Dư Thu Vũ: Đã bàn xong chuyện văn hóa thời Tống, chúng ta lại phải phủi bụi cho thời Nguyên. Đây là một triều đại ngắn ngủi, kéo dài tám mươi chín năm, nếu tính ngược lại từ lúc Thành Cát Tư Hãn thành lập Đại Mông Cổ Quốc thì cũng chỉ hơn trăm năm. Triều đại này từ trước đến nay thường bị coi là thời kỳ Trung Nguyên bị vó ngựa phương Bắc giày xéo, vì thế cũng là một thời đại tăm tối không thấy ánh mặt trời. Thế nhưng, tình hình thực sự có phải như vậy không?
Thực ra, thời Nguyên vẫn có không ít điểm sáng. Giống như khi lạc đường trong đêm tối, việc đầu tiên cần làm là tìm kiếm ánh sáng, chúng ta muốn thoát khỏi sự mê lạc trong lịch sử thì cũng chỉ có cách ngẩng đầu tìm kiếm những điểm sáng ấy. Vậy, trong tâm trí chúng ta, đâu là những điểm sáng và điểm tối của triều Nguyên?
Lữ Phàm: Nói về điểm sáng, trước hết phải kể đến Thành Cát Tư Hãn. Ông cùng hậu duệ đã tạo dựng nên đế quốc lớn nhất thế giới, phía Đông đến bán đảo Triều Tiên, phía Tây đến ven bờ sông Danube, phía Bắc đến phía nam Bắc Băng Dương, phía Nam đến tận Biển Đông và khu vực Đài Loan của chúng ta. Kẻ kiến tạo nên một đế quốc khổng lồ như vậy đương nhiên là một nhân tài kiệt xuất. Mà trong những cuộc chinh phạt với tiếng ngựa phi dồn dập, lửa khói mịt mù, Thành Cát Tư Hãn cùng những người kế vị đã dùng hơn năm mươi năm, với đội quân chưa đến bốn mươi vạn người, tiêu diệt hơn bốn mươi quốc gia, chinh phục bảy trăm hai mươi dân tộc. Dùng một câu đang rất thịnh hành hiện nay mà nói thì: một cuộc đời kiêu hãn không cần lý do.
Chu Song Song: Còn có những điểm sáng về phương diện khoa học kỹ thuật, ví dụ như nhà thiên văn học Quách Thủ Kính đã phát minh ra lịch pháp mới, được hậu thế gọi là "Thụ Thì Lịch", ông còn tính toán ra thời gian của một năm hồi quy, cũng khá là khoa học. Còn có Hoàng Đạo Bà, vì bị chồng ngược đãi nên đã bỏ nhà ra đi, sau đó được phụ nữ người Lê cưu mang, học được kỹ thuật dệt vải tiên tiến. Đến tuổi già, bà quay về quê hương dạy lại cho dân làng, phát minh ra một số công cụ dệt vải mới.
La Phác: Nhưng chính sách áp bức dân tộc của triều Nguyên rất khắc nghiệt, phân chia con người thành nhiều bậc. Bậc cao nhất là giai cấp thống trị, người Mông Cổ; bậc thứ hai gọi là người Sắc Mục, tức là những người có tên họ khác nhau ở vùng Tây Vực thời bấy giờ; người Hán bị chia thành hai bậc thấp kém, một gọi là Hán nhân, một gọi là Nam nhân (những người Hán trước đây dưới quyền cai trị của chính quyền Nam Tống), địa vị đều rất thấp. Hơn nữa, tuy triều Nguyên đã xây dựng được một đế quốc khổng lồ, nhưng không thể không nhắc đến sự tàn bạo về quân sự của người Mông Cổ. Một số thành trì có sự kháng cự quyết liệt với quân Nguyên sau khi bị chiếm đóng đều bị thảm sát cả thành, đây là một trang cực kỳ tàn bạo trong lịch sử nhân loại.
Dư Thu Vũ: Theo sách giáo khoa lịch sử truyền thống của chúng ta, giữa sự chuyển giao Tống - Nguyên có một số "tình tiết tất yếu", ví dụ như Lục Tú Phu cõng tiểu hoàng đế nhảy xuống biển. Tất nhiên đây là một mắt xích mang tính biểu tượng, đáng được nhắc đến, nhưng nhìn từ góc độ lịch sử thế giới vĩ mô hơn, thì "tình tiết đặc biệt" quan trọng hơn vào thời đó lại xảy ra ở cuộc bảo vệ thành Điếu Ngư, Hợp Xuyên. Cuộc bảo vệ xuất sắc này chính là phương lược do tiên tổ nhà tôi là tướng quân Dư Tải định ra, vì thế xin cho phép tôi nói thêm vài câu. Điều này không hoàn toàn xuất phát từ tư tâm, bởi cuộc bảo vệ thành này không chỉ thay đổi cục diện văn minh thế giới mà còn thay đổi văn hóa thống trị của người Mông Cổ trong triều Nguyên, đều thuộc phạm trù đại văn hóa.
