Hỏi Đáp Về Học Thuật – Dư Thu Vũ Trò Chuyện Văn Hóa Trung Hoa Cùng Sinh Viên Đại học Bắc Kinh

Lượt đọc: 137 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bài 21: Khởi điểm của "Nhị thập tứ sử"

❊ ❊ ❊

Dư Thu Vũ: Từ hôm nay trở đi, tôi muốn dành nhiều thời gian hơn để cùng mọi người thảo luận về một nhân vật quan trọng khác trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, đó chính là Tư Mã Thiên. Ông không chỉ là một nhà sử học kiệt xuất, mà còn là người đã thay đổi tất cả chúng ta, những người Trung Quốc. Chính ông đã khiến mỗi người Trung Quốc đều trở thành "người trong lịch sử".

Trung Quốc có một bộ "Nhị thập tứ sử" hoàn chỉnh, trước đây từng được đặt tập trung trong những chiếc tủ sách chuyên dụng bằng gỗ đàn hương, vừa khí thế vừa đường hoàng. Bộ sử sách đồ sộ này ghi chép về những triều đại khác nhau, do những người biên soạn khác nhau thực hiện, nhưng lại có cùng một thể chế. Người thiết kế nên thể chế này chính là Tư Mã Thiên. Do đó, chúng ta cũng có thể xem ông như tổng biên tập của "Nhị thập tứ sử".

Với ông làm khởi điểm, lịch sử Trung Quốc dài đằng đẵng đã có những dấu chân rõ ràng và dày đặc. Nền văn minh cổ xưa duy nhất của nhân loại không bị tiêu diệt và đứt đoạn này, cũng đã có được minh chứng hùng hồn. Tuy nhiên, đúng lúc chúng ta đang hết lần này đến lần khác vui mừng khôn xiết trước sự huy hoàng thiên niên kỷ này, thì sẽ đột nhiên trở nên tĩnh lặng, như bị nước lạnh mùa thu tạt vào người, khiến chúng ta tỉnh táo lại, bởi vì chúng ta đã nhìn thấy bóng dáng của tổng biên tập toàn bộ lịch sử đó, đó là một người đàn ông với sắc mặt tái nhợt, thân thể suy nhược.

Ông đã dùng sinh mệnh tàn khuyết của mình để đổi lấy một lịch sử trọn vẹn cho dân tộc; ông đã dùng những nỗi oan ức khó nói của mình để đổi lấy ký ức hùng vĩ cho hàng triệu người dân; ông đã dùng nỗi sỉ nhục không tên của mình để đổi lấy sự tôn nghiêm vô giá cho văn hóa Hoa Hạ.

Bộ "Sử ký" của Tư Mã Thiên được viết trong mười mấy năm, nếu tính thêm cả thời gian sửa chữa thì có lẽ là hai mươi năm. Cha ông là một Thái sử lệnh, đã bắt đầu làm những việc này, sau đó Tư Mã Thiên kế thừa sự nghiệp của cha. Ông bắt đầu đi khảo sát từ năm hai mươi tuổi, đã đi qua rất nhiều, rất nhiều con đường, và ngay lúc ông chuẩn bị viết lại từng kết quả khảo sát và suy ngẫm đó, thì đột nhiên gặp phải một tai họa lớn trong đời.

Tai họa này khiến chúng ta, những người hậu thế, nghe mà vô cùng đau xót. Nhưng, khác với mô thức thông thường, người tạo ra tai họa này không phải là một kẻ tiểu nhân bỉ ổi hay một hôn quân độc ác, mà là một nhân vật vĩ đại khác, đó chính là Hán Vũ Đế.

