Dư Thu Vũ: Cuối cùng cũng nói đến Trang Tử, tôi rất vui. Từ trước đến nay, những người đặt nền móng cho văn hóa Trung Quốc mà chúng ta thảo luận, phần lớn đều thiên về triết học và chính trị học, khoảng cách với văn chương khá xa. Người dân đương đại vì trình độ văn hóa cổ không cao, cứ thấy văn ngôn là cho rằng đó là văn học, đây là một sự hiểu lầm. Thực ra trong chư tử bách gia, người có phẩm chất tư duy cao rất nhiều, nhưng người có phẩm chất văn học cao nhất, hình như, cũng chính là Trang Tử.
Tuy nhiên, bản thân tôi tiếp xúc với Trang Tử lại chẳng liên quan gì đến văn học. Tôi nhớ mình từng viết trong một bài văn rằng, năm tôi hai mươi tuổi đã gặp phải một thảm họa xã hội gọi là Cách mạng Văn hóa, bố bị giam, chú tự sát, cả nhà không có miếng ăn tấm áo, bản thân tôi lại bị phe tạo phản vây công ở trường học, thật sự là đường cùng, ngày ngày sầu khổ. Lúc này, có một nữ sinh cùng lớp nói với tôi rằng, năm 1957, tức là 9 năm trước Cách mạng Văn hóa, bố cô ấy bị liệt vào hàng "hữu phái", gia đình cũng chìm trong đau khổ, bố cô ấy bắt cả nhà phải đọc "Trang Tử". Nghe lời của cô bạn vốn không mấy thân quen này, tôi lập tức tìm "Trang Tử" để đọc. Đọc vài ngày, tôi dần dần hiểu ra, đối phó với tai ương không thể dùng "ngữ pháp của tai ương". Trên đời có một loại ngữ pháp khác, có thể giúp bản thân thoát ly khỏi tinh thần, coi thường tai ương, tái nhận thức thế giới và nhân sinh, đạt được một loại tự do thi vị hóa. Trải nghiệm đọc sách này vô cùng quan trọng, luôn có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời tôi sau này. Các bạn biết đấy, sau này tôi còn trải qua rất nhiều gian nan, nhưng vẫn luôn giữ được tâm trạng lạc quan, cho đến tận hôm nay vẫn có thể vui vẻ đàm đạo về Trang Tử với các bạn như vậy, tất cả đều liên quan đến Trang Tử.
Vương Mục Địch: Trải nghiệm của tiên sinh Thu Vũ làm tôi nhớ tới, bản thân Trang Tử cũng từng gặp phải tai ương rất lớn. Vợ ông qua đời, người bạn tốt Huệ Thi đến thăm, phát hiện Trang Tử không những không khóc lóc mà trái lại còn gõ chậu hát ca. Huệ Thi nói: Anh không khóc thì thôi, lại còn ca hát, có phải là quá đáng quá không? Trang Tử nói: Khi bà ấy mới chết, chẳng lẽ tôi lại không có cảm khái sao? Nhưng nghĩ đến việc con người lúc ban đầu vốn dĩ không có sinh mệnh, không chỉ không có sinh mệnh mà còn không có hình thể, không chỉ không có hình thể mà còn không có nguyên khí. Sinh tử của con người cũng giống như sự luân chuyển của bốn mùa xuân hạ thu đông vậy, bà ấy đã an nghỉ giữa đại tự nhiên rồi, tôi cớ sao còn phải khóc lóc? Giờ đây mỗi khi nghĩ đến Trang Tử, tôi đều liên tưởng đến hai câu nói, một là câu Heidegger nói: "Con người, thi vị cư ngụ", còn một là tên một bài hát - "Thời đại áo trắng bay bay", đều là một trạng thái sinh mệnh tươi đẹp: lạc quan, tiêu dao.
