Đời Sống Trên Sông Mississippi

Lượt đọc: 1295 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20
Một Thảm Kịch

❊ ❊ ❊

Chúng tôi ở New Orleans ba ngày, nhưng viên thuyền trưởng không tìm nổi người lái tàu thay thế. Ông đề nghị tôi đảm nhận ca ngày, còn ca đêm giao cho George Ealer. Nhưng tôi sợ; tôi chưa bao giờ tự mình trực ca, và tin chắc rằng mình sẽ gây ra rắc rối ở đầu một con lạch nào đó, hoặc làm tàu mắc cạn khi cố lách qua một bãi bồi. Brown vẫn ở lại, nhưng ông ta không chịu đi cùng tôi. Thế nên, viên thuyền trưởng đưa tôi một tờ lệnh trình cho thuyền trưởng tàu 'A. T. Lacey' để xin đi nhờ tới St. Louis, và bảo rằng ông sẽ tìm một người lái tàu mới ở đó, khi ấy tôi có thể quay lại làm người học việc. Tàu 'Lacey' sẽ rời bến vài ngày sau tàu 'Pennsylvania'.

Đêm trước khi tàu 'Pennsylvania' rời bến, Henry và tôi ngồi tán gẫu trên đống hàng ở bờ sông đến tận nửa đêm. Chủ đề chính của cuộc trò chuyện là thứ mà tôi nghĩ trước đây chúng tôi chưa từng bàn tới: các tai nạn tàu thủy. Lúc đó một tai nạn đang trên đường ập đến với chúng tôi mà chẳng ai hay biết; thứ nước chuẩn bị biến thành hơi làm nổ tung con tàu ấy, khi chúng tôi đang trò chuyện, vẫn đang cuồn cuộn chảy qua một khúc sông cách đó một ngàn năm trăm dặm; nhưng rồi nó sẽ đến đúng lúc và đúng chỗ. Chúng tôi tự hỏi liệu những kẻ không có thẩm quyền như mình có giúp được gì khi tai nạn và hoảng loạn ập tới hay không; nhưng dù sao, biết đâu cũng có ích; nên chúng tôi quyết định nếu tai nạn có xảy đến, ít nhất chúng tôi sẽ bám trụ lại con tàu và làm những việc nhỏ nhặt trong khả năng. Sau này, khi thảm kịch thực sự xảy ra, Henry đã nhớ lời giao hẹn đó và hành động đúng như vậy.

Tàu 'Lacey' khởi hành ngược dòng hai ngày sau tàu 'Pennsylvania'. Hai ngày sau khi rời bến, chúng tôi ghé qua Greenville, Mississippi, và nghe thấy ai đó hét lên: "Tàu 'Pennsylvania' nổ tung ở Ship Island, một trăm năm mươi người thiệt mạng!"

Cùng tối hôm đó, tại Napoleon, Arkansas, chúng tôi nhận được một tờ báo in thêm từ Memphis, trong đó có vài thông tin cụ thể. Nó nhắc đến em trai tôi và nói em ấy không hề hấn gì.

Càng lên phía trên, chúng tôi lại nhận thêm một tờ báo in thêm khác. Em trai tôi lại được nhắc tới, nhưng lần này là tình trạng thương tích không thể cứu chữa. Chúng tôi không biết được chi tiết đầy đủ của thảm kịch cho tới khi đến Memphis. Đây là câu chuyện đau thương đó:

