Hỏi Đáp Về Học Thuật – Dư Thu Vũ Trò Chuyện Văn Hóa Trung Hoa Cùng Sinh Viên Đại học Bắc Kinh

Lượt đọc: 137 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bài thứ tư: Dấu ấn văn minh

❊ ❊ ❊

Dư Thu Vũ: Về ký ức văn hóa đầu tiên – ký ức văn hóa liên quan đến thời Thương, chúng ta đã nói gần cả tháng trời. Hơn nữa, đến tận hôm nay, chúng ta vẫn chưa bàn đến nội dung của bản thân ký ức, mà đang nỗ lực chải chuốt sự gian nan trong việc đánh thức một ký ức văn hóa. Xin hãy lưu ý, ở ý nghĩa thông thường, kể vài sự kiện lịch sử hay lời lẽ cổ xưa không thuộc về cái gọi là đánh thức ký ức văn hóa mà chúng ta đang nói, trái lại, rất có thể đó là một kiểu thôi miên. Văn hóa là sự lắng đọng của cả một dân tộc, nếu muốn đánh thức thì tất yếu sẽ làm đảo lộn cả đất trời, thậm chí cuốn phăng cả người đang cố gắng đánh thức nó vào trong đó. Qua đây có thể thấy, văn hóa thực sự là chuyện hệ trọng bậc nhất, liên quan đến tất cả mọi người, vẻ bề ngoài tuy có vẻ nho nhã, nhưng thực tế lại tiềm ẩn muôn vàn hiểm nguy. Có thể gọi là "một mạch khẽ rung, mười phương chấn động". Ý nghĩa này có lẽ vượt xa mọi sự hiểu biết về văn hóa trước đây, thế nên tôi mới phải tốn nhiều thời gian như vậy.

Bây giờ, chúng ta có thể hé nhìn một chút vào nội dung của ký ức văn hóa đã được đánh thức.

Trước hết phải hỏi mọi người một câu, có ai ở đây là người Hà Nam không? Nếu không phải, vậy có ai từng đến Hà Nam chưa?

(Các sinh viên tại hiện trường lần lượt bày tỏ mình vừa không phải người Hà Nam, vừa chưa từng đến Hà Nam.)

Phải thừa nhận rằng, trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, địa vị của Hà Nam vô cùng quan trọng. Bất kể là Thương Khâu sớm hơn hay An Dương đang nhắc tới hiện nay. Trước thời Thương, nếu muốn tìm kiếm dấu vết thời Hạ, có lẽ cũng không thể rời xa Hà Nam. Nếu muốn hiểu sâu hơn về kinh đô thời kỳ đầu của nhà Thương, vậy thì thành cổ thời Thương ở Trịnh Châu rất dễ trở thành đối tượng chúng ta quan tâm. Tóm lại, ký ức sơ khai của văn hóa Trung Quốc đều liên quan mật thiết với Hà Nam.

Các bạn đều không phải người Hà Nam, cũng chưa từng đặt chân đến Hà Nam, vậy câu hỏi tiếp theo đây sẽ rất thú vị. Tôi muốn hỏi: Các bạn có ấn tượng gì về thời Thương?

Vương Mục Địch: Ấn tượng của tôi về thời Thương là một triều đại vừa giống thần lại vừa giống quỷ. Tôi biết đến thời Thương thông qua một số tác phẩm nghệ thuật, có lẽ người thời đó không cho rằng đó là tác phẩm nghệ thuật, nhưng ngày nay nhìn lại thì có giá trị nghệ thuật rất cao. Hoa văn trên rất nhiều tác phẩm nghệ thuật đều mang màu sắc tôn giáo, ví dụ như loài chim bay xuất hiện trên một số món đồ ngọc chính là biểu tượng của vật tổ. Đường nét trên các đồ vật thời Thương không có hình một con rồng hay một con chim cụ thể, mà là những ký hiệu khá trừu tượng. Đồ vật của thời này chủ yếu là lễ khí và tế khí, khá có sức răn đe, có một vẻ đẹp minh lệ.

Kim Tử: Mỗi khi nhắc đến thời Thương, trong đầu tôi liền hiện ra hai thứ – Tư Mẫu Mậu đại phương đỉnh và Tứ Dương phương tôn. Có thể nói đồ đồng thanh đã tạo nên sự hiểu biết cốt lõi của tôi về thời Thương.