Hà Lâm: Mấy năm trước trên mạng thịnh hành một trò chơi tư tưởng "Vì sao gà con qua đường", do cư dân mạng thay mặt các nhà tư tưởng đã khuất để đưa ra những câu trả lời mang tính cá nhân hóa. Ví dụ, Plato sẽ nói "Để tìm kiếm cái thiện cao hơn", Darwin sẽ nói "Để tìm kiếm tọa độ tiến hóa tốt hơn", câu trả lời của Napoleon là "Gà con không muốn qua đường không phải là gà tốt", Khổng Tử từ chối trả lời, nói rằng "Không biết người, sao biết gà". Đối mặt với sự bối rối "Vì sao gà con qua đường", tôi nghĩ Trang Tử nhất định sẽ hủy bỏ câu hỏi, gõ chậu hát ca: "Con gà đó thật hạnh phúc nha."
Vương An An: Nhưng Trang Tử có thực sự hạnh phúc không? Khi ông đang câu cá ở Bộc Thủy, nước Sở muốn trọng dụng ông, phái người đến mời. Trang Tử nói: "Nước Sở có con thần quy được đem đi tế lễ, nó thà chết để hưởng cái danh tiếng cao quý được tế lễ, hay là muốn sống mà bơi lội trong bùn lầy?" Người đến nói tất nhiên là sống thì hạnh phúc hơn. Trang Tử nói: "Ta vẫn cứ câu cá tự do tự tại." Trang Tử thà chọn làm con rùa mang trên lưng lớp mai, sống trong vũng bùn, nhưng tôi cứ thấy điều này biểu lộ một nỗi đau khổ của ông, đây là cảm giác cô độc, tịch mịch của Trang Tử với tư cách là một nhà triết học. Ông không có một người đồng thời nào có thể thực sự đối thoại, trong thời đại chiến quốc phân tranh, cái gọi là hạnh phúc của ông chẳng qua chỉ là tự an ủi mà thôi. Ai mà biết được bên dưới lớp mai cứng cáp của ông là một trái tim mềm yếu như thế nào chứ?
Dư Thu Vũ: Câu hỏi An An đưa ra rất sâu sắc. Tuy nhiên, Trang Tử rốt cuộc vẫn là Trang Tử, sâu sắc hơn An An nhiều. Đối với ông, không tồn tại cái gọi là "hạnh phúc thật", "đau khổ thật" như cháu nói, thậm chí, cũng không có cái gọi là "cảm giác cô độc", "cảm giác tịch mịch". Mặc dù trong mắt chúng ta, ông tất nhiên là cô độc và tịch mịch, nhưng ông đối với điều này đã không còn "cảm" nữa rồi. Đối với tự do và không tự do, bẩn thỉu và sạch sẽ, trong mắt ông cũng là tương đối. Đối với sự cứng rắn của lớp mai và sự mềm yếu của nội tâm, ông cũng sẽ có một cách nhìn khác, ví dụ, ông sẽ cho rằng, khi lớp mai mềm yếu thì nội tâm mới cứng rắn, nhưng lớp mai mềm yếu và nội tâm cứng rắn cũng giống nhau, đều là không có ý nghĩa, là phủ định sự tồn tại của bản thân.
Kim Tử: Nghe thầy Thu Vũ nói một hồi, quả thực đã hiểu được tính sâu sắc độc đáo của Trang Tử. Đây quả thực là một nhà triết học lỗi lạc. Câu hỏi của cháu là: Một nhà triết học như vậy, đối với quản lý xã hội thì có ý nghĩa gì? Theo quan điểm của Nho gia, chỉ có làm quan mới có thể thực hiện quản lý xã hội tốt đẹp. Trang Tử không muốn làm quan, nhưng ngoài việc làm quan và tự do cá nhân, liệu có một không gian nào khác, có thể cho người dân một nơi nghỉ ngơi tốt hơn không?