Xin hãy lưu ý, trong lịch sử, người làm tổn thương vĩ nhân không nhất định là kẻ ác, kẻ tiểu nhân, mà rất có thể cũng là vĩ nhân. Đây là sự va chạm giữa những tảng đá khổng lồ, là cuộc gặp gỡ giữa sóng dữ và đại dương, khiến chúng ta sững sờ trong giây phút kinh tâm động phách. Hán Vũ Đế không nghi ngờ gì đã mở ra một thời đại quan trọng, đến mức người Trung Quốc ngày nay mỗi khi nghĩ đến ông vẫn còn cảm thấy tinh thần phấn chấn. Hán Vũ Đế lên ngôi từ khi còn rất trẻ, ông không thể chịu đựng được việc các vị hoàng đế tiền bối chỉ có thể dùng cách đưa những người con gái của dân tộc Hán, với thân phận công chúa đi hòa thân với Hung Nô để đổi lấy hòa bình cho vùng biên cương phía Bắc. Ông cảm thấy đối với một dân tộc mà nói, điều này thật nhục nhã, và trên thực tế, hòa bình như vậy cũng rất mong manh. Ông muốn dùng vũ lực để hỏi rằng: rốt cuộc chúng ta còn có sức mạnh nào khác hay không? Vì vậy, ông bắt đầu không ngừng đánh trận, tại vị năm mươi bốn năm, thì đánh trận gần như suốt năm mươi năm.

Dưới cái nhìn hiện nay, Hán Vũ Đế thực sự đã làm được một việc trọng đại trong lịch sử văn minh nhân loại. Mọi nền văn minh lớn của nhân loại đều sẽ gặp phải sự bao vây của các thế lực man di. Những kẻ thắng cuộc cuối cùng, phần lớn lại là sự man di. Vì vậy, một nền văn minh lớn thực sự phải chọn những biện pháp phòng thủ hiệu quả nhất. Thế lực man di lớn nhất mà văn minh Trung Hoa khi đó gặp phải chính là Hung Nô. Đối với Hung Nô, cách đối phó của Tần Thủy Hoàng là xây Vạn Lý Trường Thành, cách đối phó của Hán Vũ Đế là chiến tranh. Nếu không, một khi Hung Nô nhập chủ Trung Nguyên, rất có thể sẽ là sự tan rã của nền văn minh. Sau này, Hung Nô bị văn minh Trung Hoa đuổi sang phương Tây, sự diệt vong của đế quốc Tây La Mã vĩ đại có liên quan đến họ. Bạn xem, văn minh La Mã, cùng với văn minh Hy Lạp, đã diệt vong từ đó. Vì vậy, công lao của Hán Vũ Đế là không thể phủ nhận.

Đó là một thời đại anh hùng, khai cương mở cõi, bình định biên cương, khúc khải hoàn và bi ca đan xen, sự sắc bén và gai góc cùng hiện hữu. Logic của thời đại anh hùng không giống với thời đại bình thường, bi kịch của Tư Mã Thiên cũng chính là bi kịch của thời đại anh hùng.

Đối với tình tiết cụ thể trong bi kịch của Tư Mã Thiên, tôi nghĩ mọi người đều đã biết, tôi cũng đã từng luận thuật một cách hệ thống trong "Mẫu bản của lịch sử", hôm nay tôi sẽ không nhắc lại ở đây nữa. Tôi chỉ muốn nói một chút về đánh giá tổng thể của tôi đối với Tư Mã Thiên — chính "người chịu hình phạt" ngày đêm vùi đầu dưới ánh đèn dầu này đã quy định ý thức lịch sử, trách nhiệm lịch sử và quy phạm lịch sử mấy ngàn năm của người Trung Quốc. Ông đã khiến tất cả chúng ta đều sở hữu một gia phả chung.

Vương An An: Tôi nghe được một quan điểm nói rằng, người Trung Quốc không có tín ngưỡng tôn giáo, "lịch sử" chính là tín ngưỡng của họ, người Trung Quốc theo đuổi sự "bất hủ" dựa vào việc "lưu danh sử xanh", và điều tránh né là "mang tiếng xấu muôn đời".

Dư Thu Vũ: Tôi rất thích quan điểm này. Không phải "lịch sử của tôn giáo", mà là "tôn giáo của lịch sử". Lịch sử được nhân cách hóa thành một sinh mệnh, có thể nhìn thấy tất cả, phán xét tất cả, thưởng phạt tất cả. Lịch sử này mang sức mạnh nhân cách của á-tôn giáo. Không sai, ở Trung Quốc, lịch sử không quá theo đuổi sự chân thực, mà theo đuổi một loại quyền lực phán xét và bị phán xét.

Dù là đế vương tướng lĩnh, hay hiệp khách du sĩ, văn nhân mặc khách, khi họ làm bất cứ việc lớn nào, đều cảm thấy phía sau đầu mình có một cây sử bút khổng lồ đang ghi lại tất cả những gì họ làm. Cây sử bút này ở một mức độ nhất định đã kiểm soát lịch sử, xét từ khía cạnh tích cực, cây sử bút này đã truyền tải một ranh giới cơ bản về công lý giữa nhân gian.