Thành Cát Tư Hãn qua đời năm 1227 tại núi Lục Bàn. Theo sự triển khai của ông, quân đội trước tiên liên thủ với nhà Tống diệt nhà Kim, sau đó lại tấn công nhà Tống. Nhà Tống đại bại, vậy mà lại tổ chức một cuộc kháng cự ngoan cường tại thành Điếu Ngư, Hợp Xuyên thuộc Trùng Khánh ngày nay, thời gian kéo dài tới ba mươi sáu năm.
Cuộc kháng cự này đã thay đổi lịch sử văn minh thế giới. Khi đó, Đại hãn Mông Kha của toàn quân Mông Cổ chính là tổng chỉ huy cuộc tấn công thành Điếu Ngư, bởi vì chiếm được thành Điếu Ngư mới có thể thuận lợi kiểm soát lưu vực sông Trường Giang, đánh xuống phía Nam và phía Đông. Cùng lúc đó, Húc Liệt Ngột, em trai của Mông Kha, kế thừa bước chân tây chinh hùng tráng của Thành Cát Tư Hãn. Trong quá trình tây chinh, họ đã chiếm lĩnh nước Nga, Iran, Baghdad, Syria, Ba Lan, Hungary, rồi nhanh chóng đánh đến Áo, áp sát Venice, roi ngựa đã chỉ hướng về phía Ai Cập. Thế nhưng, ngay lúc này, Đại hãn Mông Kha lại bị đạn đá bắn trúng dưới thành Điếu Ngư mà tử trận. Nghe được tin này, Húc Liệt Ngột đang trên đường tây chinh ca khúc khải hoàn liền quay đầu ngựa trở về Đông, chuẩn bị về nối ngôi.
Kết quả là, số quân ít ỏi để lại đã không thể giành thắng lợi, còn lực lượng chủ lực quay về Đông lại phát hiện người nối ngôi không phải là Húc Liệt Ngột, thế là dậm chân tại chỗ. Đế quốc Mông Cổ từ đó nảy sinh sự chia rẽ trọng đại, đại nghiệp chinh phục thế giới không bao giờ có thể thực hiện được nữa. Thế là, các nền văn minh khác trên thế giới, đặc biệt là văn minh Hồi giáo, văn minh châu Âu và văn minh Ai Cập, đã tránh được sự hủy diệt tận gốc.
Nghĩ như vậy, cuộc bảo vệ thành Điếu Ngư kéo dài ba mươi sáu năm quả thực có tác dụng to lớn, dù đặt trong lịch sử văn minh thế giới cũng không nên bị bỏ qua.
Trong quá trình này, bản thân văn hóa của quân đội Mông Cổ cũng đã diễn ra sự chuyển biến lớn.
Sự cản trở của thành Điếu Ngư và sự chia rẽ nội bộ đã khiến quan điểm văn hóa của một nhà chính trị quan trọng trong quân đội Mông Cổ được chú trọng gấp bội, nhà chính trị đó chính là Da Luật Sở Tài.
Chúng ta nên ghi nhớ cái tên này, bởi bản thân ông chính là một hiện tượng văn hóa rất sâu sắc. Về thân phận dân tộc và thân phận chính trị, ông trông có vẻ rất không ổn định, là người Khiết Đan, hậu duệ hoàng gia nước Liêu, lại gia nhập triều Kim, sau đó lại được người Mông Cổ thu nhận.
Giữa ba nước Liêu, Kim, Mông, ông kiêm đủ thân phận nhưng không cố thủ. Thế nhưng, về thân phận văn hóa, ông lại rất kiên định, đó chính là người si mê và truyền bá văn hóa Hán. Ông yêu thích Nho học và Phật học, khi đi theo Thành Cát Tư Hãn đã liên tục truyền bá trong suốt hành trình, dần dần thay đổi tư tưởng của Thành Cát Tư Hãn; khi phò tá Hốt Tất Liệt, ông còn hoạch định một loạt chính sách bảo vệ văn hóa Hán, và cố gắng đưa quy chương chế độ triều Nguyên vào trong hệ thống giá trị cốt lõi của văn hóa Hán. Vì thế, đây là một nhân vật lớn đã đưa ra sự lựa chọn văn hóa cho lịch sử. Cống hiến của ông đối với văn hóa, vượt xa những người làm văn hóa thông thường.