Đó là lúc sáu giờ sáng một ngày hè nóng nực. Tàu 'Pennsylvania' đang lầm lũi tiến về phía bắc Ship Island, cách Memphis khoảng sáu mươi dặm, với một nửa công suất hơi nước, đang kéo theo một chiếc sà lan chở củi đã vơi gần hết. George Ealer đang ở trong buồng lái, tôi nghĩ là một mình; kỹ sư phó và một thợ phụ đang trực ở phòng máy; sĩ quan phó hai trực boong; George Black, ông Wood, và em trai tôi, những nhân viên văn phòng, đều đang ngủ, cũng như Brown, kỹ sư trưởng, thợ mộc, đại phó và một thợ phụ khác; Thuyền trưởng Klinefelter đang ngồi trên ghế tiệm cắt tóc, và người thợ đang chuẩn bị cạo râu cho ông. Trên tàu có khá nhiều hành khách khoang hạng nhất và ba bốn trăm hành khách phổ thông—nghe nói vậy vào thời điểm đó—và không mấy người trong số họ đã thức dậy. Khi củi trên sà lan đã gần hết, Ealer nhấn chuông lệnh "tăng tốc" hết công suất, và ngay khoảnh khắc tiếp theo, bốn trong số tám nồi hơi nổ tung với một tiếng gầm thét kinh hoàng, và toàn bộ phần mũi con tàu bị hất tung lên trời! Phần lớn khối đổ nát, cùng với những chiếc ống khói, rơi đè lên thân tàu, trở thành một ngọn núi rác rưởi hỗn độn và tan nát—rồi sau đó một lát, lửa bùng lên.

Nhiều người bị hất văng ra xa và rơi xuống sông; trong số đó có ông Wood, em trai tôi và người thợ mộc. Người thợ mộc vẫn nằm trên chiếc đệm của mình khi rơi xuống nước, cách tàu bảy mươi lăm feet. Brown, người lái tàu, và George Black, thư ký trưởng, không bao giờ được nhìn thấy hay nghe tin tức gì sau vụ nổ. Chiếc ghế cắt tóc, với Thuyền trưởng Klinefelter vẫn ngồi trên đó và bình an vô sự, bị bỏ lại với phần lưng ghế chênh vênh trên khoảng không—mọi thứ phía trước nó, kể cả sàn tàu, đều đã biến mất; và người thợ cắt tóc ngơ ngác, cũng chẳng hề hấn gì, đứng với một ngón chân nhón ra ngoài không trung, vẫn vô thức quấy bọt cạo râu mà không nói một lời.

Khi George Ealer nhìn thấy những chiếc ống khói lao vút lên trước mặt, ông biết chuyện gì đang xảy ra; vì vậy, ông che kín mặt bằng ve áo khoác, và nhấn chặt cả hai tay để giữ lớp bảo vệ đó tại chỗ nhằm ngăn hơi nước lọt vào mũi hay miệng. Ông có đủ thời gian để lo liệu những chi tiết đó trong lúc bị hất tung lên rồi rơi xuống. Một lát sau, ông đáp xuống đỉnh những nồi hơi chưa nổ, cách buồng lái cũ bốn mươi feet bên dưới, cùng với chiếc vô lăng và một cơn mưa đồ đạc khác, giữa một đám mây hơi nước nóng rẫy. Tất cả những ai hít phải hơi nước đó đều chết; không ai thoát được. Nhưng Ealer không hít phải chút nào. Ông cố hết sức thoát ra nơi không khí trong lành nhanh nhất có thể; và khi hơi nước tan đi, ông quay lại, trèo lên đống nồi hơi một lần nữa, kiên nhẫn tìm lại từng quân cờ và từng khúc sáo của mình.

Lúc này lửa bắt đầu lan rộng. Tiếng gào thét và rên rỉ tràn ngập không gian. Rất nhiều người bị bỏng, rất nhiều người bị tàn phế; vụ nổ đã đóng một cái xà beng sắt xuyên qua cơ thể một người đàn ông—tôi nghĩ họ nói đó là một vị linh mục. Ông ấy không chết ngay, và nỗi đau đớn của ông vô cùng khủng khiếp. Một học viên hải quân người Pháp trẻ tuổi, mới mười lăm tuổi, con trai của một đô đốc Pháp, bị bỏng rất nặng, nhưng vẫn chịu đựng nỗi đau đớn như một người đàn ông thực thụ. Cả hai viên sĩ quan đều bị bỏng nặng, nhưng dù vậy họ vẫn bám trụ tại vị trí của mình. Họ kéo chiếc thuyền gỗ về phía sau, và cùng với thuyền trưởng, họ chống trả lại đám người nhập cư hoảng loạn đang điên cuồng lao tới cho đến khi những người bị thương được đưa tới đó và được đặt vào nơi an toàn trước.

