Hỏi Đáp Về Học Thuật – Dư Thu Vũ Trò Chuyện Văn Hóa Trung Hoa Cùng Sinh Viên Đại học Bắc Kinh

Lượt đọc: 137 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bài 40: Chất thơ dưới ánh hoàng hôn

❊ ❊ ❊

Dư Thu Vũ: Thời thịnh Đường không còn nữa, điều này thoạt nhìn có vẻ là một bi kịch, nhưng thực ra đối với văn hóa mà nói thì chưa chắc đã vậy. Tuy thời đại rực rỡ huy hoàng đã qua đi, nhưng triều Đường vẫn còn tiếp nối gần một trăm năm mươi năm nữa. Trong bầu không khí đìu hiu hiu quạnh, một chất thơ mới đã xuất hiện.

Sau một đại nạn, những thứ khác có thể "phục hồi", nhưng văn hóa thì không thể dùng từ "phục hồi" được, bởi vì nó buộc phải vươn mình tiến về phía trước trong một trạng thái tinh thần khác biệt. Tiêu chuẩn trước khi đại nạn xảy ra có thể dùng để đo lường các lĩnh vực khác, nhưng không thể đem nó ra để đo lường văn hóa sau đại nạn.

Văn hóa thời Đường sau loạn An Sử trước hết bị bao trùm bởi một bầu không khí bi kịch, người thể hiện bầu không khí bi kịch này xuất sắc nhất chính là Đỗ Phủ. Đỗ Phủ đã dùng ngòi bút chứa chan sự quan tâm nhân văn của mình để viết về tình cảnh ly loạn, cảnh tượng tang thương, khiến không ai có thể vượt qua được. Thế nhưng, nỗi đau dù sâu sắc đến đâu cũng sẽ bị thời gian làm cho xa cách. Sau Đỗ Phủ, một chàng trai trẻ chỉ mới mười bảy tuổi khi loạn An Sử xảy ra, sẽ là người đầu tiên thực hiện cuộc khai thác mỹ học mang tầm vóc vĩ mô hơn đối với đại nạn này, đó chính là Bạch Cư Dị, tác giả của "Trường Hận Ca".

Bạch Cư Dị là một đại thi hào đã sáng tác gần ba nghìn bài thơ. Ông làm thơ với sứ mệnh "kiêm tế thiên hạ" (giúp đỡ thiên hạ), lại dễ hiểu bình dân, rất được quần chúng yêu thích. Trong những câu thơ Đường danh tiếng lưu truyền hậu thế, tác phẩm của ông chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Bản thân tôi không quá thích thơ Bạch Cư Dị, cảm thấy cảnh giới không cao; trong hai bài thơ tự sự nổi tiếng của ông, tôi thích "Tỳ Bà Hành" hơn. Tuy nhiên, không thể không thừa nhận rằng, Bạch Cư Dị đã dùng "Trường Hận Ca" để dẫn dắt vết nứt lớn của lịch sử thời Đường và lịch sử Trung Quốc đi vào con đường thẩm mỹ cảm xúc mang tính câu chuyện và tình tiết. Đây chính là tín hiệu cho thấy lịch sử cuối cùng đã dùng phương thức văn học để nói lời chia tay với đại nạn.

So với ông, người có phong cách cao hơn, đồng thời cũng là người bạn tốt sinh cùng năm với Bạch Cư Dị chính là nhà thơ Lưu Vũ Tích. Những bài thơ hoài cổ của ông viết hay nhất, có thể nói là không tiền khoáng hậu. Trong văn hóa Trung Quốc có một chủ đề đồ sộ mà các nền văn hóa khác còn thiếu, đó chính là nỗi cảm khái về sự thương hải tang điền, là tiếng thở dài trước sự hưng vong. Chủ đề này, Lưu Vũ Tích đã hoàn thành vô cùng xuất sắc. Xin hãy đọc "Thạch Đầu Thành": "Sơn vi cố quốc chu tao tại, triều đả không thành tịch mịch hồi. Hoài thủy đông biên cựu thời nguyệt, dạ thâm hoàn quá nữ tường lai." (Núi vây quanh cố quốc, sóng vỗ thành không, lặng lẽ quay về. Trăng cũ phía đông sông Hoài, đêm sâu vẫn vượt tường thành mà tới.) Còn có bài "Ô Y Hạng": "Chu Tước kiều biên dã thảo hoa, Ô Y Hạng khẩu tịch dương tà. Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến, phi nhập tầm thường bách tính gia." (Bên cầu Chu Tước cỏ hoa mọc, đầu ngõ Ô Y bóng tà dương nghiêng. Chim yến trước hiên nhà họ Vương, họ Tạ ngày xưa, nay bay vào nhà thường dân.)