Dư Thu Vũ: Trang Tử không quan tâm đến quản lý xã hội, chỉ quan tâm đến quản lý tinh thần. Thực ra ông cũng chẳng muốn quản lý tinh thần, chỉ là khách quan mà nói nó có thể phát huy tác dụng này. Chúng ta có lẽ chịu ảnh hưởng của Nho gia, Pháp gia quá sâu, quen với việc truy vấn chức năng chính trị của mỗi loại văn hóa. Thực ra, văn hóa có chức năng lớn hơn, cao hơn cả chính trị. Nếu cứ khăng khăng nói về quản lý xã hội, triết học của Lão Tử, Trang Tử cũng có thể cung cấp một loại quản lý giản lược gần với "vô vi nhi trị", điều này trong những giai đoạn lịch sử cần nghỉ ngơi dưỡng sức cũng rất quan trọng. Ví dụ như thời kỳ Văn Cảnh chi trị đầu đời Hán chính là như vậy, các lý niệm chính trị được ghi chép trong sách lụa mộ Hán Mã Vương Đôi, như "Trọng nhu giả cát, trọng cương giả diệt", "Chí chính giả tĩnh, chí tĩnh giả thánh", v.v., rất gần với triết học Lão Trang. Vương thất triều Đường cũng có những lý niệm tương tự. Từ đó có thể thấy, ngay cả việc xây dựng nền văn minh Hán Đường vĩ đại cũng không hoàn toàn xuất phát từ tư tưởng Nho gia và Pháp gia. Tóm lại, triết học Lão Trang muốn đưa nhân thế trở về trạng thái nguyên sơ, kết quả lại vượt xa các phương thức quản lý khác.
Tùng Trị Thần: Em cũng cảm thấy triết học của Trang Tử không nằm ở quản lý, phần lớn là vì nó hướng vào nội tại, không oán trời trách người, không tìm nguyên nhân từ bên ngoài, mà là thảo luận xem làm thế nào để đột phá từ chính mình. Lấy một ví dụ đơn giản, giả sử Trang Tử bây giờ đang yêu, Trang Tử sẽ không tìm một môi trường đặc biệt lãng mạn, ông ấy sẽ điều chỉnh tâm thái của chính mình, nảy sinh trong lòng một loại tình điệu vô cùng lãng mạn.
Dư Thu Vũ: Ví dụ này em đưa ra không đặc sắc lắm, nhưng thầy đánh giá cao việc em dùng khái niệm "tình điệu" khi nói về Trang Tử. Nghĩa là, điều ông thực sự để tâm không phải là trật tự cấu trúc xã hội, mà là tình điệu thi vị hóa của sinh mệnh. Trang Tử có mối liên hệ nguồn cội với Lão Tử, nhưng lại chú trọng đến tình điệu thi vị hóa hơn Lão Tử. Đặc tính này khiến ông trở thành người có tính văn học nhất trong chư tử bách gia. Tình điệu thi vị hóa và tố chất văn học của Trang Tử chủ yếu biểu hiện ở hai phương diện, một là trí tưởng tượng, hai là ngụ ngôn hóa. Hơn nữa, ông đã đạt đến mức cực hạn ở cả hai phương diện này. Trang Tử đều biểu hiện sự thoát ly khỏi cái chân thực thông thường, thoát ly khỏi kết luận trực tiếp trong trí tưởng tượng và ngụ ngôn hóa, vì thế là điều mà các học phái khác không dám dùng, bởi các học phái khác khó tránh khỏi việc phải thuyết phục người khác dựa trên "tính khả tín", "tính chân thực". Trang Tử không có ý đồ này, trái lại còn rút lui từ giảng đường lý tính đông đúc ra về với hoa viên cảm tính, phóng túng cảm tính của bản thân để khơi gợi cảm tính của người khác. Mọi người có lẽ sẽ hiểu lầm, cho rằng