Tôi muốn đặt một câu hỏi cho mọi người. Cũng có người nói rằng, trước thời Tư Mã Thiên, "Xuân Thu" và "Thượng Thư" thực ra đều đã khai mở truyền thống biên soạn sử, vậy thì trong truyền thống này, Tư Mã Thiên rốt cuộc có địa vị đặc biệt gì? Ông có ý nghĩa đặc biệt gì đối với sự phát triển và xu hướng của toàn bộ lịch sử Trung Quốc sau này, trong đó có ý nghĩa tiêu cực nào không?

Vương Mục Địch: Tôi cảm thấy địa vị đặc biệt của Tư Mã Thiên nằm ở chỗ ông là người khởi xướng thể tài sử học. Trước ông, Khổng Tử đã phú cho lịch sử một chức năng, đó là "dùng sử nói chí", ví dụ như ông viết "Xuân Thu" là để lồng ghép chí hướng và lý niệm của chính mình vào trong ghi chép lịch sử, phân biệt thiện, ác, khen, chê, phán đoán đúng sai. Tư Mã Thiên đã quy chuẩn hóa sự theo đuổi chức năng của Khổng Tử thành một thể tài mang tính cấu trúc.

Vương An An: Ngoài một thể tài mang tính cấu trúc ra, "Sử ký" còn sáng tạo ra nhiều nhân vật "nguyên mẫu", ví dụ chúng ta sẽ nói ai là "nhân vật kiểu Hạng Vũ", "nhân vật kiểu Lưu Bang". Đây là một đóng góp rất lớn, phương thức viết sử lấy nhân vật làm cốt lõi đã có ảnh hưởng sâu rộng. Hiện nay nhiều sự kiện lịch sử chúng ta có thể không nhớ rõ, nhưng những nhân vật đó lại lưu lại trong ký ức văn hóa của chúng ta.

Dư Thu Vũ: Cả hai bạn đều nói rất đúng. "Xuân Thu", bao gồm cả "Thượng Thư", đã cung cấp một "lý niệm sử học" theo cách ghi chép các sự kiện lớn, nhưng sau "lý niệm sử học" còn phải sáng tạo ra một "mô thức sử học" có thể kéo dài bền lâu. Mô thức này, được Tư Mã Thiên sáng tạo ra. Lý niệm giống như những đám mây trôi nổi, bạn có thể ngước nhìn vẻ rực rỡ của nó, nhưng để kế thừa trọn vẹn theo một bố cục và trình tự nhất định, thì phải có mô thức. Không chỉ sử học như vậy, mọi mô thức chính trị, mô thức thương mại xưa nay đều như vậy. Nếu mô thức sử học không được tạo ra, thế hệ này viết theo cách này, thế hệ kia viết theo cách kia, trên dưới thiếu tính so sánh, thì sẽ không tạo thành được khí mạch lịch sử. Khí mạch tan rã, lịch sử văn bản và lịch sử chân thực đều sẽ mất đi linh hồn. Các nền văn minh cổ đại khác trên thế giới thường xuất hiện căn bệnh này, có một đoạn lịch sử có ghi chép, một đoạn lịch sử là truyền thuyết, một đoạn lịch sử là khoảng trống. So sánh mà nói, mô thức sử học của Trung Quốc thực sự phi phàm, điều này trước hết phải kể đến công lao của Tư Mã Thiên.

Đồng thời, dù là lý niệm hay mô thức, nó đều nên được chấp nhận rộng rãi. Nó cần phải dễ đọc, cần tạo ra hiệu ứng chấp nhận mạnh mẽ trong lòng người, và phạm vi chấp nhận phải vượt ra ngoài giới sử học, vượt ra ngoài tầng lớp tinh anh thiểu số. Đó là vì, lịch sử liên quan đến mỗi người, đây là điểm khác biệt của nó với triết học, nghệ thuật, khoa học. Đúng như An An đã nói, "Sử ký" của Tư Mã Thiên thông qua cách sáng tạo nhân vật "nguyên mẫu" đã khiến lịch sử có được tính hình tượng sinh động, thế hệ nào cũng muốn đọc, nhờ đó mô thức có tính kéo dài về thời gian.