Văn nhân Trung Quốc thích bày tỏ nỗi cảm khái thương hải tang điền, tiếng thở dài hưng vong đến vậy là có liên quan đến tính liên tục của lịch sử Trung Quốc. Dường như mọi thứ đều đã thay đổi, nhưng có thể nói là "thay đổi" được, chính vì có một tọa độ bất biến. Nếu xã hội xảy ra biến động kinh thiên động địa hoàn toàn, văn tự ngôn ngữ không còn tồn tại, xã tắc gia quốc không có chỗ để tham chiếu, thì đến cả khả năng cảm thán cũng không còn nữa. Do đó, vịnh sử mà than thở, thực ra là một sự xa xỉ.

Cuối cùng, chúng ta phải bỏ qua rất nhiều nhà thơ để đi thẳng đến vãn Đường, đối mặt với Lý Thương Ẩn. Tôi có một thiên kiến đối với thơ ca vãn Đường, thoạt nhìn thì như đã rời xa những đề tài lớn về quốc kế dân sinh, rời xa không gian biến ảo khôn lường, chỉ lạnh lẽo, u uẩn, mơ hồ thổ lộ nội tâm cá nhân, nhưng lại vô cùng ăn khớp với cái góc khuất sâu thẳm của văn học. Tôi tin rằng, thanh niên đương đại cũng sẽ có sự cộng hưởng này. Vì vậy, tôi hy vọng được nghe góc nhìn của các bạn về vãn Đường. Tất nhiên, cũng có thể ngược dòng về phía Lý Hạ.

Vương Mục Địch: Khi tông sư Tông Bạch Hoa đánh giá về vẻ đẹp của người thời Tấn, ông đã nói, người thời Tấn hướng ngoại để khám phá tự nhiên, hướng nội để khám phá tình cảm sâu thẳm của chính mình. Tôi thấy vế sau đặc biệt phù hợp với dư phong vãn Đường này. Thứ tình cảm đó thật khó tưởng tượng, rất ẩn khuất, giống như cảm giác độc thoại, khi bạn nhìn vào nó, cảm thấy như có thể thấu hiểu được tình cảm đó, nhưng lại không thể nói ra thành lời, ngôn ngữ trở nên nhợt nhạt vô lực.

Lưu Tuyền: Đúng vậy, ví dụ như nhiều bài "Vô Đề" của Lý Thương Ẩn: "Tương kiến thời nan biệt diệc nan, đông phong vô lực bách hoa tàn. Xuân tàm đáo tử ti phương tận, lạp cự thành hôi lệ thủy can. Hiểu kính đán sầu vân tấn cải, dạ ngâm ứng giác nguyệt quang hàn. Bồng sơn thử khứ vô đa lộ, thanh điểu ân cần vi thám khan", "Tạc dạ tinh thần tạc dạ phong, họa lâu tây bạn quế đường đông. Thân vô thái phượng song phi dực, tâm hữu linh tê nhất điểm thông. Cách tọa tống câu xuân tửu noãn, phân tào xạ phúc lạp đăng hồng. Ta dư thính cổ ứng quan khứ, tẩu mã Lan Đài loại chuyển bồng", "Lai thị không ngôn khứ tuyệt tung, nguyệt tà lâu thượng ngũ canh chung. Mộng vi viễn biệt đề nan hoán, thư bị thôi thành mặc vị nồng. Lạp chiếu bán lung kim phỉ thúy, xạ huân vi độ tú phù dung. Lưu lang dĩ hận Bồng Sơn viễn, cánh cách Bồng Sơn nhất vạn trùng". Những bài thơ này mô tả tình cảm theo cách mà không ngôn ngữ nào có thể diễn đạt rõ ràng được, chỉ có dùng tâm để thấu hiểu, "tâm hữu linh tê" mới có thể khế ngộ.