lý tính sâu sắc hơn cảm tính, nhưng Trang Tử lại dễ dàng chứng minh rằng, mảnh đất cứu rỗi cuối cùng của lý tính vẫn là cảm tính. Trí tưởng tượng khiến Trang Tử ngao du Nam Minh Bắc Hải, lại tự hình dung mình là lực lượng vô hạn giữa vũ trụ vừa giống người lại vừa không giống người, điều này khiến trí tuệ của ông đạt được hình thái văn học đích thực. Hãy nhớ kỹ, rời xa trí tưởng tượng to lớn dựa trên cảm tính tự do, thì cũng không tồn tại văn học theo nghĩa đích thực. Thể ngưng tụ của trí tưởng tượng chính là ngụ ngôn hóa. Thầy đã nhiều lần luận chứng, điểm khởi đầu và điểm kết thúc của văn học đều là ngụ ngôn. Ngụ ngôn của Trang Tử khác với ngụ ngôn trong truyện cổ tích thông thường, vừa mới bắt đầu đã biểu hiện một quy mô triết học ngửa mặt nhìn trời, cúi đầu nhìn đất. Nhưng quy mô này rốt cuộc vẫn được chống đỡ bởi cảm tính tự do và trí tưởng tượng, vì thế về bản chất vẫn là văn học, hay nói cách khác là một loại văn học triết học hóa. Cấu trúc cơ bản của ngụ ngôn hóa là ẩn dụ tượng trưng. A không chỉ là A, mà là B cộng C cộng D, E, F, G... cho đến vô hạn. Chính chức năng thông đạt từ hữu hạn đến vô hạn này đã khiến văn học và triết học đạt được sự tôn nghiêm về tư duy và sự tôn nghiêm về thẩm mỹ. Những lời này của thầy các em nghe có vẻ hơi lạ lẫm, vì thầy đã bước vào một lĩnh vực tư tưởng độc lập khác là lĩnh vực mỹ học. Việc này cần thời gian sau dành ra thảo luận chuyên sâu, hôm nay chỉ dừng lại ở đây. Tiếp theo thầy hy vọng mọi người hãy hồi tưởng lại ngụ ngôn của Trang Tử mà mình ấn tượng sâu sắc nhất, cũng coi như là một cách ôn tập, trong quá trình kể lại, hãy cảm nhận sức hấp dẫn đa phương diện của Trang Tử.
Vương Mục Địch: Trang Tử hình như rất thích mượn hình ảnh "chim" trong ngụ ngôn. Ví dụ ông từng kể, có một con chim biển đậu bên bờ biển nước Lỗ, Lỗ Hầu liền mời con chim này về thái miếu, cho nó uống loại rượu ngon nhất, nghe thứ âm nhạc hay nhất, ăn miếng thịt ngon nhất. Thế nhưng con chim này vô cùng sợ hãi, không ăn không uống, ba ngày sau liền chết. Đây là một lời kể liên quan đến "tự nhiên", tất cả những sự nhân tạo và tăng cường cố ý đều trái với "tự nhiên", cũng trái với trạng thái sinh mệnh thi vị, tự do mà Trang Tử đã phô diễn.
Vương An An: Em nghĩ đến ngụ ngôn "Biền mẫu", kể rằng bàn tay người bình thường chỉ có năm ngón, một người nếu tham lam, hy vọng mọc thêm một ngón nữa, thì điều này không phù hợp với trạng thái tự nhiên, cũng hoàn toàn vô dụng. Liên tưởng đến sau này trong lịch sử Trung Quốc, Từ Hi mỗi bữa ăn phải ăn hơn một trăm món, nhưng không có món nào thực sự mang lại niềm vui cho bà ta. Sự dư thừa nhân tạo, trái với đạo tự nhiên, đây là điều bị Trang Tử thống trách. Ông dùng ẩn dụ "Biền mẫu" để phê phán hành vi cố ý theo đuổi "Nhân Nghĩa" của Nho gia, cũng là một thứ trái với tự nhiên và hoàn toàn vô dụng.