Theo ý nghĩa này, tôi xem Da Luật Sở Tài, vị chính trị gia kiệt xuất này, là người làm văn hóa đỉnh cấp. Tôi cho rằng, thân phận đầu tiên và thân phận cuối cùng của ông chính là thân phận văn hóa. Tôi từng viết một bài tên là "Người lạ đến từ đâu", chuyên viết về ông, mọi người có thời gian có thể tìm đọc, trong cuốn sách "Tầm Mịch Trung Hoa" đó.
Sự chuyển biến căn bản trong tư duy văn hóa thời Nguyên là một việc lớn. Tiếp theo, chúng ta mới có lý do để bàn luận một chút về các hiện tượng văn hóa cụ thể của thời Nguyên. Trước hết tôi muốn hỏi, trong tâm trí các bạn, hiện tượng văn hóa chủ yếu nhất của thời Nguyên là gì?
Vương An An: Nguyên tạp kịch. Đây là một loại hình kịch quan trọng trong lịch sử kịch nghệ Trung Quốc, có vai trò cột mốc. Trước Nguyên tạp kịch, kịch nghệ Trung Quốc vẫn chưa trưởng thành.
Dư Thu Vũ: Đúng vậy, Nguyên tạp kịch. Đây là chuyên môn thuở đầu của tôi, tôi đã xuất bản "Trung Quốc kịch nghệ sử" từ hơn hai mươi năm trước, chuyên luận bàn về Nguyên tạp kịch, hôm nay tôi không thể nói nhiều, vì một khi nói là có khả năng bị cuốn sâu vào đó. Nhưng vẫn cần nói vài câu từ đại cương thô sơ nhất.
Văn hóa Trung Hoa ở các hạng mục nghệ thuật cụ thể đều sản sinh khá đầy đủ, kỳ lạ là chỉ riêng kịch nghệ là muộn phát. Cách đây hơn hai ngàn năm, cổ Ấn Độ và cổ Hy Lạp vốn sánh vai cùng chúng ta đều đã có sự thể hiện kịch nghệ huy hoàng, hơn nữa đều đã lần lượt suy tàn, nhưng đáng thương thay cho Trung Quốc chúng ta, Khuất Nguyên chưa từng xem kịch, Đào Uyên Minh chưa từng xem kịch, ngay cả Lý Bạch, Đỗ Phủ cũng chưa từng xem kịch. Kịch nghệ Trung Quốc đến muộn, nguyên nhân rất phức tạp, tôi đã phân tích chi tiết trong "Trung Quốc kịch nghệ sử".
Đến thời Nguyên, chúng ta lại cuối cùng đã sở hữu nó, hơn nữa sở hữu rất phong phú. Nguyên nhân thứ nhất là do người Mông Cổ với tư cách là kẻ thống trị đa số còn khó khăn trong việc đọc các loại điển tịch văn hóa Hán, vì thế sân khấu biểu diễn trở nên vô cùng thịnh hành; nguyên nhân thứ hai là văn hóa Nho gia không đề xướng việc đóng kịch, mà sự thành lập triều Nguyên đã phá vỡ quy phạm này; nguyên nhân thứ ba là sau khi nhà Nguyên thành lập từng bãi bỏ chế độ khoa cử, khiến một nhóm văn nhân không biết đi đâu về đâu, bèn tiến vào các địa điểm giải trí dân gian để sáng tác, điều này khiến các nhà soạn kịch xuất sắc như Quan Hán Khanh, Vương Thực Phủ, Kỷ Quân Tường, Mã Trí Viễn... xuất hiện hàng loạt. Đến đây, khoản nợ của văn hóa Trung Quốc về kịch nghệ không chỉ được trả hết, mà còn là trả gấp bội.
Chuyện kịch nghệ, tôi chỉ có thể nói đến đây thôi. Tiếp theo tôi còn muốn hỏi một câu: Ngoài Nguyên tạp kịch ra, các bạn còn biết sáng tạo nghệ thuật nào khác của thời Nguyên không?
Vương Mục Địch: Bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" nổi tiếng đó chắc cũng thuộc thời Nguyên phải không ạ?