Tùng Trị Thần: Trong lịch sử nhà Thương mà tôi từng học cũng tràn ngập chiến tranh, chém giết và cuộc sống xa hoa dâm dật của người Thương, dường như chính những điều đó đã dẫn đến sự diệt vong của nhà Thương. Nhưng tôi lại coi trọng thành tựu văn hóa và sự theo đuổi cái đẹp của họ hơn. Phong cách nghệ thuật của họ phiêu dật và giàu trí tưởng tượng hơn so với ngày nay.

Vương Thu Thực: Vật phẩm đại diện cho nhà Thương hiện ra trước mắt chúng ta hôm nay có hai loại, một loại là đồ đồng thanh, loại kia là đồ ngọc. Một trong những món đồ đồng thanh rất quan trọng là đồ uống rượu, loại còn lại là tế khí, chính là những cái đỉnh đó. Tư Mẫu Mậu đại phương đỉnh thể hiện trình độ văn hóa và nghệ thuật đúc cao siêu của nhà Thương, tôi nghĩ đây là ký ức văn hóa sâu sắc nhất để lại cho người đương đại. Ngoài ra còn có kho báu giáp cốt văn vô cùng phong phú mà chúng ta đã nói đến từ lâu.

Vương An An: Tôi không biết sự so sánh này có gượng ép hay không: Tôi từng xem triển lãm Cổ La Mã, tôi cảm thấy thời Thương có cảm giác hơi giống Cổ La Mã. Sự xa hoa dâm dật của nó, nền văn minh phát triển cao độ của nó, sự ưa thích chinh chiến, chế độ nô lệ của nó và những câu chuyện trong "Phong Thần Diễn Nghĩa", đó là một khí chất rất nam tính, rất cứng rắn, rất mạnh mẽ.

Dư Thu Vũ: Từ giáp cốt văn có thể thấy, trong các nền văn minh cổ đại thế giới, thời Thương đã ở vị thế dẫn đầu trên một vài phương diện.

Thứ nhất, tính hệ thống và chính xác trong quan sát thiên văn. Tác giả cuốn "Lịch sử khoa học kỹ thuật Trung Quốc", ông Joseph Needham từng nói, trước thời kỳ Phục hưng ở châu Âu, Trung Quốc luôn là quốc gia nghiên cứu thiên văn lịch pháp hệ thống nhất, chính xác nhất. Điểm này, chúng ta có thể tự tin nói rằng đã bắt đầu từ thời Thương. Lịch pháp thiên văn hiện đại tương đối hoàn thiện của châu Âu có nhiều cái gắn liền với hàng hải. Khi tôi khảo sát tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý, tôi phát hiện Columbus và những người khác trước khi xuất phát đã chuẩn bị rất nhiều, đa phần đều liên quan đến quan sát thiên văn, sự quan sát thực tế sau khi họ xuất phát lại làm cho nghiên cứu thiên văn phát triển vượt bậc. Thế nhưng, là một Trung Quốc lấy văn minh nông nghiệp làm chủ đạo, từ thời xa xưa đã phải xem trời làm ruộng, nghiên cứu phương diện này cũng vô cùng phát triển. Thời Thương đã dùng tư liệu đầy đủ để chứng minh điều này.

Thứ hai, thời Thương đạt thành tựu rực rỡ trong việc đúc đồ đồng thanh. Chúng ta một mặt biết rằng đồ đồng thanh thời Thương có vẻ đẹp và sự hùng vĩ đáng kinh ngạc, mặt khác, nhìn từ tư liệu bói toán để lại trong giáp cốt văn, thời Thương đã đạt đến trình độ cao nhất thế giới bấy giờ trong việc lựa chọn nguyên liệu luyện kim và kỹ thuật luyện kim.

Thứ ba là nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật gieo trồng cây nông nghiệp. Chăn nuôi, săn bắn, ngư nghiệp... cũng đều có ghi chép dày đặc trong bốc từ, trình hiện trọn vẹn một nền văn minh nông nghiệp kiểu "canh tác tinh xảo".