Kim Tử: Trong "Trang Tử - Tề vật luận" có một câu chuyện về người nuôi khỉ. Có một năm lương thực mất mùa, người nuôi khỉ liền bảo với lũ khỉ rằng, bây giờ buổi sáng cho mỗi con khỉ ba hạt dẻ, buổi tối ăn bốn hạt. Lũ khỉ nghe xong - không được không được, sao buổi sáng lại ít hơn buổi tối chứ! Người nuôi khỉ bèn nói, vậy được rồi, buổi sáng ăn bốn hạt, buổi tối ăn ba hạt. Lũ khỉ nghe xong liền vô cùng vui vẻ. Trang Tử thông qua câu chuyện này nói với mọi người rằng, thực tế nhiều thứ trên đời, nhìn từ nhiều góc độ, không có sự khác biệt về chất. Câu chuyện này chính là nguồn gốc của thành ngữ "triều tam mộ tứ", nhưng sau này hình như bị dùng nhầm với "triều Tần mộ Sở".
Hà Lâm: Còn có một ngụ ngôn "Đạo diệc hữu đạo" (Đạo tặc cũng có đạo). Có một tên đại đạo gọi là Chích, thuộc hạ hỏi ông ta, làm đại đạo thì có bí quyết gì. Đạo Chích nói trong này bí quyết lớn lắm: ở ngoài nhà mà biết được trong nhà có bao nhiêu tài sản, đó là Thánh; xông vào cướp đoạt đầu tiên, đó là Dũng; rời đi cuối cùng, đó là Nghĩa; phán đoán có vào được hay không đó là Trí; phân chia đều đặn đó là Nhân. Năm điều này không đầy đủ thì không thể trở thành đại đạo.
Dư Thu Vũ: "Đạo diệc hữu đạo" mà Trang Tử nói, khác rất nhiều so với ý nghĩa của thành ngữ này khi chúng ta sử dụng sau này. Ông đã hoàn thành một cách đầy hài hước việc "giải cấu" hệ thống đạo đức Nho gia: Những mệnh đề mà các nhà đạo đức học thích dùng nhất, đem dùng trên nhân vật tiêu cực cũng hoàn toàn phù hợp. Các em xem, đối với kẻ cướp cũng có thể khoác lên hào quang của ngũ đức - Thánh, Dũng, Nghĩa, Trí, Nhân, nhưng gốc rễ toàn bộ hệ thống của nó lại là trộm cướp. Cách thức giải cấu này không phải là phủ định ranh giới đúng sai cơ bản trong xã hội, mà chỉ là giễu cợt những ý đồ gán ghép thái quá cho xã hội mà thôi. Tất cả những hành vi và khẩu hiệu trái với tự nhiên, lập tức có thể đi đến mặt đối lập của chính chúng. Từ đây làm thầy nhớ đến "phê bình văn nghệ" của nhiều nhà phê bình hiện nay, điều điều quy tắc, ví dụ như "động tĩnh kết hợp", "hữu hư hữu thực", "phụng đầu hổ vĩ", "khởi thừa chuyển hợp" loại hình như vậy, đặt vào bất kỳ tác phẩm thất bại thảm hại nào cũng hoàn toàn phù hợp.