Dư Thu Vũ: Đúng, thời Nguyên. Nhưng trước khi nói về bức tranh này, còn nên giới thiệu một chút về bối cảnh văn hóa thời bấy giờ. Hội họa Trung Quốc trước đời Đường phần nhiều là nhân vật họa. Sau đời Đường, sơn thủy họa bắt đầu phát triển, nhưng ban đầu là khá tả thực. Sự tả thực này không phải là tả thực kiểu phương Tây, mà là tả thực kiểu Trung Quốc, sau đó thì càng ngày càng giống tả ý. Đến thời Nguyên, trong tay một người tên là Hoàng Công Vọng, sơn thủy họa cuối cùng đã trở thành đứng đầu các môn của hội họa Trung Quốc, trở thành chủ lưu. Loại sơn thủy họa này chính là văn nhân họa, từ đó ngự trị trên đàn họa, Hoàng Công Vọng cũng chính thức trở thành một nhân vật mang tính cột mốc trong hội họa Trung Quốc. Tác phẩm tiêu biểu của ông chính là bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" mà cháu nói. Bức tranh này miêu tả cảnh sắc vùng sông Phú Xuân, Chiết Giang, để cảm nhận ý cảnh trong tranh, tôi đã từng đặc biệt đi du ngoạn vùng đó. Năm ngoái, một doanh nhân Đài Loan còn xây dựng ở đó một khu nghỉ dưỡng mang tên "Phú Xuân Sơn Cư", toàn bộ ý tượng đều lấy từ bức tranh đó.
Nhắc đến "Phú Xuân Sơn Cư Đồ", tôi không thể không nhắc đến số phận long đong của nó ở hậu thế. Bởi vì toàn bộ quá trình này phản ánh đầy đủ tính huyền bí, tính ngẫu nhiên và tính bi kịch trong sự truyền thừa văn hóa Trung Quốc. Sau khi Hoàng Công Vọng qua đời, bức tranh này trước tiên được một họa sĩ sưu tập, bao nhiêu năm sau lại rơi vào tay Đổng Kỳ Xương. Sau bao nhiêu năm nữa lại rơi vào tay một gia đình họ Ngô ở Nghi Hưng, Giang Tô. Nhà sưu tập họ Ngô quá yêu thích bức tranh này, đến nỗi khi lâm chung ông yêu cầu dùng bức tranh này để bồi táng, thực ra cũng là đốt trong linh đường. Đúng lúc gia đình đang chuẩn bị ném "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" vào lò lửa thì cháu trai ông đến, giật lấy bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ". Cậu ta nghĩ lão nhân gia đã ở vào lúc hấp hối, chẳng nhìn rõ gì cả, thế thì đổi cuộn tranh khác để bồi táng vậy. Tiếc là bức tranh bị giật ra giữa chừng đã bị cháy, thế là cuộn tranh này chia làm hai, biến thành hai bức tranh một dài một ngắn.
Hơn một trăm năm sau, Càn Long hoàng đế có được một bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ", là nửa dài đó, vừa nhìn thấy đã vô cùng phấn khích, đề hơn hai trăm chữ, nói bức tranh này tốt thế nào thế nào. Không bao lâu sau, Càn Long có được một bức tranh gần như giống hệt, thực ra bức đến sau này mới là chân phẩm, còn bức đến trước là hàng giả. Nhưng Càn Long không rõ, quan viên bên cạnh ông cũng không rõ, thế là Càn Long lại viết đề bạt, nói bức tranh này có thể giả như thật, cũng không dễ dàng gì, thế là hai bức tranh liền cùng được cất giữ trong cung. Còn nửa ngắn kia cũng trải qua số phận lưu lạc phức tạp, mãi đến những năm ba mươi thế kỷ trước mới đến tay nhà sưu tập Ngô Hồ Phàm ở Thượng Hải. Có một lần Ngô Hồ Phàm đang cắt tóc ở đường Nam Kinh, Thượng Hải, vừa mới cắt được một nửa, một thương nhân cổ vật tìm đến ông, lấy ra một vật cho ông xem, Ngô Hồ Phàm liếc mắt một cái đã nhận ra đó chính là nửa ngắn của "Phú Xuân Sơn Cư Đồ", ông còn chưa cắt tóc xong đã lao về nhà ở đường Tung Sơn lấy tiền, mua lại. Đoạn tranh nhỏ này cứ thế được ông Ngô Hồ Phàm sưu tập, cho đến những năm năm mươi thế kỷ trước thì được Bảo tàng Chiết Giang thu mua. Còn nửa bức được cất giữ trong Thanh cung, cuối thời nội chiến đã bị vận chuyển sang Đài Loan, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung ở Đài Loan.
Cháu xem, một bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" bị lửa đốt, một nửa ở Đài Loan, một nửa ở Chiết Giang. Việc này, suy nghĩ kỹ thì thấy rất có trọng lượng, ít nhất cũng cho thấy lòng thành kính của người Trung Quốc đối với văn hóa trong cảnh binh đao loạn lạc.
Những năm gần đây, tôi và một số người bạn đều đang nỗ lực thúc đẩy một việc, đó là để hai bức tranh này có thể cùng trưng bày tại một nơi. Chúng ta đang chờ đợi khả năng này.