Còn có y học làm người ta kinh ngạc. Các nhà khoa học hiện đại nghiên cứu từ bốc từ đã phát hiện, các hạng mục cơ bản của ngoại khoa, nội khoa, ngũ quan khoa, phụ khoa, nhi khoa, bệnh truyền nhiễm... cơ bản đều đã có từ thời Thương, châm cứu cũng đã rất phát triển.

Ngoài ra, thời Thương đã có sự nghiệp giáo dục ra dáng, tương đối hoàn chỉnh, người bên ngoài cũng đến đất Ân để học tập, có rất nhiều ghi chép như vậy.

Điều này cho chúng ta thấy một xã hội Trung Quốc cổ đại tương đối hoàn chỉnh. Sự lan tỏa của văn hóa Thương khá đáng kể: phía bắc đến Liêu, phía đông đến biển, phía tây đến Cam Lũng Xuyên tức là vùng Cam Túc, Tứ Xuyên ngày nay, phía nam kéo dài đến hồ Động Đình và hồ Phiên Dương. Các nền văn minh cổ đại khác trên thế giới đều kém xa thời Thương về diện tích. Ví dụ như Ai Cập, Thượng Ai Cập và Hạ Ai Cập dọc theo sông Nile cộng lại, rồi cộng thêm vùng đất hình trăng lưỡi liềm của nền văn minh Babylon tức nền văn minh hai sông Tigris và Euphrates, rồi lại cộng cả nền văn minh sông Ấn và sông Hằng, tổng diện tích có lẽ cũng không bằng một phần mười văn minh Thương.

Đúng như cảm nhận của các vị ở đây, nhà Thương cũng là một triều đại hung bạo, nhưng điều này không ngăn cản nó trở thành một triều đại có văn minh chín muồi và tiến triển thần tốc. Thời Thương tồn tại nhiều sự tàn nhẫn khiến người hiện đại không thể chịu đựng nổi, nếu các bạn đi xem Bảo tàng Ân Khư ở An Dương, sẽ thấy có những bộ hài cốt bị phân tách do con người. Văn minh thường phải dựa vào những thủ đoạn không văn minh mới có thể kiến lập, nhưng văn minh sở dĩ trở thành văn minh mà không sa đà vào dã man, tất yếu lại có một sức mạnh tự kiểm soát. Những cuộc bàn luận của chư tử bách gia về cấu trúc xã hội, quản lý xã hội và hướng đi của văn minh mà sau này chúng ta sẽ nói đến, đều liên quan đến điều này.

Sở dĩ ký ức văn hóa thời Thương quan trọng, là vì nó cung cấp tài nguyên cho chư tử bách gia suy ngẫm. Hơn nữa, trong đó có một số tài nguyên chưa từng bị gián đoạn. Chính tính kế thừa của những tài nguyên cơ bản thời Thương này đã quyết định tính khả giải trong học thuyết của chư tử bách gia.

Trong thế kỷ hai mươi, món quà quý giá nhất mà văn minh thời Thương tái xuất nhân gian mang đến cho chúng ta là gì? Tất nhiên không phải là khoa học kỹ thuật, kinh tế, chính trị thời đó. Những thứ này dù có kiệt xuất đến đâu, thì sau khi trải qua sự sàng lọc của thời đại, thứ còn lại vẫn là thành quả thẩm mỹ. Đây chính là sức mạnh độc đáo của cái đẹp. Tôi nghĩ sẽ chẳng ai phủ nhận: kết cấu, hình thức, hoa văn của đồ đồng thanh và đồ ngọc thời Thương đã cho thấy khởi đầu thẩm mỹ của một dân tộc vĩ đại. Thoạt nhìn, chúng ta có thể bắt chước, sao chép chúng, thậm chí rất giống thật, nhưng ngẫm kỹ lại, đó là sự sáng tạo nguyên bản của tổ tiên chúng ta từ mấy nghìn năm trước, vừa kỳ ảo lại vừa thuần khiết. Về sức tưởng tượng và tính ngây thơ, hoàn toàn không thể bắt chước và sao chép. Điều này không khỏi khiến chúng ta vừa tự hào lại vừa sinh ra cảm giác hoảng sợ.