Tùng Trị Thần: Em còn nhớ có một câu chuyện, nói rằng Trang Tử đi nước Sở, trên đường nhìn thấy một cái đầu lâu, ông liền dùng roi ngựa gõ gõ, hỏi cái đầu lâu đó rằng: "Ngươi có phải không may gặp phải tai họa gì mà chết không, là chiến tử, tự sát chết, hay là già chết?" Nói xong liền gối đầu lên cái đầu lâu mà ngủ thiếp đi. Trong mơ cái đầu lâu đó nói với Trang Tử: "Những tai họa ngươi hỏi ta đều là sự lụy phiền của người sống, người chết không có những ưu tư này. Để ta kể cho ngươi tình hình của người chết nhé, không giấu gì ngươi, ta bây giờ cảm thấy rất vui. Ngươi xem ngươi suốt ngày chiêu đãi cấp trên cấp dưới, không ăn thì ngươi đói, không mặc quần áo lại lạnh, ngươi thực sự rất vất vả, làm sao hạnh phúc bằng ta. Ta căn bản không có những phiền não này." Trang Tử nói: "Vậy ta muốn để thần linh làm cho ngươi cải tử hoàn sinh, để ngươi cùng cha mẹ, vợ con, hàng xóm láng giềng sống qua ngày, ngươi có muốn không?" Cái đầu lâu ủ rũ nói: "Thú thật là ta đúng là không muốn đâu. Ta hà tất phải từ bỏ niềm vui hiện tại để gánh vác gánh nặng phiền não chốn nhân gian?" Trang Tử trong câu chuyện này đã diệt trừ sự chấp niệm về sinh tử. Cái chết không hề đáng sợ, cái chết sẽ kết thúc mọi nỗi sợ hãi, không có cái gọi là vui hay buồn. Em cảm thấy quan niệm sinh tử này cũng là một yếu tố rất quan trọng trong triết học Trang Tử.
Dư Thu Vũ: Ngụ ngôn xuất sắc luôn cung cấp cho con người một góc nhìn mới, mang lại sự giải thoát tinh thần to lớn cho mọi người. Việc các em tranh nhau kể lại cũng khơi gợi cảm hứng cho thầy, bài có ý nghĩa khai sáng đối với thầy khi còn trẻ là "Thu Thủy". Tên thiên này có chút liên quan đến tên của thầy, nên cảm thấy đặc biệt thân thiết, thầy đã tranh thủ đọc trước. Đọc xong, tầm mắt mở rộng hẳn. Các em xem Hà Bá khí thế biết bao, bôn ba vạn dặm, cuồn cuộn mênh mông, nhìn từ góc độ của chính Hà Bá, "ta" dường như đã có đủ mọi thứ. Nhưng một khi chảy ra Bắc Hải, tình hình hoàn toàn thay đổi, "ta" chẳng lẽ chỉ là một dòng sông nhỏ bé như vậy thôi sao? Biển là một tồn tại khói sóng mịt mù, "ta" chỉ là hòa vào nó mà thôi, hơn nữa sau khi hòa vào thì hoàn toàn không thấy dấu vết. Thế là Hà Bá và Hải Thần có một cuộc đối thoại. Hà Bá cảm thấy những thứ quan trọng mình từng đinh ninh trước đây, giờ đây lại tỏ ra vô cùng không quan trọng. Hải Thần liền bảo ông ta, ông có thể bước ra khỏi không gian nhỏ bé như vậy để đến nơi lớn lao hơn, có được cảm giác như vậy là rất tốt, nhưng ông phải hiểu sự hạn hẹp của ta: Biển so với trời, thì lại quá nhỏ bé rồi. Sau từng lần so sánh, đi đến một kết luận, đó chính là bất kỳ phán đoán nào cũng là tương đối, tầng bậc mà chúng ta có thể cùng nhau đối thoại cũng là tương đối.
