sẽ bảo họ chỗ đường đó là của phu nhân. Thành ra Liên bang Tây Ấn rốt cuộc sẽ cứu tất cả chúng ta, tôi đồ là vậy, nhưng tôi sẽ không đưa đường của phu nhân lên sàn chứng khoán. Sàn giao dịch là một gánh xiếc, những tay môi giới thích bọn tham lam đến phát cuồng. Chỗ đường này cần được đưa ra nước ngoài một cách cẩn trọng và có kiểm soát...”

“Nhưng không đến nước Anh đâu đấy!” Agnes ngắt lời. “Tôi ghét người Anh. Những phiền phức họ gây ra cho cha tôi ở Surinam.”

“Ừ, thì không nước Anh.” Johannes trấn an cô ta. “Đường đang được cất giữ an toàn trong kho.” Ông nói tiếp, giọng ngọt ngào, xoa dịu. “Phu nhân có thể tới kiểm tra nếu muốn.”

“Thưa ngài, ngài là người kỳ lạ nhất đấy, vì cứ một mực phải bán đường ra nước ngoài.” Meermans nhận xét. “Hầu hết những người Hà Lan khôn ngoan sẽ giữ lấy một kho tàng như thế cho mình, và căn cứ vào chất lượng, nó hứa hẹn sẽ mang lại cho họ mối lợi lớn.”

“Tôi thấy tự ái là thất sách.” Johannes nói. “Nó chẳng giúp được ai cả. Dưới con mắt người nước ngoài, chúng ta là những kẻ không đáng tin cậy. Tôi không muốn trở thành kiểu người như thế. Tại sao không quảng bá danh tiếng đường của phu nhân?”

“Dù sau này tốt xấu ra sao, chúng tôi nhờ cậy cả vào ngài đấy!”

“Tôi có giữ một cối đường ở nhà.” Agnes cắt ngang, làm dịu tình hình. “Nó rất rắn, hệt như kim cương, ngọt ngào và dễ thương như chú cún con ấy. Cha tôi từng nói như vậy.” Cô ta vơ vẩn nghịch chỗ ren ở cổ. “Tôi không đành làm vỡ nó.”

Nella nhức nhích trên ghế, nhìn chăm chăm vào chút rượu còn lại dưới đáy ly, hơi chếnh choáng.

“Tôi sẽ đến Venice vì hai người.” Johannes nói. “Ở đó có nhiều khách hàng. Lúc này không phải thời điểm lý tưởng cho việc bán đường, nhưng chắc chắn sẽ có những người dân Venice muốn mua.”

“Người Venice?” Agnes há hốc miệng. “Những kẻ theo đạo Gia-tô ư?”

“Thưa ngài Brandt, cha cô ấy đã làm việc cật lực đâu phải để cho bọn Công giáo được kênh bụng.” Meermans nhấm nhẳng nói.

“Nhưng đồng gun-đơn ở bất kỳ cái túi nào cũng có ích như nhau, đúng không nào? Một nhà buôn giỏi biết rõ điều đó. Người Venice và người Milan ăn đường cũng giống như người Hà Lan chúng ta thở vậy...”

“Về thôi, Agnes.” Frans nói. “Anh mệt rồi. Và cũng no nữa.” Anh ta đội mũ lên đầu hệt như một cái nút chặn lại mớ ý nghĩ rối tung của mình. Agnes đứng đợi trong lúc sự im lặng ngượng ngùng mỗi lúc một nặng nề thêm.

“Chúc ngủ ngon!” Rốt cuộc Johannes cũng lên tiếng, nụ cười rộng không thể che đậy được nét mệt mỏi trên đôi mắt của ông.

“Chúa ban phước lành cho ngài!” Agnes vừa nói vừa khoác tay chồng. Khi cặp đôi đi men theo bức tường ốp ván màu gụ, những tấm khăn trải bàn trông chẳng khác nào bãi chiến trường, mấy cái bình bạc nằm chỏng chơ và những mẩu thức ăn thừa. Nella cảm thấy trong lòng dấy lên một cảm giác bất an.

“Johannes...” Nàng nói. “Marin bảo ta phải mời...”

Ông đặt tay lên vai nàng, và Nella chùng xuống dưới sức nặng ấy. “Nella à...” Ông thở ra. “Với những người như thế, mình phải luôn để họ muốn hơn nữa.”

Nhưng khi Agnes ngoái đầu ném vào nàng ánh nhìn ngạo mạn, Nella không chắc điều đó.

❀ ❀ ❀

[1] Một quyển trong Cựu Ước, khẳng định “Đời là hư ảo” và hưởng dẫn cách thức để thành người công chính, biết kính sợ Chúa.

[2] Tiếng Hà Lan ở Nam Phi, có nghĩa là vùng, xóm.

[3] Jan van Riebeeck (1619-1677) Nhà cai trị thuộc địa người Hà Lan, sáng lập ra Cape Town và mở cửa vùng Nam Phi cho người da trắng định cư.

[4] Tiếng Hà Lan, nghĩa là Mũi Hảo Vọng

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jessie Burton

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.