Đã từ lâu, các nhà sử học trong và ngoài nước luôn coi sự tiến bộ vật chất, tiến bộ tư tưởng là sự quy kết của một thời đại. Thực ra, thứ cuối cùng có ý nghĩa quy kết chính là cấu trúc thẩm mỹ. Tức là, sự kết hợp ba yếu tố Chân, Thiện, Mỹ, lấy Mỹ làm quy kết. Đây là "sử học thẩm mỹ" mà chúng ta chủ trương. Cái đẹp không phải là điểm xuyết của lịch sử, mà là sự khái quát của lịch sử. Quan điểm này tất nhiên mang tính thách thức cực lớn, sau này có cơ hội tôi có thể dành riêng vài bài để giảng. Hôm nay chỉ có thể nếm thử mà thôi, mọi người chỉ cần hiểu rằng, sự quy kết của lịch sử thời Thương là đồ đồng thanh và đồ ngọc, cũng giống như sự quy kết của lịch sử thời Đường là thơ Đường, hay nói cách khác, sự quy kết của nhiều giai đoạn lịch sử châu Âu là thần thoại Hy Lạp, là Leonardo da Vinci và Shakespeare, chứ không phải là những kẻ mạnh về quân sự chính trị đó.

Cho đến nay, nếu nói loạt hình ảnh thẩm mỹ lịch sử trong lòng người Trung Quốc có một nơi đặt nền móng, thì đó chính là thời Thương. Đôi khi ở nước ngoài nhìn thấy người ta luôn thích dùng mặt nạ kịch để đại diện cho hình ảnh thẩm mỹ của người Trung Quốc, trong lòng tôi rất sốt ruột, mặc dù tôi là người nghiên cứu kịch nghệ, nhưng luôn cảm thấy nên lùi lại xa hơn nữa.

Đồ đồng thanh thời Thương chỉ riêng về hình thể và tỷ lệ thôi đã đủ khiến vô số nhà thiết kế nghệ thuật hậu thế phải hổ thẹn.

Thông qua đường nét của đồ đồng thanh, chúng ta biết rằng đây là một tập thể không câu nệ tiểu tiết; thông qua tỷ lệ của đồ đồng thanh, chúng ta biết rằng đây là một cấu trúc xã hội đòi hỏi mọi thứ đều phải được an bài vừa vặn. Chỉ trong sự lắng đọng tâm lý tập thể như vậy, đồ đồng thanh mới có thể đoan chính, phóng khoáng và tinh mỹ đến thế.

Ở đây đặc biệt cần giới thiệu với mọi người một ký hiệu – văn Sưu Xán. Ký hiệu này là một khái niệm vô cùng quan trọng trong lịch sử mỹ học Trung Quốc. Rất nhiều hoa văn trong đồ đồng thanh đã trở thành khuôn mẫu, được chắt lọc từ đầu một loài dã thú hung dữ, tham lam. Sau khi nó được chắt lọc ra, vẫn giữ được sự uy mãnh, dữ tợn của đường nét, nhưng đã biến thành hoa văn, trở thành hình ảnh cơ bản về tính chung của văn hóa thời bấy giờ.

Văn Thao Thiết về sau dần dần rời xa hình thái nguyên thủy hung dữ, tham lam, trở nên ngày càng trừu tượng, nhưng sức mạnh của đường nét vẫn luôn được bảo tồn, điều này hơi đáng kinh ngạc. Sự không còn tham lam, không còn hung dữ của nó, theo cách nói trong mỹ học thì gọi là "tích tụ", nội dung tích tụ thành hình thức. Chúng ta quen nói "nội dung quyết định hình thức", thực ra trong ý nghĩa này, giá trị của hình thức có thể sẽ cao hơn, vì nó có khả năng bao dung đối với nội dung phức tạp. Văn Thao Thiết đã tích tụ một thời đại máu và lửa tàn khốc đầy gian nan. Văn Thao Thiết khiến thời Thương từ vĩ đại đi tới xinh đẹp, và dùng một hình thức để bảo tồn sự vĩ đại và xinh đẹp đó.