Khi ông Wood và Henry rơi xuống nước, họ bơi về phía bờ, chỉ cách đó vài trăm thước; nhưng rồi Henry bảo rằng anh tin mình không hề bị thương (thật là một sự nhầm lẫn không thể giải thích được!), và vì thế anh sẽ bơi ngược lại con tàu để giúp cứu những người bị thương. Vậy là họ chia tay, và Henry quay lại.

Lúc này ngọn lửa đang bùng lên dữ dội, và một vài người bị mắc kẹt dưới đống đổ nát đang tha thiết cầu xin được giúp đỡ. Mọi nỗ lực dập lửa đều vô ích; nên những chiếc thùng chứa nước sớm bị vứt sang một bên và các sĩ quan cầm rìu xông vào cố gắng giải thoát những người bị kẹt. Một thợ phụ là một trong số những người bị mắc kẹt; anh ta nói mình không bị thương, nhưng không thể tự thoát ra được; và khi thấy lửa sắp đuổi những người cứu hộ đi, anh ta cầu xin ai đó bắn mình, để giải thoát anh khỏi cái chết kinh khủng hơn. Ngọn lửa thực sự đã xua những người cầm rìu đi, và họ đành bất lực lắng nghe những lời cầu khẩn của chàng trai tội nghiệp đó cho đến khi ngọn lửa kết thúc nỗi đau khổ của anh.

Ngọn lửa xua tất cả những ai có thể chen chân vào chiếc sà lan chở củi; chiếc sà lan sau đó được cắt dây, và nó cùng con tàu đang cháy trôi xuôi dòng sông về phía Ship Island. Họ neo chiếc sà lan lại ở đầu đảo, và tại đó, không chút che chắn dưới ánh mặt trời gay gắt, những người còn sống sót chỉ còn mảnh vải che thân phải ở lại, không thức ăn, không thuốc men, không có sự giúp đỡ cho những vết thương của họ trong suốt phần còn lại của ngày. Cuối cùng, một con tàu hơi nước đi ngang qua và đưa những người bất hạnh tới Memphis, và ở đó, sự giúp đỡ hào phóng nhất đã lập tức đến. Lúc này Henry đã bất tỉnh. Các bác sĩ kiểm tra vết thương của anh và thấy chúng đã quá nặng, nên tự nhiên họ dồn sự chú ý vào những bệnh nhân còn có khả năng cứu chữa.

Bốn mươi người bị thương được đặt nằm trên những tấm đệm trải trên sàn của một đại sảnh công cộng, và Henry nằm trong số đó. Các quý bà ở Memphis đến đó mỗi ngày, mang theo hoa, trái cây, cùng mọi loại bánh trái và đồ ăn ngon lành, và họ ở lại chăm sóc những người bị thương. Tất cả các bác sĩ đều chia ca trực ở đó, cùng các sinh viên y khoa; và phần còn lại của thị trấn cung cấp tiền bạc hoặc bất cứ thứ gì được yêu cầu. Và Memphis biết cách làm những việc đó một cách chu đáo; vì đã có biết bao thảm kịch như vụ tàu 'Pennsylvania' xảy ra gần cửa ngõ của họ, và thành phố này, hơn tất thảy các thành phố khác trên dòng sông, giàu kinh nghiệm trong công việc nhân từ của "Người Samaritan Nhân hậu".

Cảnh tượng tôi nhìn thấy khi bước vào đại sảnh đó thật mới mẻ và lạ lẫm đối với tôi. Hai hàng dài những thân hình nằm rạp—tổng cộng hơn bốn mươi người—và mỗi khuôn mặt, mỗi cái đầu đều là một cục bông gòn thô, lỏng lẻo không định hình. Đó là một cảnh tượng ghê rợn. Tôi túc trực ở đó sáu ngày sáu đêm, và đó là một trải nghiệm vô cùng u sầu. Có một sự việc diễn ra hàng ngày gây áp lực đặc biệt: đó là việc chuyển những người sắp chết sang một căn phòng riêng biệt. Việc này được thực hiện để tinh thần của những bệnh nhân khác không bị ảnh hưởng tiêu cực khi nhìn thấy một người trong số họ phải chịu nỗi đau lìa trần. Người xấu số luôn được khiêng đi nhẹ nhàng nhất có thể, và chiếc cáng luôn bị che khuất khỏi tầm nhìn bởi một bức tường gồm những người trợ giúp; nhưng chẳng ích gì: ai cũng hiểu đám người đang khom lưng, với những bước chân lặng lẽ và chuyển động chậm rãi đó có nghĩa là gì; và tất cả ánh mắt đều dõi theo đầy xót xa, và một cơn rùng mình lan truyền dọc theo hàng người như một con sóng.