Vương An An: Bài "Cẩm Sắt" nổi tiếng đó: "Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền, nhất huyền nhất trụ tư hoa niên. Trang Sinh hiểu mộng mê hồ điệp, Vọng Đế xuân tâm thác Đỗ Quyên. Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ, Lam Điền nhật noãn ngọc sinh yên. Thử tình khả đãi thành truy ức, chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên." Đặc biệt là câu "Thử tình khả đãi thành truy ức, chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên" (Tình này đâu đợi tới lúc truy ức mới thấy nhớ nhung, chỉ là ngay lúc đó đã thấy bàng hoàng mất mát rồi), tình này là tình gì? Có thể nói rõ ràng không? Chỉ đành để dành tới lúc truy ức mà thôi.

Lữ Phàm: Nhà thơ vãn Đường còn giỏi dùng trí tưởng tượng phong phú để miêu tả cảnh vật. Lý Hạ từng viết một bài thơ tên là "Tô Tiểu Tiểu Mộ": "U lan lộ, như đề nhãn. Vô vật kết đồng tâm, yên hoa bất kham tiễn. Thảo như nhân, tùng như cái, phong vi thường, thủy vi bội. Du bích xa, cửu tương đãi. Lãnh thúy chúc, lao quang thái, Tây Lăng hạ, phong xuy vũ." Rất nhiều hình ảnh ẩn dụ trong đó vô cùng sống động, vô cùng đẹp.

Dư Thu Vũ: Tôi không ngờ các bạn lại có thể trôi chảy thuộc lòng nhiều thơ đến vậy, là tối qua chuẩn bị cấp tốc đúng không? Nhưng tôi vừa mới thấy, bất kể có chuẩn bị hay không, những người trẻ tuổi có thể đọc thuộc lòng vài bài thơ hay trong khi phát biểu thì rất đáng xem. Tất nhiên, thơ cần phải thuộc lòng thì bắt buộc phải là thơ hay, hay đến mức khiến người ta cảm thấy nên thuộc lòng, thì mới tự nhiên. Nếu lắp bắp đọc thuộc lòng vài câu cổ ngữ không mấy đặc sắc, thì lại có vẻ hơi khoe khoang.

Đối với những bài thơ này, tôi muốn chia sẻ một cảm nhận. Thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ có thể cuốn lấy chúng ta, nhưng thơ Lý Thương Ẩn, Lý Hạ lại không có sức cuốn hút đó. Đọc thơ họ, chúng ta dường như đang lén nhìn sự riêng tư của người khác, mơ hồ, mờ ảo lại rực rỡ sắc màu. Có những sự riêng tư cũng có thể khiến chúng ta liên tưởng đến sự riêng tư của chính mình, nhưng đó chỉ là liên tưởng, không tạo ra được sự cộng hưởng tổng thể.

Thơ vãn Đường không yêu cầu sự cộng hưởng. Điểm này rõ ràng đã phá vỡ mấy giáo điều trong văn nghệ học. Thơ vãn Đường chỉ để chúng ta dùng ánh mắt kinh ngạc mà nhìn từ xa, nhìn từng mảnh, nhìn vụn vỡ, và từ đó thu hoạch được một kiểu thẩm mỹ khác biệt. Điều này hơi giống với phương thức thẩm mỹ kiểu ngắt quãng, xa lạ hóa trong mỹ học châu Âu thế kỷ hai mươi, có sức quyến rũ riêng biệt.