Cừu Tiểu Ngọc: Thầy Thu Vũ, chúng ta thường nói lịch sử là công bằng khách quan, nhưng chúng ta cũng thấy rõ lập trường cá nhân của Tư Mã Thiên, hay nói cách khác, tư thế và sự phán đoán giá trị của chính ông được thể hiện mạnh mẽ trong "Sử ký", đây có tính là khách quan không? Nên nhìn nhận điểm này như thế nào ạ? Ví dụ, viết đến "Hạng Vũ bị vây ở Cai Hạ", Hạng Vũ anh hùng cuối đường, cất tiếng hát "Lực bạt sơn hề khí cái thế", chia tay với Ngu Cơ yêu dấu, những tráng sĩ cuối cùng cũng hy sinh trong trận chiến này. Vậy, ai là người chứng kiến hàng loạt biểu hiện đầy kịch tính trước khi lâm chung của Hạng Vũ? Tư Mã Thiên không cho chúng ta biết nguồn gốc của tư liệu này, nhưng đã viết nó vào trong "Sử ký", và chúng ta cũng coi nó như một sự thật mà chấp nhận. Truyền thống này tiếp nối vào việc viết sử Trung Quốc sau này có ảnh hưởng như thế nào ạ?

Dư Thu Vũ: Bạn đã chạm đến một vấn đề học thuật trọng đại, liên quan đến sự khác biệt giữa sử học cận đại phương Tây và sử học cổ điển Trung Quốc. Vì vậy, tôi muốn nói vài lời cho sử học cổ điển Trung Quốc.

Thứ nhất, cho đến bây giờ, không có nhà sử học phương Tây nào dám đảm bảo cách diễn đạt lịch sử của mình là khách quan tuyệt đối, mặc dù họ thường xuyên thể hiện mình dưới diện mạo khách quan tuyệt đối.

Tư liệu lịch sử bao la vô tận, và luôn có thể được khai quật. Chúng ta hãy thử tưởng tượng xem, vài người bạn cùng gia đình đi chơi xa, khi trở về hồi ức của mọi người đã rất khác nhau, nếu qua nửa năm nữa, ấn tượng của mỗi người lại càng muôn hình vạn trạng hơn. Đây chỉ là một chuyến dã ngoại nhỏ ít người. Nếu là một sự kiện lớn có nhiều kiểu người tham gia, lợi ích đôi bên đều có xung đột, quan điểm mỗi người khác nhau, những gì nhìn thấy và nghe thấy cũng có góc độ khác nhau, mọi người trong khi ghi chép đều chứa đựng rất nhiều sự kiêng dè và phóng đại, lại thiếu cơ chế đối chứng và phản biện tại chỗ, thời gian lâu dần, cái gọi là lịch sử "khách quan" gần như không thể bàn đến. Điểm này, sử học mới của Pháp thế kỷ 20 đã chỉ ra một cách sắc bén, về sau họ chỉ tin vào "lịch sử trong lòng", hay nói cách khác, chỉ tin vào sự chiếu rọi riêng biệt của lịch sử trong tâm lý tập thể. Điều này có nghĩa là, rất nhiều lịch sử trước đây trông có vẻ "xác thực không nghi ngờ", thực ra đều có lập trường chủ quan rõ ràng, chỉ là trong phương Tây hiện đại, tất cả đều bị che đậy bởi hình thái khách quan của chủ nghĩa khoa học. Tư Mã Thiên rất trung thực thể hiện lập trường của mình, điều này so với ý chí quan trường thịnh hành lúc bấy giờ, đã là tương đối khách quan rồi. Ông đã viết vào đó những nhóm người mà quan trường không thích cũng không quan tâm, ví dụ như những anh hùng thất bại, những hiệp khách cô độc, và các loại "nhân vật bên lề" khác, cho chúng ta thấy được thế giới bên ngoài lập trường của quan trường.