Tôi thấy nhiều anh chàng tội nghiệp được chuyển tới "phòng chờ chết", và không bao giờ thấy họ nữa. Nhưng tôi đã thấy đại phó của chúng tôi được đưa tới đó không chỉ một lần. Vết thương của ông rất khủng khiếp, đặc biệt là những vết bỏng. Ông được đắp dầu lanh và bông gòn khắp người từ thắt lưng trở lên, trông chẳng còn giống con người. Ông thường xuyên mê sảng; và khi ấy, nỗi đau đớn khiến ông điên cuồng gào thét, đôi khi là rú lên. Sau đó, sau một khoảng thời gian kiệt sức câm lặng, trí tưởng tượng hỗn loạn của ông đột nhiên biến đại sảnh rộng lớn thành boong tàu, và đám đông y tá hối hả thành thủy thủ đoàn; ông sẽ ngồi dậy và quát lớn, "Làm việc đi, làm việc đi, lũ đá tảng, lũ sên lười, lũ khiêng quan tài! Định mất cả ngày để chuyển chỗ hàng bằng cái mũ đó à?" rồi bồi thêm vào trận nổ thịnh nộ này một tràng chửi thề long trời lở đất mà chẳng gì có thể ngăn cản cho tới khi ngọn núi lửa trong ông trút cạn. Và thỉnh thoảng khi cơn điên này xâm chiếm, ông lại tự tay xé từng nắm bông và để lộ ra lớp thịt bị nấu chín của mình. Thật kinh khủng. Tất nhiên điều đó chẳng tốt cho những người khác—tiếng ồn và những hành động đó; nên các bác sĩ cố cho ông dùng morphine để trấn an. Nhưng dù tỉnh hay mê, ông nhất quyết không dùng. Ông nói vợ mình đã bị giết bởi thứ thuốc phản bội đó, và thà chết còn hơn dùng nó. Ông nghi ngờ các bác sĩ đang giấu thuốc trong thuốc uống bình thường và nước của ông—nên ông ngừng chạm môi vào bất cứ thứ gì. Một lần, sau hai ngày nắng nóng hầm hập không có nước, ông cầm chiếc gáo lên, và cảnh tượng dòng nước trong vắt, cùng nỗi khốn cùng vì khát, đã cám dỗ ông đến mức tưởng chừng không chịu nổi; nhưng ông đã tự chủ được và hất nó đi, và sau đó không cho phép ai mang nước lại gần mình nữa. Ba lần tôi thấy ông được khiêng tới phòng chờ chết, bất tỉnh và được cho là sắp lìa đời; nhưng mỗi lần ông đều tỉnh lại, chửi rủa những người chăm sóc, và đòi được đưa trở lại. Sau này ông còn sống để làm đại phó trên một con tàu hơi nước lần nữa.

Nhưng ông ấy là người duy nhất đi tới phòng chờ chết mà vẫn sống sót trở về. Bác sĩ Peyton, một trong những bác sĩ chính, người giàu lòng nhân ái và sở hữu mọi phẩm chất tạo nên một nhân cách cao thượng, không tì vết, đã làm tất cả những gì mà khả năng phán đoán uyên bác cùng tay nghề điêu luyện có thể làm cho Henry; nhưng như báo chí đã nói ngay từ đầu, những vết thương của em ấy đã quá nặng, không thể cứu chữa. Vào tối ngày thứ sáu, tâm trí mơ màng của em bận rộn với những điều xa xôi, và những ngón tay yếu ớt "bứt bứt tấm chăn". Giờ phút của em đã điểm; chúng tôi đưa em tới phòng chờ chết, tội nghiệp thằng bé.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.