Nguyên nhân tạo ra phong cách sáng tác này có liên quan đến thời đại. Thi tình hào sảng hay bi ai đã được bao nhiêu đại thi nhân giải phóng hết rồi, dù cho chưa giải phóng hết, nếu có giải phóng ra nữa cũng chỉ thấy lặp lại, cũng không còn chân thực nữa. Tại sao lại không chân thực? Bởi vì toàn bộ xã hội đã bị chính trị môn phiệt chia cắt, cảm giác vĩ đại không còn tồn tại nữa, hay nói cách khác, nó đã trở thành một loại ký ức, một loại ảo tưởng. Do đó, mặc dù nhiều thi nhân hạng hai vẫn bắt chước tiền bối, còn thi nhân hạng nhất thì tất nhiên sẽ chuyển hướng vào bản ngã, chuyển hướng vào sự độc đáo, chuyển hướng vào vùng sâu thẳm tách biệt với ngôn ngữ chung của xã hội. Ở đây, văn học đã thiết lập một sự tự tin mới: ngay cả khi không liên quan đến ngôn ngữ chung của xã hội, cũng có thể tạo ra một vẻ đẹp độc lập. Giờ đây chúng ta đã biết, vẻ đẹp độc lập này chính là vẻ đẹp thuần túy.

Đối mặt với vẻ đẹp sâu thẳm, thuần túy hơn này, chúng ta sẽ gặp phải một vấn đề bị hiểu lầm phổ biến, cho rằng "khó hiểu" là vật cản của cái đẹp. Thực ra, hiểu và đẹp là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Từ thơ vãn Đường đến thơ Mông Lung đương đại, đều khiến không ít người cảm thấy đọc không hiểu. Thực ra, mọi người thử liên tưởng xem, các bạn cũng sẽ thấy lá rơi trên núi mùa thu là đẹp, ánh mắt chớp chớp của phụ nữ là đẹp, nhưng có thể giải thích từ cấp độ hiểu hay không hiểu được không? Khi mua rèm cửa cho nhà mình, các bạn cũng sẽ chọn một vài tổ hợp màu sắc không rõ ý nghĩa, chứ không chọn những hình ảnh gà, bò mà nhìn vào là hiểu ngay, đó là vì sao? Tôi dùng những ví dụ nông cạn nhất này để phản bác hàng loạt nhà phê bình văn nghệ, họ thực sự đã rơi vào cái hố sâu của việc "hiểu hay không hiểu" quá lâu rồi.

Quay lại với thơ vãn Đường. Từ mô hình phát triển thơ ca sơ Đường, thịnh Đường, vãn Đường, tôi xem nó là quy trình tam đoạn luận có thể xuất hiện ở bất kỳ thời đại nào, bất kỳ nơi đâu. Từ khí tượng sơ khai đến sử thi vĩ đại, rồi đến trải nghiệm bi kịch, rồi đến tự vấn cá nhân — mô hình này lặp đi lặp lại trong mỗi chặng phát triển của văn học nghệ thuật trưởng thành trên khắp thế giới.

Chúng ta thảo luận về văn tự thời Đường như thế này, tất nhiên đã bỏ sót rất nhiều nhân vật quan trọng và tác phẩm quan trọng. Ví dụ như Hàn Dũ và Liễu Tông Nguyên trong lĩnh vực tản văn. Đặc biệt là Hàn Dũ, đóng vai trò thừa trước khởi sau trong lịch sử văn hóa Trung Quốc. Tuy nhiên, vì lý do thời gian, thơ ca có khả năng chịu được sự truyền tải cách thế hệ tốt hơn tản văn, mà chủ trương văn học của Hàn Dũ tôi lại không thích. Trong rất nhiều trường hợp, không ít hiện tượng văn học từng tạo ra ảnh hưởng to lớn dần dần mờ nhạt đi, chúng ta không cần thiết phải kháng cự thời gian mà thắp sáng lại tất cả những gì đã mờ nhạt. Cái nhìn lịch sử văn hóa của hậu thế nên tôn trọng sự lựa chọn của thời gian.