Trang Tử cho rằng, để đạt được tầm mắt này, rất khó khăn. Nhưng, vì là vấn đề tầm mắt, em cũng không thể cưỡng ép họ, chỉ có thể mặc kệ họ. Dùng tầm mắt của chính mình gán ép cho họ, lại là việc không tự nhiên. Ông nói: "Tỉnh oa bất khả ngữ ư hải giả, câu ư hư dã. Hạ trùng bất khả ngữ ư băng giả, đốc ư thời dã. Khúc sĩ bất khả ngữ ư đạo giả, thúc ư giáo dã." (Ếch đáy giếng không thể nói chuyện biển cả, vì bị không gian bó buộc. Côn trùng mùa hè không thể nói chuyện băng giá, vì bị thời gian bó buộc. Kẻ sĩ hẹp hòi không thể nói chuyện Đạo, vì bị giáo điều bó buộc). Ếch ngồi đáy giếng, em không có cách nào bàn về biển với nó, nó bị không gian trói buộc; côn trùng mùa hè, em không thể giảng về băng với nó, vì nó bị thời gian trói buộc; những văn nhân kiến thức nông cạn kia, không cách nào giảng cho hắn đạo lý lớn lao thực sự, hắn bị một đống ngôn ngữ giáo học nhận từ nhỏ trói buộc rồi. Theo cách nói của Trang Tử, mọi người đều đang tự làm khổ mình, khiến không gian và thời gian của mình càng ngày càng nhỏ hẹp. Những người như vậy nhiều như thế, Trang Tử bất lực nói, không cần phải nói chuyện với họ. Nhưng chúng ta hãy thử hình dung, nếu đổi thành Khổng Tử và Mặc Tử, tình hình sẽ khác ngay. Họ nhất định phải nói, hơn nữa còn dùng đủ mọi phương pháp để cảm hóa em. Trang Tử cảm thấy hoàn toàn không thể giảng giải cho rõ ràng, em có thể hủy bỏ sự trói buộc của không gian, trói buộc của thời gian, trói buộc của giáo dục không? Không hủy bỏ được, thì nói nữa cũng vô ích.
Đã như vậy, tại sao còn có "Trang Tử"? Đó là những ghi chép về bản thân khi ông đạt được sự tự do tinh thần, cũng là muốn để một số ít người đồng đạo đạt được sự gợi mở và đồng cảm, chỉ đơn giản vậy thôi. Thầy cho rằng, trạng thái bất lực này, lại là một tâm thái văn học tương đối bình thường. Trong giới nhà văn hiện nay, những người cứ chốc lát muốn kích động thiên hạ, chốc lát lại oán trách quần chúng không thèm để ý đến mình, tâm lý cuồng táo như vậy, khác xa với tâm thái văn học bình thường. Cuối cùng, thầy muốn nói ngắn gọn về địa vị đặc biệt của Trang Tử trong mỹ học phương Đông. Ông đề xướng cảnh giới "vật ngã lưỡng vong" (quên cả vật lẫn ta), là cống hiến to lớn của mỹ học phương Đông đối với mỹ học thế giới. Những cái gọi là "huyết lệ tiếu bút đoan" (máu lệ chấm đầu bút), "phẫn nộ xuất thi nhân" (phẫn nộ sinh ra nhà thơ) mà chúng ta từng quen miệng kể đến, tất nhiên cũng có sự hợp lý tồn tại của nó, nhưng về cảnh giới mỹ học thì đẳng cấp rất thấp, càng không phải là chủ thể của mỹ học phương Đông. Đọc nhiều Trang Tử, sẽ giúp chúng ta lĩnh hội nhiều hơn cảnh giới tối cao của mỹ học phương Đông. Ngoài ra, thầy còn phải giải thích rõ, trước đây có không ít học giả cho rằng "ngụ ngôn tượng trưng" là đặc trưng độc hữu của văn chương phái hiện đại phương Tây, đó là một cách nói phiến diện, Trang Tử đã đưa ra sự phủ định đối với điều này. Cuốn "Nghệ thuật sáng tạo luận" mà thầy viết hơn hai mươi năm trước đã chỉ ra, các tác phẩm văn nghệ hạng nhất của thế giới hiện đại, hơn hai phần ba đều là cấu trúc ngụ ngôn, mà trong thời cổ đại, người sớm nhất tiến nhập vào cấu trúc ngụ ngôn này và lập tức hiển hiện phong thái thành thục, chính là Trang Tử của Trung Quốc.