Thứ hai, Tư Mã Thiên làm sao biết được cảnh cụ thể khi Hạng Vũ hát, Ngu Cơ tự sát? Tư Mã Thiên thực ra đã từng khảo sát không ít, không chỉ có tư liệu văn bản để lại lúc bấy giờ, mà còn bao gồm cả lượng lớn truyền ngôn, ông còn đích thân đến những nơi đó. Tuy nhiên, ông không giống các nhà sử học đương đại, phải dùng lượng lớn chú thích để chứng minh nguồn gốc tư liệu, Trung Quốc từ trước đến nay không có truyền thống này. Nếu Tư Mã Thiên còn sống, bạn hỏi ông, ông sẽ cho bạn biết lúc đó dựa vào sự đối chiếu tập trung của bao nhiêu tư liệu mới đưa ra lựa chọn cuối cùng, nhưng ông không có cơ hội giải thích tất cả những điều này, cũng không biết hai ngàn năm sau còn có một số luận án tiến sĩ của các trường phái phương Tây bắt buộc phải dùng chú thích để chứng minh nguồn gốc của từng quan điểm.

Vì vậy, sử học của Tư Mã Thiên là một loại "sử học văn học hóa", chứ không phải là "sử học khoa học hóa". Đây cũng là một đặc trưng lớn của văn hóa Trung Quốc. Tuy nhiên, Tư Mã Thiên dù sao cũng đang viết sử, nên văn chương của ông cũng bị kiểm soát nghiêm ngặt. Ví dụ, viết đến chỗ truyền thuyết, ông sẽ khiến người đọc cảm nhận được đây là truyền thuyết, đôi bên đều hiểu ý mà không cần nói ra.

Sau mấy ngàn năm, độc giả trẻ của chúng ta mới nảy sinh những nghi vấn hợp lý đối với những truyền thuyết như vậy. Tư Mã Thiên thực ra không tiêu diệt những nghi vấn này, cũng không tiêu diệt những khả năng khác ngoài cách nói của mình, điều này đối với một nhà sử học cổ đại mà nói đã là không tệ rồi. Chúng ta hôm nay có thể bình phẩm được mất lợi hại của ông, mục đích là để chúng ta viết sử hôm nay, có thể dùng cách tốt hơn hoặc khoa học hơn. Nhưng, nhìn từ nghịch lý lịch sử vĩ mô hơn, sự lựa chọn của chúng ta hiện nay, liệu có thực sự tốt hơn Tư Mã Thiên? Thực ra chúng ta không có sự tự tin này.

Salina: Thầy Thu Vũ, thầy cho rằng quan niệm giá trị mà "Sử ký" thiết lập, có ảnh hưởng gì đến văn hóa "quan bản vị" (coi trọng làm quan) này của Trung Quốc, là thúc đẩy, hay có sự kiềm chế nào đó ạ?

Dư Thu Vũ: Tư duy cơ bản của Tư Mã Thiên quả thực là "quan bản vị". Thứ nhất, ông là một sử quan, chứ không phải "trí thức độc lập" theo nghĩa hiện đại; thứ hai, sống trong thời đại anh hùng, khiến ông ngưỡng mộ công nghiệp của Hán Vũ Đế từ tận đáy lòng, tự nhiên trở thành trục chính trong phán đoán giá trị của ông.

Mặc dù chúng ta không thể phàn nàn quá nhiều về Tư Mã Thiên trong vấn đề này, nhưng vẫn nên nhận thức được sự hạn chế nghiêm trọng của quan điểm lịch sử quan bản vị. Học giả đương đại quá lười biếng, chỉ biết theo quan điểm của Tư Mã Thiên từ hai ngàn năm trước để nhìn lịch sử mà không biết mở rộng, tất cả đều là ván cờ triều đình, cao thấp mưu quyền, sự nổi chìm của danh sĩ, trách nhiệm đã không còn nằm ở Tư Mã Thiên. Nhìn lịch sử Trung Quốc, bao gồm cả lịch sử Trung Quốc được viết ra ngày nay, các phương diện sinh thái xã hội rất ít ỏi, trạng thái tâm lý của quần chúng bình thường không để lại dấu vết, ngay cả viết về "Cách mạng Văn hóa" cũng luôn dừng lại ở việc thăng trầm chính trị, thắng thua phe phái bên trong "bức tường đỏ", mà hoàn toàn không liên quan đến cuộc sống thực sự của hàng trăm triệu dân chúng. Quan trường, quan trường, quan trường, chính trị, chính trị, chính trị, xu hướng này, e rằng ngay cả linh hồn của Tư Mã Thiên trên trời cao cũng sẽ phải lắc đầu liên tục.

[TÊN_MỚI]

薩琳娜 = Salina

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Dư Thu Vũ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.