Đối với bước nhảy tiếp theo, tôi bắt đầu bằng một câu hỏi. Chúng ta hiện nay sẽ dùng một người thời sau triều Đường, cụ thể là người sinh sau khi triều Đường diệt vong ba mươi năm, để làm lời hồi đáp cho thơ ca thời Đường. Tôi xem người này là tia sáng dư thừa bắt mắt nhất của văn học thời Đường. Các bạn có đoán được đó là ai không?

Vương An An: Tất nhiên là Lý Dục.

Dư Thu Vũ: Tất nhiên là Lý Dục. Ông ấy là một nhà thơ vô cùng đặc biệt, quyền vị đế vương và thành tựu văn học của ông mâu thuẫn mà cùng tồn tại trên một thân thể, trong lịch sử văn hóa thế giới đều là kỳ tích.

Đóng góp lớn nhất của Lý Dục về mặt văn học nằm ở chỗ đã xây dựng một cột mốc quan trọng cho một thể loại quan trọng của thơ ca Trung Quốc — từ.

Hoàng đế hoặc chính trị gia cũng có người thích làm thơ, có người viết cũng rất khá, như Lưu Bang, Triệu Khuông Dẫn, vì sức sống của họ rất mạnh mẽ, thể hiện trực tiếp trên hình tượng văn hóa cũng hào sảng đáng quý. Nếu muốn sắp xếp thứ tự cao thấp trong các tác phẩm thơ của đế vương, tôi đã nói rồi, dù là Tào Phi con trai Tào Tháo cũng chỉ có thể là hạng hai, hạng nhất là Lý Dục.

Mức độ tồi tệ khi làm hoàng đế của Lý Dục gần như khiến người ta tức giận. Có những việc ông làm là không thể dung thứ, ví dụ như hại chết rất nhiều người dám nói thẳng. Trong quân sự lại càng rối như tơ vò, hoàn toàn không biết cách đối mặt với triều Tống mà Triệu Khuông Dẫn đã thiết lập. Triệu Khuông Dẫn khuyên Lý Dục đầu hàng, hứa sẽ xây cung điện cho ông ở Biện Kinh, Lý Dục hoàn toàn không thể xem xét tình thế, không biết nên làm thế nào, cho đến khi Triệu Khuông Dẫn cảm thấy ông thật sự không biết nghe lời, thì đành phải đánh thôi. Khi vượt sông, quân Tống nối thuyền lại với nhau thông suốt toàn bộ sông Trường Giang, quân đội rầm rộ vượt sông. Nhưng vài trí thức bên cạnh Lý Dục lại bảo với ông rằng, xem khắp sách lịch sử Trung Quốc, không có ví dụ nào nối thuyền vượt sông Trường Giang cả, Lý Dục liền yên tâm. Kết quả là ông nhanh chóng bị quân Tống bao vây, cảnh tượng phía sau có thể tưởng tượng được.

Cảnh đầu hàng rất nhục nhã. Thân trên phải cởi trần hoàn toàn, quỳ xuống chấp nhận việc quân Tống chiếm đóng thủ đô. Sau đó ngồi thuyền, đi về phương bắc trong ngày mưa, đến vùng Thương Khâu, Hà Nam ngày nay rồi đổi hướng đi Biện Lương, tức Khai Phong ngày nay. Ở đó, Triệu Khuông Dẫn tổ chức nghi lễ đầu hàng trọng thể. Tất cả đại thần, quan viên Lý Dục mang theo đều mặc quần áo trắng, chậm rãi bước về phía đài nhận hàng, cùng nhau quỳ xuống. Triệu Khuông Dẫn với phong thái rất cao ngạo nói, chúng ta cuối cùng cũng đi đến với nhau, triều Tống về mặt văn nghệ có chút yếu, từ của ông Lý viết cũng khá, cần những nhân tài như ông để thúc đẩy sự phát triển của văn hóa. Điều này theo cách nói của chúng ta hiện nay, chính là cho Lý Dục làm một cố vấn liên đoàn văn học treo tên.