Ngoài văn Thao Thiết, chúng ta còn phải nói đến một hình thức thẩm mỹ khác được thể hiện trong giáp cốt văn, đó chính là thư pháp. Giáp cốt văn không phải là loại chữ viết nguyên thủy nhất, mà là hình thái chữ viết tương đối chín muồi. Những ký hiệu tượng hình ở di chỉ văn hóa Bán Pha và di chỉ văn hóa Hồng Sơn cổ hơn giáp cốt văn rất nhiều. Đối chiếu một cái là có thể thấy ngay, giáp cốt văn đã trải qua quá trình chắt lọc lâu dài.

Chữ tượng hình trong giáp cốt văn khác biệt rất lớn với chữ tượng hình trong các hàng cột ở đền thần Mặt Trời tại Luxor, Ai Cập. Chữ tượng hình của giáp cốt văn là loại chữ tượng hình đã tiến hóa cao độ. Nó thoát khỏi chức năng mô phỏng trực tiếp các loài vật tự nhiên như chữ tượng hình Ai Cập thời kỳ đầu, mà toàn bộ được tuyến tính hóa. Đường nét lại trải qua giản lược, tịnh hóa, biến thành một loại ký hiệu thông dụng có độ trừu tượng. Thế nhưng, chữ viết ngoài ý nghĩa thực dụng còn có ý nghĩa thẩm mỹ, đó là yêu cầu mỗi chữ lấy ra đều phải đẹp. Lúc này, những nhà thư pháp thời kỳ đầu đã xuất hiện. Đây là trọng điểm thứ hai của thẩm mỹ thời Thương ngoài văn Thao Thiết, cũng là điểm khởi đầu của nghệ thuật thư pháp Trung Quốc.

Cống hiến mỹ học thứ ba của thời Thương, là sự xác lập chính thức khái niệm "Mỹ" (đẹp). Trong giáp cốt văn, lần đầu tiên xuất hiện chữ "Mỹ". Giải thích từ góc độ tượng hình, người xưa của chúng ta khá coi trọng vật chất, cừu lớn lên thì cảm thấy đẹp, nhưng Hứa Thận đã bổ sung, trong chữ "Mỹ" này bao hàm cả ý nghĩa của chữ "Cam" (ngọt). Điều này đã nâng từ trạng thái vật chất lên trạng thái hương vị, từ khối lượng nâng lên phong vị. Hiện nay một số học giả, bao gồm cả bạn tôi là ông Tiêu Binh, đề xuất cấu tạo của chữ "Mỹ" không phải là "Dương", "Đại", mà là "Dương", "Nhân" (người). Nghĩa là "Dương nhân vi Mỹ" (cừu và người là đẹp), tức là cừu và người gắn kết lại với nhau thì là đẹp, ý nghĩa này rất khác biệt, đã đi vào phạm trù văn hóa nhân học. Hy Lạp cổ đại có kịch "Dương nhân", người xưa khi thực hiện biểu diễn sớm nhất thường mô phỏng hình tượng động vật, cừu là đối tượng mà con người thích mô phỏng nhất. Cho nên trong chữ viết Trung Quốc, chữ "Mỹ" này, chắc chắn cũng gắn liền với vũ đạo thời bấy giờ. Vũ công này, thời bấy giờ chính là Vu (pháp sư). Nếu nhìn vào di chỉ Tam Tinh Đôi cùng thời với thời Thương, có thể biết vũ đạo của người xưa là như thế nào, biết rằng việc lấy hình người mô phỏng động vật làm cái đẹp là tự nhiên đến mức nào.

Thời Thương đã sáng tạo trọn vẹn chữ "Mỹ", và không lâu sau đó, những bậc trí giả Trung Quốc đã tách nó ra khỏi chữ "Thiện" để thảo luận, gọi là "tận thiện tận mỹ". Chữ "Mỹ" đã có một sự soi xét độc lập, điều này thật ghê gớm. Cộng thêm văn Thao Thiết và thư pháp giáp cốt văn đã nói ở trên, thời Thương về mặt ý nghĩa thẩm mỹ đã khai mở khá trọn vẹn.

Tóm lại, trong loạt hình ảnh thẩm mỹ mà tôi coi trọng nhất, thời Thương có đủ tư cách, đủ vốn liếng để làm ký ức đầu tiên của chúng ta.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Dư Thu Vũ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.