Triệu Khuông Dẫn còn phong Lý Dục làm "Vi Mệnh Hầu", vì Lý Dục từng trái lệnh của ông. Nói đi cũng phải nói lại, Triệu Khuông Dẫn cũng có thể coi là một vị hoàng đế tôn trọng văn nhân đặc biệt trong số các nhà cai trị các triều đại Trung Quốc, ông cũng biết giá trị văn hóa của Lý Dục, nhưng ông thật sự không thích Lý Dục trên phương diện chính trị. Điều này không chỉ vì Lý Dục đối kháng, đối kháng còn có thể khiến người ta tôn trọng, mà là Lý Dục trong mắt Triệu Khuông Dẫn căn bản là một nhân vật chính trị dao động, vô tín, âm hiểm, do đó phải dùng thủ đoạn chính trị để khinh miệt và sỉ nhục. Ở điểm này, tính hai mặt của Lý Dục đã khơi dậy tính hai mặt của Triệu Khuông Dẫn.

Thế nhưng, cho đến lúc này, Lý Dục vốn đã không còn là gì trên chính trường, vẫn là nhà văn học nhìn xuống ngàn năm. Chúng ta hãy tùy miệng đọc thuộc bài "Lãng Đào Sa" của ông đi: "Liêm ngoại vũ sàn sàn, xuân ý lan san. La khâm bất nại ngũ canh hàn. Mộng lý bất tri thân thị khách, nhất hướng tham hoan. Độc tự mạc bằng lan, vô hạn giang sơn, biệt thời dung dịch kiến thời nan. Lưu thủy lạc hoa xuân khứ dã, thiên thượng nhân gian." Viết hay thật đấy.

Lại đọc thuộc bài "Ngu Mỹ Nhân" của ông: "Xuân hoa thu nguyệt hà thời liễu, vãng sự tri đa thiểu. Tiểu lâu tạc dạ hựu đông phong, cố quốc bất kham hồi thủ nguyệt minh trung. Điêu lan ngọc sất ứng do tại, chỉ thị chu nhan cải. Vấn quân năng hữu kỷ đa sầu, kháp tự nhất giang xuân thủy hướng đông lưu." Ông giỏi nắm bắt những hình ảnh điển hình nhất, lại giỏi vận dụng những phép ẩn dụ thích hợp nhất, kết quả là một mạch làm thành, một chữ khó thay đổi.

Từ từ của Lý Dục, tôi lại liên tưởng đến việc, khi chưa bại vong, ông từng phái họa sĩ Cố Hoành Trung đi thám thính tình hình cuộc sống của Hàn Hi Tái, kết quả tạo ra "Hàn Hi Tái Dạ Yến Đồ". Xét từ phương diện chính trị, đây là một hành động ngu xuẩn nực cười, nhưng xét từ phương diện văn hóa, lại vô tình ủ nên kiệt tác nghệ thuật.

Điều này xuất phát từ cùng một quy luật với sự ra đời của những tác phẩm từ kiệt xuất của bản thân Lý Dục.

Trải nghiệm của Lý Dục cho chúng ta thấy, nghệ thuật kiệt xuất thường là kết quả của sự chia rẽ nhân cách, thậm chí là bông hoa dại trên mảnh đất hoang chính trị. Những người mọi thứ đều mãn nguyện, rất khó thành công trên phương diện nghệ thuật.

Trải nghiệm của Lý Dục còn cho chúng ta thấy, hậu nhân đừng vì đọc được tác phẩm xuất sắc của tác giả nào đó mà khẳng định và bảo vệ một cách phi thực tế toàn bộ hệ thống hành vi của họ. Nghệ sĩ chỉ là nghệ sĩ, để họ tham gia chính trị rất có thể dẫn đến hỗn loạn hoàn toàn. Chúng ta không thể đẩy thiện cảm và ác cảm trong nghệ thuật sang các lĩnh vực khác. Thi nhân rất lãng mạn, rất tự tin, tưởng rằng mình làm gì cũng được, thực ra sự nghiệp mà họ thực sự có thể làm cũng chỉ là viết thơ mà thôi.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Dư Thu Vũ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.